On The Intellectual Love Towards God In Spinoza’s Ethics (P3)
Đó không phải là một cảm xúc hoan lạc thoáng qua nhưng là một cái tốt vĩnh cửu nằm trong tình yêu trí tuệ dành cho Thượng đế mà nơi đó, ta vượt thắng được những cảm xúc bằng cách suy nghĩ và hình thành nên các ý niệm đầy đủ về nó. Thật vậy, một người với một tình yêu trí tuệ sẽ cố gắng hết sức để đạt được tri thức về các phẩm tính để một khi đạt được sự tự do thực sự, người ấy tri nhận được sự nhỏ bé của mình trong một tổng thể vô hạn là chính Thượng đế. Vì cùng đích của cuộc đời là được trở về với Thượng đế trong sự hiểu biết và tình yêu tròn đầy nhất nên người ấy sẽ tri nhận được chính mình trong trật tự tự nhiên, dựa trên sự hiểu biết về yếu tính vô hạn và vĩnh cửu của Thượng đế. “Ai hiểu bản thân và cảm xúc của mình thì yêu mến Thượng đế, và càng làm như vậy, người ấy càng hiểu rõ bản thân và cảm xúc của mình hơn” (Vp15).
Tiếp theo từ Phần 2
2.Tình Yêu Trí Tuệ của Tinh thần dành cho Thượng đế
2.1. Nhận biết bản thân
Qua những mệnh đề trước về những tác động của lý trí trên cảm xúc, người đọc có thể thấy rằng ta thường ở trong tình trạng khó khăn khi lý trí cố gắng dò dẫm nhằm chấm dứt những chi phối của cảm xúc và mong muốn vươn đến cái trật tự trí tuệ. Đối với Spinoza, khi suy tư về cái chết, ông khắc họa cái nhìn của người khôn ngoan như sau: “Người tự do ít nghĩ đến cái chết, và nơi người ấy, sự khôn ngoan suy ngẫm về cuộc sống chứ không phải về cái chết” (IVp67). Vì người tự do coi việc sống trọn cuộc đời là nhằm gìn giữ phẩm tính nơi mình nên điều xâm chiếm tinh thần người ấy không phải là cái chết hay điểm cuối của cuộc sống thế gian nhưng ngược lại, người ấy tập trung vào bản năng phần thượng là cái thiết lập nên yếu tính và tri thức tạo nên phẩm tính. Trong quá trình tận hưởng acquiescentia về lý trí, điều mà người ấy nghĩ đến là chính năng lực của mình.[46]
Người tự do không thể không nhận ra tính phải chết của phận người. Một phần tri thức đầy đủ của người ấy bao gồm sự hiểu biết về vị trí của mình trong Thiên nhiên tiết lộ cho người ấy thấy rằng người ấy chỉ là một dạng thức hữu hạn hiện hữu trong một tổng thể vô hạn. Trên thực tế, con người không bao giờ có thể là nguyên nhân duy nhất cho hoạt động của mình nên không ai có thể có được một tự do hoàn toàn. Spinoza chỉ ra rằng phạm vi năng lực của con người là cực kỳ hạn chế. Tuy nhiên, Spinoza không rơi vào sự lạc quan thái quá và cũng không bi quan một cách nông cạn khi nhìn về thực tại thế giới này. Đối với Spinoza, thế giới này chẳng tồi tệ hơn mà cũng chẳng tốt đẹp hơn tất cả các thế giới có thể có đối với con người. Mặc dù con người không thể thay đổi hoàn toàn tình trạng xấu xa của mình, nhưng chúng ta có thể cải thiện tình trạng ấy. Sự khôn ngoan của triết học bao gồm việc nhận ra thực tế này và khám phá ra những cách thức và phương tiện để mang lại sự tốt đẹp.[47]
Người tự do không sợ hãi và người ấy không bị nuốt chửng bởi sự kiêu ngạo vô bờ bến của nỗi sợ hãi. Người ấy không mang trong mình một lương tâm đầy bất ổn luôn cho rằng tất cả các sự kiện bất thường là điềm dự báo của một tai họa bởi một vị thần nào đó. Khi đặt mình trong vũ trụ, người tự do thấy và tri nhận rằng con người mình là cực kỳ tầm thường. Khi phải đối mặt với cái vĩnh hằng vô hạn, dù là tình yêu hay thù hận, niềm vui hay nỗi buồn thì hết thảy đều là những chấm nhỏ trong một bức tranh bất tận. Bản chất con người chỉ là một phần nhỏ hữu hạn của Thiên nhiên tuyệt đối vô hạn. Do đó, cái ta đang sống chỉ là một biểu hiện rất nhỏ của cuộc sống vô hạn. Những kẻ tự phụ nghĩ rằng Thiên nhiên được tạo ra để phục vụ cho những nhu cầu và đòi hỏi của mình. Tuy nhiên, người tự do biết và trân nhận những thực tại đang có với một trái tim nồng ấm và mạnh mẽ. Người ấy chiêm ngưỡng bản thân mình trong vũ trụ một cách hạnh phúc và không hề sợ hãi. Người tự do hiểu chính mình vì tình yêu của người ấy giống như sự thờ phượng bắt nguồn từ tri thức về Thượng đế.[48]
Người tự do luôn có Thượng đế ở bên. Nói đúng hơn, Thượng đế luôn dẫn dắt người ấy đi đúng con đường của mình. Bởi vì mọi sự vật đều ở trong và được nhận thức bởi Thượng đế, nên ý niệm đầy đủ về bất cứ thứ gì đều tiết lộ mối quan hệ thực sự của nó với Thượng đế và với các nguyên tắc tối thượng của Thiên nhiên tuân theo các thuộc tính của Thượng đế. Ý niệm về sự vật bên ngoài mang đến những cảm xúc do đó, nó nhận thức trong ý niệm bản thân xét như một bản thể vĩnh cửu vô hạn. Khi xem xét loại tri thức này thông qua tri thức rõ ràng và biện biệt về những cảm xúc của thân xác và tinh thần, thì một tri thức về những cảm xúc này có thể được xem là các dạng thức khác nhau của Thượng đế.
Những tri thức này cho thấy sự gia tăng đáng kể năng lực của tinh thần với biểu hiện là một kinh nghiệm hoan hỷ. Nếu một người coi ý niệm về Thượng đế là nền tảng tối hậu của tri thức thì sự hiểu biết sâu sắc về tinh thần và thân xác của người ấy cũng như cảm xúc của chúng tất yếu phải có tình yêu dành cho Thượng đế. “Ai hiểu bản thân và cảm xúc của mình thì yêu mến Thượng đế, và càng làm như vậy, người ấy càng hiểu rõ bản thân và cảm xúc của mình hơn” (Vp15).
2.2.Nhận biết Thượng đế
Chúng ta có thể hiểu được yếu tính vĩnh cửu của Thượng đế bởi vì chính bản chất của lý trí nhìn thấy mọi sự vật dưới dạng vĩnh cửu. Chúng ta có thể hiểu được yếu tính vô hạn của Thượng đế bởi vì mỗi sự vật hữu hạn cụ thể là một diễn tả xác định của cái vô hạn. Luật nhân quả ràng buộc giữa nhân và quả phải có sự đồng nhất về bản chất, nếu không sẽ dẫn hệ quả là một sự vật nào đó có thể được hình thành từ hư không. Vì nhân và quả thuộc cùng một phạm trù hiện hữu, cùng một thuộc tính của Thiên nhiên, nên khi chúng ta hiểu được yếu tính của một sự vật cụ thể, chúng ta tất yếu phải hiểu được yếu tính vô hạn của thuộc tính đó của Thiên nhiên.
Trên thực tế, tri thức về cái vô hạn thường được kinh nghiệm rõ nét nhất không phải trong tôn giáo mà là trong nghệ thuật.[49] Đối với người nghệ sĩ, sức mạnh ngây ngất của cái đẹp khiến tâm hồn mất hết cảm giác về thời gian và không gian, và nơi một đối tượng cụ thể, linh hồn nhìn thấy một ý nghĩa vô hạn. Người ta thường cho rằng đối tượng nghệ thuật càng cụ thể và giới hạn thì ý nghĩa tuyệt đối hay vô tận đằng sau đối tượng nghệ thuật ấy càng được khắc họa một cách rõ nét hơn. Những bức tranh thuộc trường phái ấn tượng thường sẽ truyền tải thực tại tuyệt đối một cách rõ nét hơn những bức hình chụp. Một cách rõ ràng, thực tại này hiện diện nơi những đặc trưng tương tự như sự lĩnh hội thẩm mỹ trong những viễn tượng thần bí. Những viễn tượng này cực kỳ hiếm và chỉ xuất hiện thoáng chốc, nhưng trong một khoảnh khắc chúng ta thấy vĩnh cửu, và trong cái hữu hạn chúng ta thấy cái vô hạn. Đó là lý do tại sao Spinoza nói rằng chúng ta càng hiểu biết các sự vật cụ thể thì chúng ta càng hiểu biết Thượng đế hơn. Để vượt qua tình yêu Thượng đế trong thời gian là điều mà người ta phải tích cực theo đuổi và có thể đạt được dần dần theo thời gian, thì một tình yêu Thượng đế vĩnh cửu tất yếu phải thuộc về tinh thần xét theo bản chất của nó.
Tri thức đầy đủ và bẩm sinh của chính tinh thần về bản chất của nó, xét như một dạng thức của tư tưởng, tiết lộ mối quan hệ nhân quả thực sự và vĩnh cửu của nó với Thượng đế. Tinh thần coi năng lực của nó chỉ là một biểu hiện hữu hạn của năng lực của bản thể vô hạn đó. “Trong chừng mực tinh thần con người nhận biết về chính nó và về thân xác dưới một loài vĩnh cửu, thì nó tất yếu phải có tri thức về Thượng đế, và biết rằng nó hiện hữu trong Thượng đế và được nhận thức ngang qua Thượng đế” (Vp30). Nói cách khác, tinh thần nhận thức về chính nó ngang qua loại tri thức thứ ba là loại tri thức “bắt nguồn từ một ý niệm đầy đủ về yếu tính hình thức của các thuộc tính nơi Thượng đế đến tri thức đầy đủ về yếu tính của sự vật” (IIp40 Note II).[50]
Tinh thần có tri thức trực quan về chính nó xét như một hữu thể hiện hữu và phát xuất từ Thượng đế bất luận điều gì xảy đến nơi thân xác và tinh thần trong kỳ gian, nghĩa là trong sự tương tác với những sự vật khác. Trên thực tế, tri thức này là những gì tinh thần là. Xét như một phẩm tính cao nhất và hoàn bị nhất của tinh thần, tri thức này cũng là một niềm hoan lạc tột bậc. Bởi vì niềm hoan lạc bao gồm sự hiểu biết, và bởi vì Thượng đế được xét như là nguyên nhân của sự hiểu biết này cũng như năng lực và sự hoàn bị của tinh thần, nên ta có thể thấy rằng nguyên nhân thực sự của niềm hoan lạc là chính Thượng đế. Như vậy, ta có thể nhận biết Thượng đế và yêu Thượng đế.[51]
2.3.Thượng đế yêu chính mình
Từ loại tri thức thứ ba, tất yếu phải nảy sinh một tình yêu trí tuệ dành cho Thượng đế (Amor Dei intellectualis), bởi vì từ loại tri thức này, một niềm vui được nảy sinh cùng với ý niệm về Thượng đế xét như là nguyên nhân của chính nó, tức là tình yêu dành cho Thượng đế, không phải trong chừng mực chúng ta hình dung về Ngài xét như một hiện hữu nhưng trong chừng mực chúng ta hiểu được Thượng đế là vĩnh hằng. Và đây là điều người viết gọi là tình yêu trí tuệ dành cho Thượng đế.
Tình yêu trí tuệ dành cho Thượng đế là tình yêu “tất yếu phải tuân theo bản chất của tinh thần trong chừng mực nó được coi là chân lý vĩnh cửu, ngang qua bản chất của Thượng đế” (Vp37). Tri thức trực quan của tinh thần về những yếu tính vĩnh cửu của thân xác và của chính tinh thần liên hệ đến việc nhận thức mối quan hệ của mỗi yếu tính ấy với yếu tính của Thượng đế. Tri thức này cũng là yếu tính vĩnh cửu của tinh thần. Do đó, không giống như các tình yêu khác, tình yêu trí tuệ dành cho Thượng đế thì vĩnh cửu. Nó không phải là vấn đề của một niềm hoan lạc phát sinh từ việc chuyển đổi một mãnh lực hoặc ý niệm không đầy đủ thành một ý niệm đầy đủ. Các chuyển đổi ấy là một tiến trình xảy ra trong kỳ gian. Trong tình yêu trí tuệ dành cho Thượng đế, không có con đường nào để đi từ tình trạng thấp hơn đến tình trạng siêu vượt. Những ý niệm về thân xác và tinh thần liên quan đến tình yêu trí tuệ dành cho Thượng đế thì vĩnh cửu, và do đó, tri thức và tình yêu theo sau đó cũng vĩnh cửu. “Tình yêu trí tuệ dành cho Thượng đế nảy sinh từ loại tri thức thứ ba thì vĩnh cửu[52]” (Vp33) và “tinh thần có cùng sự hoàn bị vĩnh cửu mà ta xét như là phát sinh từ nó, và sự hoàn bị này được bổ trợ bởi ý niệm về Thượng đế xét như một nguyên nhân vĩnh cửu” (Vp33 Note). Mặc dù tri thức này cùng niềm vui và tình yêu vĩnh cửu mà nó tạo ra thường bị che khuất nơi con người bởi sự tấn công dữ dội của những ý niệm hỗn loạn đang xâm chiếm tinh thần, Spinoza vẫn nhấn mạnh rằng “tinh thần của chúng ta, trong chừng mực nó còn liên quan đến yếu tính của thân xác dưới một loài vĩnh cửu, thì vĩnh cửu, và sự hiện hữu của nó không thể được định nghĩa bởi thời gian hay được giải thích bởi kỳ gian” (Vp23 Note). Nguồn gốc tối hậu của con người là Thượng đế, và cùng đích của cuộc đời là được trở về với Thượng đế trong sự hiểu biết và tình yêu tròn đầy nhất. Thượng đế là sự khởi đầu và kết thúc thực sự của mọi tư tưởng. Tình yêu trí tuệ dành cho Thượng đế không đòi hỏi phải có tri thức nền tảng về sự kết nối của các sự vật trong vũ trụ mà chỉ có người toàn tri mới biết được. Tình yêu trí tuệ dành cho Thượng đế chỉ phụ thuộc vào sự hiểu biết về trật tự của Thiên nhiên, dựa trên sự hiểu biết về yếu tính vô hạn và vĩnh cửu của Thượng đế. Spinoza đã chỉ ra rằng những tri thức ấy nằm trong tầm hiểu biết của chúng ta.
3.Niềm hạnh phúc của con người
3.1. Acquiescentia xét như sự thỏa mãn tinh thần bởi ý thức về Thượng đế
Spinoza đưa ra nhận xét của mình về tinh thần như sau: “Loại tri thức thứ ba phụ thuộc vào tinh thần, xét như là nguyên nhân mô thể của nó, trong chừng mực tinh thần là vĩnh cửu” (Vp31). Theo đó, Vp31 nên được hiểu như sau: Loại tri thức thứ ba phụ thuộc vào tinh thần, trong chừng mực tinh thần có những ý niệm thuộc loại thứ ba. Nói tóm lại, tinh thần có thể hình thành những ý niệm trực quan về yếu tính của những sự vật cụ thể bởi vì nó đã sở hữu những ý niệm đó rồi.
Tri thức về một sự vật nào đó luôn là tri thức về biến đổi thân xác bởi một số đối tượng bên ngoài. Tri thức về sự biến đổi như vậy là tri thức về đối tượng bên ngoài và thân xác của tinh thần, cũng như sự tự tri thức của tinh thần. Các ý niệm trực giác này cũng được tìm thấy trong mệnh đề Vp30, là nơi Spinoza nói về tri thức của tinh thần về chính nó, về thân xác và mọi sự vật dưới một loài vĩnh cửu, và cũng trong Vp42, là nơi ông ta nói rằng khi liên hệ đến mọi sự vật một cách trực giác, con người có ý thức về bản thân, về Thượng đế và mọi vật bởi tính tất yếu vĩnh cửu.
Loại tri thức thứ ba trong tác phẩm Spinoza thường được biết đến như là một tri thức trực quan hay là tri thức một cách trực tiếp về Thượng đế[53] và cách thế để mọi sự vật tuân theo tính tất yếu từ bản chất của Thượng đế. Những gì nhận biết được ngang qua dạng tri thức trực quan này là chính sự hiện hữu ở trong Thượng đế của mỗi sự vật cụ thể: “Trong chừng mực tinh thần con người hiểu biết về chính nó và thân xác dưới một giống loài vĩnh cửu, nó tất yếu phải có tri thức về Thượng đế và nhận biết rằng nó hiện hữu ở trong Thượng đế và được nhận thức ngang qua Thượng đế” (Vp30). “Hiện hữu ở trong Thượng đế” là nguyên tắc cơ bản trong nền tảng siêu hình của Spinoza mà người viết đã đề cập ở chương đầu tiên trong bài viết. Nhờ đó, chúng ta biết rằng chúng ta đang ở trong Thượng đế, và Ngài ở trong chúng ta. Acquiescentia thuộc loại tri thức thứ ba được cấu thành bởi ý thức về Thượng đế, và nó có liên hệ một cách mật thiết với tình yêu trí tuệ dành cho Thượng đế mà nơi đó, ý thức thần linh và ý thức con người cùng cảm xúc hân hoan đan quyện vào nhau. “Sự thỏa mãn tột bậc của tinh thần (mentis acquiescentia) có thể nảy sinh từ loại tri thức thứ ba này” (Vp27). Dường như Spinoza không phân biệt acquiescentia ở loại tri thức thứ ba với loại tri thức thứ hai khi đề cập về chúng trong các mệnh đề của ông. Tuy nhiên, ta có thể dễ dàng thấy rằng Acquiescentia loại tri thức thứ ba phân biệt với loại tri thức thứ hai ở mối liên hệ của nó với Thượng đế. “Người hiểu biết mọi sự vật bằng loại tri thức này sẽ đạt đến tình trạng hoàn bị lớn nhất; bởi thế, người ấy sẽ được tác động bởi niềm vui tột bậc cùng ý niệm về bản thân và phẩm tính” (Vp27 Proof). Như vậy, acquiescentia loại tri thức thứ ba đi kèm với cả ý niệm về Thượng đế lẫn ý niệm bản thân. Ý niệm về Thượng đế xét như là nguyên nhân của nó, tức là tình yêu dành cho Thượng đế, không phải trong chừng mực chúng ta hình dung về Ngài như hiện tại (theo Vp29) nhưng trong chừng mực chúng ta hiểu Thượng đế là vĩnh hằng. Cảm xúc của acquiescentia và tình yêu ấy có thể phân biệt với nhau được vì cảm xúc của acquiescentia là niềm vui đi kèm với ý niệm về nguyên nhân nội tại (tức là ý niệm về bản thân), trong khi tình yêu dành cho Thượng đế là niềm vui đi kèm với ý niệm về nguyên nhân ngoại tại (tức là ý niệm về một sự vật khác). Ý niệm về bản thân và ý niệm về Thượng đế là tri thức trực quan được đưa ra dưới một ý niệm duy nhất: ý niệm về bản thân xét như hiện hữu trong Thượng đế, và ý niệm về bản chất của Thượng đế xét như chứa đựng và thể hiện một hữu thể đơn nhất. Ý niệm đơn nhất này là một nhận thức ngay lập tức về sự hiện hữu trong Thượng đế.
Spinoza còn chỉ ra thêm rằng “Tình yêu trí tuệ của tinh thần đối với Thượng đế là chính tình yêu của Thượng đế mà Thượng đế yêu chính mình” (Vp36). Tình yêu này của tinh thần ắt phải liên hệ đến các hành động của tinh thần mà nơi đó, có một hành động tinh thần đang chiêm ngắm chính nó cùng với ý niệm về Thượng đế xét như là nguyên nhân. Cho dù tình yêu này có liên quan đến Thượng đế hay liên quan đến tinh thần thì nó vẫn có thể được xem là sự thỏa mãn của tinh thần vì trong chừng mực nó liên quan đến Thượng đế thì nó còn là niềm vui cùng với ý niệm về Thượng đế xét như là nguyên nhân. Cũng vậy, trong chừng mực tình yêu này liên quan đến tinh thần thì dù tình yêu trí tuệ dành cho Thượng đế có thể được phân biệt về mặt khái niệm với acquiescentia thuộc loại tri thức thứ ba, nhưng nếu xét về mặt hiện tượng thì chúng không thể tách rời. Một cách chung, cả hai đều là niềm vui phát sinh từ ý niệm của một người đang hiện hữu trong Thượng đế. Ta có thể nói rằng acquiescentia của loại tri thức thứ ba và tình yêu trí tuệ dành cho Thượng đế kết hợp với nhau để tạo thành chiều kích cảm xúc của loại tri thức thứ ba này.
Chúng ta có thể thấy rằng sự tĩnh tại của acquiescentia loại tri thức thứ hai không phải là tình trạng bất động nhưng là một tình trạng ổn định, trái ngược với sự bất ổn của loại tri thức thứ nhất. Tình trạng này là sự bình an của tinh thần, được phản chiếu bởi trạng thái cân bằng trong thân xác. Tình trạng ổn định này là điều kiện tiên quyết để đạt được loại tri thức thứ ba theo quan điểm của Spinoza. Ta có thể thấy rằng trong khi acquiescentia thuộc loại tri thức thứ hai liên quan đến tình trạng ổn định trong thời gian, thì acquiescentia thuộc loại tri thức thứ ba liên quan đến sự tĩnh tại vĩnh cửu. Loại acquiescentia này gắn liền với sự vĩnh cửu khi Spinoza mô tả: “Người khôn ngoan chẳng bao giờ bị lay động nơi tâm hồn vì người ấy luôn ý thức về bản thân, về Thượng đế và về các sự vật bằng một tính tất yếu vĩnh cửu. Người ấy không bao giờ ngừng hiện hữu và luôn tận hưởng sự thỏa mãn thực sự nơi tinh thần” (Vp42 Note). Acquiescentia thuộc loại tri thức thứ ba liên hệ đến những gì còn lại nơi tinh thần sau khi thân xác tan biến. Chúng ta có thể xem xét mối liên hệ này với tính vĩnh cửu định hình nên acquiescentia thuộc loại tri thức thứ ba, và ngược lại, acquiescentia đưa ra một dấu hiệu về cách thế hoạt động của cuộc sống vĩnh cửu như thế nào. Chúng ta nhận thấy và biết bằng kinh nghiệm rằng chúng ta là vĩnh cửu, vì bởi sự bình an và tĩnh tại liên tục đặc trưng cho acquiescentia của loại tri thức thứ ba là chính cảm giác vĩnh cửu.
Người tự do vượt lên trên việc chỉ sống theo mệnh lệnh của lý trí và thực sự đạt được loại tri thức thứ ba là nhìn thấu bằng trực giác cách mà yếu tính của mọi sự vật tuân theo yếu tính của Thượng đế. Người ấy sẽ hiểu rằng thực tế là năng lực của chính mình khơi nguồn từ một vị trí cao hơn là chính Thượng đế. Tri thức của người ấy về bản thân và năng lực ý chí của người ấy tất yếu sẽ bao gồm tri thức về cách mà người ấy, chứ không phải dạng thức mà cũng chẳng phải năng lực, làm cho người ấy trở thành một phần hữu hạn của năng lực Thiên nhiên vô hạn. Người tự do biết về chính mình ngang qua loại tri thức thứ ba và do đó người ấy sẽ yêu mến Thượng đế xét như là nguyên nhân vĩnh cửu tạo nên năng lực trí tuệ của bản thân.[54]
Thông qua tất cả các thao tác nhận thức bao gồm việc sắp xếp và kết nối các biến đổi của thân xác theo một trật tự trí tuệ (Vp10) và hiểu được bản thân tinh thần thông qua loại tri thức thứ ba (Vp15), người ta có thể chống lại một cách hiệu quả những mãnh lực và năng lực cảm xúc trong các ý niệm của lý trí. Spinoza đưa ra lưu ý rằng: “Bằng khả năng sắp xếp và kết nối các biến đổi một cách đúng đắn, chúng ta có thể thấy rằng chúng ta không dễ bị tác động bởi những cảm xúc xấu xa. Ta cần một tác động lớn hơn để giữ những cảm xúc được sắp xếp và kết nối theo trật tự trí tuệ so với việc cứ để cho chúng lộn xộn và không chắc chắn. Điều tốt nhất mà chúng ta có thể hiện thực hóa, ngay khi chúng ta không có tri thức hoàn bị về cảm xúc của mình, là nhận thức một số cách sống đúng đắn hoặc một số quy tắc sống nhất định, ghi nhớ chúng và áp dụng chúng liên tục cho các sự vật cụ thể là những thứ thường xuyên đến với chúng ta trong cuộc sống” (Vp10 Note). Nhờ vào tri thức có được bởi những ý niệm đầy đủ là một thứ tri thức hoàn bị về mặt cảm xúc và yếu tính của tinh thần, người tự do xây dựng một bức tường cảm xúc chống lại sức mạnh của những mãnh lực. Ở mức độ mà một cá nhân tiến gần đến điều kiện lý tưởng này, người đó sẽ trở nên năng động, mạnh mẽ, lý trí, đức độ và tự do hơn.[55]
Ba loại acquiescentia biểu thị ba phẩm chất khác nhau của tư tưởng: tư duy bất ổn, hỗn loạn, lo lắng của sự tưởng tượng và quan điểm; tư duy ổn định, có trật tự của lý trí; và tư duy trực giác hiểu mọi sự vật ngay lập tức như chúng hiện hữu trong Thượng đế. Tư duy diễn ra ở loại tri thức thứ hai là một quá trình suy luận theo dõi từng bước các mối liên hệ logic giữa các ý niệm và mối liên hệ nhân quả giữa các sự vật. Loại tư duy trực quan này chắc chắn là một hoạt động chứ không phải là một tiến trình. Trong khi acquiescentia thuộc loại thứ ba mang lại sự an tĩnh và bình an sâu sắc nhất, nó cũng thể hiện mức độ hoạt động và phấn đấu cao nhất. Spinoza nói rằng “phẩm tính cao nhất của tinh thần, tức là năng lực của tinh thần, hay phấn đấu lớn nhất của nó, là hiểu mọi sự vật bằng loại tri thức thứ ba”. Spinoza còn khẳng định rằng “acquiescentia tột bậc có thể nảy sinh từ loại tri thức này”. Cũng giống như sự an tĩnh của acquiescentia thuộc loại thứ ba được kết nối với ý thức về sự vật xét như hiện hữu trong Thượng đế, khía cạnh tùng phục của acquiescentia liên hệ đến tính tất yếu về bản chất của Thượng đế mà acquiescentia tột bậc coi những điều này như những luật thần linh.
Acquiescentia thuộc loại thứ hai làm cho sự tùng phục trở nên nội tại và tự trị.[56] Chính ở acquiescentia thuộc loại thứ ba, nơi mà sự phụ thuộc của một người vào Thượng đế là chân lý cốt lõi được nắm bắt trong tri thức trực quan, thì sự tự do cao nhất của con người mới được tìm thấy. Trong chừng mực đây là “tự do của con người” – như tiêu đề phần V tác phẩm Ethics đã chỉ ra – nó thông dự vào tự do thần linh. “Thượng đế hành động theo các quy luật tự bản chất của Ngài, và không bị ai ép buộc”, và “Duy chỉ một mình Thượng đế là nguyên nhân tự do, vì chỉ một mình Thượng đế hiện hữu từ sự tất yếu về bản chất của Ngài”. Tuy vậy, con người vẫn có thể ước chừng sự tự do tất yếu này thông qua acquiescentia, “hữu thể, bởi tính tất yếu vĩnh cửu, ý thức về bản thân, về Thượng đế, và các sự vật”.
3.2.Cái tốt vĩnh cửu về trí tuệ
Theo Spinoza, lý trí không phải là năng lực cấu thành đời sống con người nhưng nó là một nguyên lý điều tiết. Đối với Spinoza, lý trí không có vị trí hay năng lực siêu việt, và nó không giữ một vai trò độc tài nào cả. Lý trí về cơ bản là một năng lực tổ chức, không phải là năng lực thiết lập quy tắc trong cuộc sống con người. Đối với Spinoza, lý trí là mang tính tái cấu trúc chứ không mang tính cấu trúc. Năng lực của trí tuệ không phải là một năng lực độc lập, nguyên sơ, không xác thực, hoặc có thể đặt chồng chất các mệnh lệnh mang tính nhất thiết của nó lên hành vi của con người. Năng lực của trí tuệ hoàn toàn mang tính phái sinh, phụ thuộc vào bản chất của sự vật mà nó hiểu được.[57]
Lý trí mang lại cho con người năng lực và cái nhìn sáng suốt để tổ chức cuộc sống của mình trên cơ sở tri thức, để lựa chọn một cùng đích hài hòa với bản chất của mình, và để lựa chọn cùng kiểm soát các phương tiện. Để mưu cầu một cuộc sống hạnh phúc, đối tượng mà chúng ta phải hiểu chính là chính chúng ta, bởi vì tất cả những gì hỗ trợ cho cuộc sống cao quý đều nằm ở bên trong. Khi chúng ta trở thành những thụ tạo có ý thức về bản chất thiên phú của mình, chúng ta sẽ không còn là những công cụ mù quáng của bản chất nhưng sẽ trở thành những tác nhân lý trí, vì trí tuệ chủ yếu nằm ở việc biết chúng ta là gì và hiểu những gì chúng ta có thể làm.
Một người điều hành cuộc sống của mình theo mệnh lệnh của lý trí sẽ cố gắng trong chừng mực có thể, để hài hòa những lợi ích xung đột của mình. Người ấy sẽ cân bằng một cách khách quan giữa lợi ích tương lai với lợi ích hiện tại, rồi đưa ra quyết định dựa trên nền tảng rộng lớn của tất cả các nhu cầu mình có. Người ấy đáp ứng tối đa chứ không phải tối thiểu những mong muốn của mình, đánh giá chúng không chỉ bằng số lượng mà bằng chất lượng và thời lượng. Vấn đề đạo đức thực sự của con người là bảo đảm một cái tốt vĩnh cửu thay vì một cái tốt nhất thời; một cái tốt bao hàm hơn thay vì một cái tốt bị hạn chế hơn. Về mặt đạo đức, liệu một cái tốt trí tuệ thì vĩnh cửu nhiều hơn hay ít hơn, bao hàm hơn hay hạn hẹp hơn, giá trị hơn hay kém giá trị so với một cái tốt về giác quan?
Theo Spinoza, một lợi ích trí tuệ vĩnh cửu có tầm quan trọng và giá trị hơn là vô số những thú vui giác quan nhất thời. Đối tượng vĩnh cửu nhất về đặc tính và lớn nhất về giá trị là chính Thượng đế. Do đó, phẩm tính cao nhất của tinh thần, hạnh phúc cao nhất của con người chủ yếu nằm trong tình yêu trí tuệ dành cho Thượng đế. Như thế, Spinoza chuyển từ đạo đức sang tôn giáo, mà trong tư tưởng của ông chúng gần như hòa quyện với nhau một cách rất tinh tế.
Niềm vui của tri thức chân xác là một niềm vui tột bậc, và tình yêu Thượng đế theo sau đó là cảm xúc mạnh mẽ nhất mà tinh thần con người có thể kinh nghiệm. Tình yêu trí tuệ dành cho Thượng đế là “cảm xúc liên tục nhất trong mọi cảm xúc” (Vp20 Note), và tình yêu này cấu thành “sự thỏa mãn lớn nhất của tinh thần (acquiescentia mentis)”. Thật vậy, tình yêu trí tuệ dành cho Thượng đế không thể bị khuất phục hay bị tiêu diệt. Người tự do biết rằng năng lực và sự hoàn bị của tinh thần phát xuất từ Thượng đế, còn tình yêu trí tuệ dành cho Thượng đế cũng là vũ khí mạnh mẽ nhất mà người ấy có để chống lại những mãnh lực.
3.3.Phẩm tính và đời sống đạo đức
Theo Spinoza, cuộc sống của người tự do sẽ không phải là một cuộc sống bình thản không chút thăng trầm. Ngược lại, người tự do cũng phải trải qua nhiều cảm xúc đặc trưng cho sự hiện hữu của con người, bao gồm cả niềm vui và cả những nỗi buồn. Tuy nhiên, người tự do làm nên sự khác biệt so với những người khác ở chỗ họ không bao giờ để nỗi buồn của mình trở nên thái quá và lấn át cuộc sống của mình. Một người kém tự do đôi khi sẽ phản ứng với sự tổn thương và nỗi buồn bằng sự căm ghét, tức giận, đố kỵ hoặc báo thù. Một người kém tự do hơn nữa sẽ đắm chìm trong niềm kiêu ngạo và sự chán chường. Ngược lại, một người có phẩm tính đầy lý trí sẽ duy trì sự tĩnh tại và bình an trong tinh thần. Hạnh phúc của người ấy không hệ ở một cuộc sống không chút thăng trầm, mà là một cuộc sống mà người ấy kiểm soát các cảm xúc và hành vi của chính mình một cách có ý thức. Người ấy sẽ phản tư một cách vui vẻ khi nhìn về cuộc sống của mình và luôn thỏa mãn với bản thân, không phải bởi lời ca ngợi của kẻ khác, nhưng bởi vì người ấy nhận biết chính bản thân mình.[58]
Người có phẩm tính lý trí sẽ yêu mến cuộc sống và không hề sợ cái chết. Người ấy theo đuổi những gì tốt đơn giản vì nó tốt. Người ấy làm những gì người ấy làm bởi điều người ấy biết, chứ không phải bởi cách sự vật xảy ra tác động lên cảm xúc người ấy. Người ấy sẽ gặt hái những lợi ích từ tri thức và tránh bất cứ điều gì mang đến nỗi buồn hoặc cản trở con đường kiên trì phát triển phẩm tính và sự hoàn thiện trí tuệ. Người ấy sẽ vun đắp các mối quan hệ tích cực và hiệu quả với những người khác và giúp họ tiến tới một cuộc sống triển nở. Tất cả những điều này nằm nơi năng lực, sự tự do và hạnh phúc của người ấy. Nếu một phút nào đó người ấy nghĩ về cái chết trong sự hiện hữu của mình thì người ấy sẽ đối mặt nó với sự tĩnh tại, bình an trong tinh thần và một cảm giác thỏa mãn, mà theo Spinoza, đó là “điều cao quý nhất mà chúng ta có thể mong chờ” (IVp52).[59]
Do đó, việc học biết làm chủ cảm xúc của mình và giải thoát bản thân khỏi sự ràng buộc của những cảm xúc ấy là điều kiện tiên quyết của một tình trạng hạnh phúc bền vững và có lý trí. Theo Spinoza, chìa khóa của phẩm tính là tri thức về bản thân. Chỉ khi hiểu rõ bản thân, chúng ta mới có thể kiểm soát được cảm xúc của mình. Chỉ khi kiểm soát được cảm xúc của mình, chúng ta mới có thể định hướng một cách nhất quán những hoạt động của mình tới một mục tiêu xác định và hợp lý. Hoạt động của chúng ta tuân theo bản chất của chính chúng ta, chứ không tuân theo bản chất của những sự vật bên ngoài là những thứ khơi dậy cảm xúc và ấn định sức mạnh của những cảm xúc ấy. Như vậy, khi ta trở thành nguyên nhân tất yếu cho hoạt động của chính mình, ta được tự do.
Spinoza định nghĩa phẩm tính không bằng các dạng phủ định nhưng bằng các phẩm chất tích cực của con người hay còn được gọi là năng lực con người. Tuy nhiên, phẩm tính là năng lực không hiểu theo nghĩa giá trị lý tưởng ở thời Phục hưng, cũng không hiểu theo nghĩa quyền lực thống trị của một số người, nhưng cần hiểu phẩm tính theo nghĩa năng lực lý tưởng của người Hy Lạp xét như một sự xuất sắc của con người.[60]
Ý nghĩa tôn giáo to lớn của học thuyết của Spinoza về tình yêu trí tuệ dành cho Thượng đế nằm ở chỗ nó thiết lập tôn giáo dựa trên tri thức chứ không phải dựa trên sự vô minh. Phẩm tính của tinh thần là tri thức một cách rõ ràng và biện biệt chứ không phải tin tưởng một cách mù quáng. Không có mâu thuẫn giữa khoa học và tôn giáo nhưng tôn giáo thì dựa trên khoa học. Chỉ có một cuộc xung đột giữa khoa học và mê tín. Những bí ẩn, những phép lạ và những nghi thức ma thuật là những công cụ không phải của tôn giáo mà là của sự mê tín bắt nguồn từ sự sợ hãi vô minh và mù quáng.
Kết luận
Với việc hình thành nên tác phẩm Ethics, Spinoza đã đưa đến cho độc giả của ngài một cách nhìn mới về thực tại, về bản chất của tinh thần luôn hướng đến niềm hạnh phúc tròn đầy là acquiescentia xét như sự thỏa mãn của tinh thần bởi ý thức về Thượng đế. Từ nền móng siêu hình về Thượng đế hay Thiên nhiên, Spinoza cho thấy rằng mọi sự vật đều phát xuất từ tính tất yếu của bản chất thần linh nơi Ngài. Nhờ đó, con người có cơ sở cho sự hiện hữu của mình xét như một dạng thức hữu hạn diễn tả mối quan hệ tất yếu với Ngài. Từ đây, con người trở thành một phần của Thượng đế và hướng về Ngài bằng một tình yêu trí tuệ.
Tình yêu trí tuệ này có thể được xem là lòng sùng kính xóa bỏ mọi sợ hãi, mọi hối tiếc và cả những hy vọng hão huyền của phận người. Thật vậy, với tình yêu trí tuệ, chúng ta nhận thức một cách rõ ràng và biện biệt các cảm xúc hầu có thể điều phối chúng theo một trật tự tinh thần. Giờ đây, những cảm xúc hỗn loạn cùng nỗi buồn không còn làm cho con người chùn bước nữa, nhưng bao lâu ta còn ý thức rằng ta là một phần của Thiên nhiên với những quy luật của nó, thì trí hiểu của ta sẽ bằng lòng với những sự đang có. Vì bao lâu ta còn hiểu các sự vật, ta sẽ chẳng ước muốn điều gì hơn ngoài những gì tất yếu và chẳng ưng thuận điều gì ngoài cái chân thật. Khi ấy, con người tự do được sinh ra không phải để khóc cũng không phải để cười, mà để nhìn mọi sự vật với lòng kiên định về bản chất vĩnh cửu và sự tĩnh tại nơi tinh thần. Chính tri thức làm cho con người được tự do, phá vỡ những gông cùm hữu hạn khỏi tâm hồn người ấy, giúp người ấy có thể nắm lấy cái vô hạn và chiếm hữu sự vĩnh cửu.
Một khi con người nhận thức được giá trị nhỏ bé của bản thân, người ấy sẽ tìm thấy giá trị hùng vĩ của vũ trụ. Thật vậy, khi để chính mình đi vào trong trật tự của Thiên nhiên hoặc Thượng đế, người ta mới có thể thoát khỏi sự khốn cùng của cái hữu hạn và tìm thấy sự trọn vẹn tột cùng và sự cứu rỗi của cuộc đời mình. Người ấy biết mình tầm thường thế nào trong trật tự của Thiên nhiên đến mức trong cái tầm thường của bản thân, trật tự vĩnh cửu và vô hạn của Thiên nhiên được biểu lộ nơi một tinh thần khao khát. Trong cái hữu hạn, ta tìm thấy cái vô hạn, và trong cái tạm thời, cái vĩnh cửu được vén mở.
Spinoza đã khép lại tác phẩm của mình bằng đoạn kết như sau: “Người khôn ngoan, trong chừng mực mà người ấy được coi là như vậy, hiếm khi bị lay chuyển trong tinh thần. Người ấy ý thức về chính mình, về Thượng đế, và về mọi sự vật theo một tính tất yếu vĩnh cửu. Người ấy không bao giờ ngừng hiện hữu và luôn luôn vui hưởng sự thỏa mãn nơi tinh thần. Khi con đường tôi vạch ra để dẫn đến niềm hạnh phúc này trở nên quá khó khăn, thì dường như nó vẫn chưa được khám phá đúng nghĩa. Một cách rõ ràng, điều này ắt phải rất gian nan vì hiếm kẻ tìm được niềm hạnh phúc ấy. Vì lẽ gì mà nhiều người lại hầu như lãng quên con đường này, khi sự cứu rỗi đã gần kề?” (Vp42 Note).
Nguồn: https://sjjs.edu.vn/
Bibliography
Allison, Henry E. Benedict de Spinoza: An Introduction. Yale University Press, 1987.
Donagan, Alan. Spinoza. Chicago: The University Of Chicago Press, 1988.
Garrett, Don. The Cambridge Companion to Spinoza. Cambridge University Press, 1995.
Kisner, Matthew J. Spinoza on Human Freedom: Reason, Autonomy and the Good Life. Cambridge University Press, 2011.
LeBuffe, Michael. From Bondage to Freedom: Spinoza on Human Excellence. Oxford University Press, 2010.
Lechman, Devra. Spinoza The Outcast Thinker. South Hampton: Namelos, 2014.
Mason, Richard. The God Of Spinoza – A Philosophy Study. Cambridge: Cambridge University Press, 1999.
Matheron, Alexandre. Politics, Ontology and Knowledge in Spinoza. Edinburgh University Press, 2020.
Nadler, Steven. Think Least of Death: Spinoza on How to Live and How to Die. Princeton University Press, 2020.
Ratner, Joseph. The Philosophy Of Spinoza. New York: Random House, 1926.
Renz, Ursula. The Explainability of Experience: Realism and Subjectivity in Spinoza’s Theory of the Human Mind. Oxford University Press, 2018.
Spinoza, Benedictus de. Complete Works. Edited by Michael L. Morgan. Translated by Samuel Shirley. Cambridge: Hackett Publishing Company, Inc., 2002.
—. Ethics. Letchworth: The Temple Press, 1941.
—. Ethics. Translated by Andrew Boyle. London: J. M. Dent, 1910.
Yovel, Yirmiyahu. Spinoza on Knowledge and the Human Mind. Leiden: Brill Academic Publishers, 1994.
Article
Carlisle, C. “Spinoza’s Acquiescentia.” Journal Of The History Of Philosophy (2017): 209-236.
Bicknell, Jeanette. “An Overlooked Aspect of Love in Spinoza’s Ethics.” Iyyun: The Jerusalem Philosophical Quarterly (S. H. Bergman Center for Philosophical Studies). no. 47 (January 1998): 41-55.
Ellenzweig, Sarah. “The Love of God and the Radical Enlightenment: Mary Astell’s Brush with Spinoza.” Journal of the History of Ideas (University of Pennsylvania Press). 64, no. 3 (July 2003): 379-397.
Kisner, Matthew J. “Spinoza’s Virtuous Passions.” The Review of Metaphysics (Philosophy Education Society Inc.). 61, no. 4 (June 2008): 759-783.
Nadler, Steven. “The Jewish Spinoza.” Journal of the History of Ideas (University of Pennsylvania Press). 70, no. 3 (July 2009): 491-510.
Rorty, Amélie Oksenberg. “Spinoza’s Ironic Therapy: From Anger to the Intellectual Love of God.” History of Philosophy Quarterly (University of Illinois Press). 17 (2000): 261-276.
[46] Steven Nadler, p. 171.
[47] Joseph Ratner, p. li.
[48] Ibid., p. lxiii.
[49] Joseph Ratner, p. lxii.
[50] Steven Nadler, p. 114.
[51] Ibid.
[52] Xem tiểu mục “3.2. Mọi sự vật được tạo thành ở mức độ hoàn bị tột bậc của Thượng đế” của Chương 1.
[53] C. Carlisle, “Spinoza’s Acquiescentia,” Journal Of The History Of Philosophy (2017): 209-236.
[54] Steven Nadler, p. 92.
[55] Steven Nadler, p. 116.
[56] C. Carlisle, “Spinoza’s Acquiescentia,” Journal Of The History Of Philosophy (2017): 209-236.
[57] Joseph Ratner, p. lix.
[58] Steven Nadler, pp. 94-95.
[59] Ibid., p. 185.
[60] Joseph Ratner, p. lvi.