Phân Tích Và So Sánh Về Hạnh Phúc Theo Quan Điểm Của Aristotle Và John Stuarl Mill (P2)

Giáo dân Công giáo · · Đạo đức học

Để một quốc gia và xã hội phát triển thịnh vượng, nhiều nhà lãnh đạo quốc gia đã đưa ra những giải pháp để ngăn chặn một số tệ nạn nguy hại bằng bản án tử hình hoặc trực tiếp sát hại các tội nhân. Chẳng hạn, từ khi nhận chức tổng thống Philipines (2016) đến nay, với cuộc chiến chống ma túy, ông Duterte đã cho phép binh lính quốc gia sát hại trực tiếp những người nghiện và buôn bán ma túy, thậm chí cả những người bị tình nghi buôn bán ma túy. Hành động của Duterte có đúng đắn về mặt đạo đức hay không khi ông cho sát hại hàng nghìn người với lý do biện minh là giúp thăng tiến phúc lợi cho đất nước và an ninh quốc gia? Dựa trên trên quan điểm về hạnh phúc của Aristotle và John Stuart Mill, bài viết sẽ cố gắng đi tìm lời đáp cho vấn nạn được nêu ra.

Tiếp theo từ Phần 1

III. ĐIỂM GIỐNG VÀ KHÁC NHAU TRONG QUAN ĐIỂM HẠNH PHÚC CỦA ARISTOTLE VÀ JOHN STUARL MILL

3.1 Yếu tố đức hạnh và hoan lạc trong hạnh phúc

Ta thấy khi so sánh về quan điểm hạnh phúc giữa Aristotle và Mill là tương cận nhau. Cả hai triết gia này đều tin rằng hạnh phúc có những mục đích theo đuổi vì chính nó. Với Aristotle, hạnh phúc là một tiến trình đạt tới eudaimonia và đức hạnh luân lý với những hành vi trung dung là điều kiện cần thiết cho cùng đích phải đạt được. Đang khi đó, Mill quan niệm về hạnh phúc với các thành phần đa dạng, và bản thân mỗi thành phần đều đáng mong muốn chứ không chỉ đơn thuần khi được coi là một tổng hợp.[45] Tuy nhiên, cả Aristotle và Mill đều tin rằng đức hạnh có liên quan đáng kể đến hạnh phúc.[46]

Aristotle cho rằng hạnh phúc nhất thiết phải bao gồm đức hạnh, bởi đức hạnh như kim chỉ nam giúp người ta đi đúng đường hướng tới hạnh phúc. Nhưng, với Mill, ông xem đức hạnh được mong muốn như mục đích riêng của nó, và đức hạnh mang giá trị nội tại, nghĩa là đức hạnh chỉ là một phần của hạnh phúc.

Một khía cạnh khác của hạnh phúc đó là hoan lạc (pleasure), Mill tin hoan lạc và vắng bóng đau khổ chính là hạnh phúc, nhưng Aristotle cho rằng hạnh phúc là thực hành đức hạnh, chính hạnh phúc là cùng đích tốt hậu của đời sống con người. Cùng với đó, Mill thừa nhận kinh nghiệm về hạnh phúc có được khi và chỉ khi người ta trải qua hoan lạc. Nhưng, Aristotle tin rằng qua quá trình học tập và thực hành đức hạnh, người ta sẽ hành động đúng đắn và đạt được hạnh phúc. Với Mill, hạnh phúc liên quan đến hoan lạc của một số đám đông người đã từng trải qua sự kiện, công việc, và chọn lựa đó, đồng thời hạnh phúc là ở đây và ngay bây giờ (here and now). Nhưng, Aristotle khẳng định hoan lạc là yếu tố tạm thời của hạnh phúc mà thôi, hạnh phúc thực khi người ta sống đời chiêm niệm bằng cách vận dụng lý trí, và thực hành đức hạnh.

Theo Mill thì hoan lạc gắn liền với hạnh phúc và loại trừ đau khổ là nguyên nhân không có niềm vui và hạnh phúc. Trong khi đó, Aristotle có cái nhìn phổ quát hơn khi nhấn mạnh tới sự huấn luyện của lý trí để kiểm soát các hoan lạc cách chính đáng, bởi chúng chỉ là phần thứ yếu của hạnh phúc. Nếu như cái nhìn mang tính đào luyện ý chí của Aristotle hướng đến chiều kích cá nhân thì nguyên tắc lý trí thực hành của Mill đậm chất “thúc đẩy hạnh phúc tối đa cho xã hội.”[47] Cả hai cùng dựa trên nền tảng lý trí dù nó thuộc cấp độ cá nhân hay cộng đồng.

Cả Mill và Aristotle đều đặt vấn đề về việc con người dễ có khuynh chiều, theo đuổi những đam mê, hoan lạc hạ cấp (lower pleasures), dù có thể họ biết rằng con người cần xứng với những gì cao quý hơn. Cụ thể, Aristotle cho rằng: “theo khuynh hướng tự nhiên, những niềm vui thể xác được theo đuổi vì khuynh hướng đó thường làm người ta thấy thoải mái, dễ chịu và không phải hy sinh, cố gắng nhiều.”[48] Người ta dễ dàng thuận theo bản năng và nghiện những vui thú hạ cấp hơn là vươn đến lý tưởng cao đẹp của những hoan lạc thượng cấp (higher pleasures). Mill quan niệm rằng, chính bởi ảnh hưởng từ môi trường xung quanh, bối cảnh xã hội nên người ta dễ khuynh chiều mình vào những thú vui hạ cấp hơn là kinh qua những hoan lạc thượng cấp. Cả Mill và Aristotle đều đồng ý là: người nào dấn thân vào niềm vui hạ cấp và nghiện nó thì khó có khả năng tìm ra và tận hưởng những niềm vui thượng cấp, những điều cao quý hơn.[49]

3.2 Lý trí trong hạnh phúc

Đối với Mill, yếu tố lý trí cũng quan trọng khi quan niệm về hạnh phúc, nhưng ông nhấn mạnh đến vai trò của những cơ năng cao hơn (higher faculties). Chẳng hạn như sự thông minh, trí tưởng tượng... theo đuổi hoan lạc thượng cấp và dự tính kết quả của hành động sẽ xảy ra, người ta đều cần vận dụng khả năng lý trí. Đối lại, Aristotle đề cao việc dùng lý trí để sống đời chiêm niệm và thực hành đức hạnh qua hành vi chọn lựa với thái độ trung dung. Chẳng hạn như thực hành các nhân đức trụ: khôn ngoan, công bằng, dũng cảm và tiết độ. Do đó, ta nhận thấy hạnh phúc của Mill liên quan nhiều đến xúc cảm, đang khi đó, hạnh phúc của Aristotle là hành động của tâm hồn phù hợp với sự hướng dẫn của lý trí. Cuối cùng, ta thấy rằng, Mill đưa ra quan điểm về hạnh phúc của mình là dựa trên cảm giác thực tế ở đây và ngay bây giờ, và tập trung vào kết quả hành động, còn Aristotle chú trọng vào việc trau giồi đức hạnh và nhân cách hơn.

Mill quan niệm về điều tốt và điều xấu (good and bad) là khi hành động làm ta thấy hoan lạc và gia tăng hạnh phúc đó là hành động tốt, ngược lại, nếu hành động có khuynh hướng tạo ra đau khổ thì tự bản thân nó là hành động xấu. Aristotle quan niệm khi người ta thực hành nhân đức thì hành động đó là tốt, ngược lại, sự xấu xa là vì người ta hành động ngược lại đức hạnh, ngược lại với sự hướng dẫn của lý trí. Ở đây, ta thấy lập luận của Aristotle chưa thuyết phục hoàn toàn khi ông không giải thích cụ thể thế nào là hành động tốt nhất, và sự sai lầm của lý trí, cụ thể là ông đã cho phép người có đạo đức phạm sai lầm (miễn là không có hậu quả quá lơn), và họ vẫn có thể có nhân cách đạo đức tốt.[50]

3.3 Hạnh phúc là cùng đích tối hậu của đời sống con người

Đối tượng của hạnh phúc mà Mill nhắm đến là những đối tượng từ cá nhân đến phổ quát, đặc biệt là ông quan tâm và bảo vệ những tầng lớp nô lệ, không có quyền lợi, bị áp bức... do đó, ông kiên quyết khẳng định là không nên tập trung quyền lực vào một số đám đông nào đó trong xã hội, trong đất nước. Nhưng, Aristotle nhắm đến đối tượng của hạnh phúc là mỗi cá nhân, khi họ thực hiện đúng chức năng của mình thì xã hội và đất nước sẽ được bình ổn, hạnh phúc hơn. Hạnh phúc mà Aristotle nhắm đến là hạnh phúc lâu dài và bền vững. Trong khi đó, hạnh phúc của Mill đề cao tính tạm thời, hiện tại ở đây và lúc này.

Cũng như Aristotle, Mill luôn khẳng định hạnh phúc là điều duy nhất đáng để con người khao khát. Tuy nhiên, lập luận đó đã bị nhiều người phê bình vì nó quá phổ quát nên vi phạm lỗi ngụy biện và thiếu logic. Nhưng với Aristotle ông xác định hạnh phúc như là “Telos” cái cùng đích của đời người, còn với Mill, cách thức chứng minh, nghiên cứu của ông là nại đến việc xem xét tâm lý của con người bằng cách phân tích nội quan về khao khát của từng cá nhân qua kinh nghiệm từng trải của họ. Bên cạnh đó, thuyết vị lợi của Mill còn gặp những phê bình, chỉ trích khác như là nó có thể “hợp thức hóa những hành động tội ác thành những hành động tốt và có đạo đức, miễn là những hành động đó dẫn đến sự gia tăng lợi ích hoặc niềm vui cho số đông.”[51] Chẳng hạn như, tổng thống Truman của Mỹ đã quyết định thả 2 quả bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki vào ngày 6 tháng 8 năm 1945, sau khi ông cùng ban cố vấn suy xét lợi ích cuộc chiến Mỹ - Nhật dựa trên thuyết vị lợi của Mill.[52]

Để giải quyết vấn đề đặt ra ở đâu bài, đó là cuộc chiến chống ma túy đẫm máu của tống thống Duterte. Vấn đề này được làm rõ khi quy chiếu với thuyết vị lợi của Mill. Thực tế, nếu xét về lợi ích của đám đông, có nhiều người cho rằng thuyết vị lợi của Mill sẽ đi ngược lại nguyên tắc công lý, và sẽ có nhiều người bị đối xử bất công. Thậm chí, chủ nghĩa vị lợi bị cáo buộc xem nhẹ quyền cá nhân để ủng hộ ‘sự chuyên chế của đa số’ (tyranny of the majority). Nghĩa là tập trung quyền lợi của số đông, bất chấp một số cá nhân có thể bị chà đạp, loại trừ hoặc hủy diệt.

Tuy nhiên, Mill nhấn mạnh rằng:[53]

Vì lý do đạo đức, có những điều người ta phải từ chối thực hiện cho dù hành động đó có thể mang lại lợi ích lớn lao trong một trường hợp cụ thể. Một cá nhân có lý trí phải nhận ra rằng đây là những loại hành động, mà nếu được thực hiện một cách phổ quát thì sẽ gây ra tác hại phổ quát. Đây chính là nền tảng luân lý cho nghĩa vụ không được thực hiện nó.

Sau cùng, Mill nhấn mạnh rằng quyền đạo đức (moral right) của con người phải được bảo vệ tuyệt đối và không phụ thuộc vào tính toán vị lợi; và tôn trọng các quyền đạo đức cũng nhằm để đạt đến hạnh phúc tối thượng cho cá nhân cũng như cộng đồng và giảm thiểu đau khổ không đáng có. Chính những kinh nghiệm trong quá khứ sẽ giúp người ta hiểu và sống các nguyên tắc đạo đức và cải thiện những hệ thống lỗi thời.

Tựu trung, học thuyết đạo đức về hạnh phúc của Aristotle và thuyết vị lợi của Miil tuy có nhiều khác biết nhưng chúng đều hướng đến sự thống nhất. Dù rằng hạnh phúc của Mill nhấn mạnh đến vui thú và hạnh phúc của Aristotle nhắm đến thực hành đức hạnh và sống đời chiêm nghiệm bằng lý trí, nhưng cả hai đều giúp thăng tiến hạnh phúc của đời sống cộng đồng và từng cá nhân riêng lẻ.

Một Vài Suy Tư Cá Nhân

Trước hết, theo quan điểm cá nhân, tác giả bài viết này không đồng ý với Mill khi cho rằng hạnh phúc là gia tăng hoan lạc và giảm thiểu tối đa đau khổ. Trong thực tế, đối diện với đau khổ mỗi người sẽ có những thái độ khác nhau, có rất nhiều người chịu đau khổ nhưng họ vẫn cảm thấy hạnh phúc. Chẳng hạn như, cha mẹ chịu cực, chịu khổ, dầm mưa giãi nắng để lao động vất vả, kiếm tiền nuôi con cái ăn học thành tài, thành người con ngoan, giúp ích cho xã hội, đất nước... thậm chí nhiều người đã lâm cảnh bạo bệnh và sống trong đau khổ... thế nhưng, họ cảm thấy những gian khổ họ chịu chính là hạnh phúc, bởi vì họ đã chu toàn bổn phận của mình là dưỡng dục con cái. Hay như những người lính cứu hỏa, cứu hộ, họ liều mình lao vào ngọn lửa dữ, chui xuống lòng đất, băng qua lằn tên mũi đạn với bao nguy hiểm, hoặc giữa dòng thác lũ cuồn cuồn... họ vẫn chịu đau đớn thể xác để cứu người khác, chỉ vì tình thương yêu đồng loại. Với hành động đó, họ cảm thấy hạnh phúc dù rằng họ có đau khổ xảy đến, thậm chí là mất mạng.

Thứ đến, tác giả bài viết này cảm nhận thấy định nghĩa về hạnh phúc của Aristitle gần gũi và dễ thi hành hơn là định nghĩa về hạnh phúc của Mill. Với khuôn mẫu của Aristotle, người ta sẽ dễ dàng thực hiện đạo đức nhân đức cá nhân để tìm kiếm hạnh phúc dưới sự hướng dẫn của lý trí. Trong khi đó, định nghĩa của Mill về hạnh phúc dựa trên thuyết vị lợi, và tập trung trọng yếu vào tính hữu ích xét như nền tảng của các giá trị. Thế nhưng trong cuộc sống, có những thứ có giá trị với người này, nhưng lại vô giá trị với người khác. Bên cạnh đó, thật khó lòng để lường trước được những nguyên nhân, kết quả của hành động như Mill gợi ý. Bởi vì đâu phải ai cũng tính toán giỏi, đo lường được điều nào sẽ mang lại hoan lạc lớn nhất. Đây là nhiệm vụ khó khăn không chỉ dành riêng cho một số ít người nào đó.

Dĩ nhiên, sẽ còn nhiều tranh cãi về quan niệm hạnh phúc theo Aristolte và J.S. Mill, chẳng hạn như thánh Tôma Aquinô cho là hạnh phúc của Aristole chỉ theo đuổi việc hoàn thiện chức năng, khả năng tự nhiên của con người thôi thì vẫn chưa đủ vươn tới hạnh phúc hoàn hảo. Hoặc như thuyết vị lợi của Mill cũng bị G. E. Moore và Bertrand Russell phê bình chỉ trích, phê bình về lỗi lập luận thiếu logic,[54] và Henry Sidgwick cho rằng Mill đã phạm phải lỗi ngụy biện tổng thể (fallacy of composition).[55] Tuy nhiên, học thuyết đạo đức về hạnh phúc của Aristotle và Mill luôn từ hạnh phúc cá nhân gắn liền với lợi ích tập thể. Đích thực thì nguyên lý vị lợi của Mill khôngnhằm đến hợp thức hóa hành động xấu xa, nhưng luôn tôn trọng quyền đạo đức (moral rights) của mỗi cá nhân.

Cho đến nay, không thiếu những phê phán về quan niệm hạnh phúc của Aristotle và Mill, nhưng phần đa mọi người đều thừa nhận và cảm thấy biết ơn vì những lợi ích mà chủ thuyết đạo đức trong Nicomachean Ethics và Utilitarianism mang lại. Đó là chúng thúc đẩy hạnh phúc từ cá nhân đến toàn thể nhân loại. Dĩ nhiên, học thuyết nào cũng có những bất hảo, và những lỗ hổng của nó, như Mill đã từng thừa nhận: học thuyết vị lợi của mình là một học thuyết sống động,[56] và cần cải thiện, cập nhật không ngừng theo bối cảnh và xu hướng của thời đại.

Trong thực tế, xã hội hiện đại ngày càng phát triển kéo theo nhiều vấn đề về đạo đức, luân lý của con người cũng phức tạp theo. Do đó, để thăng tiến hạnh phúc phổ quát cho cá nhân, tập thể, cộng đồng..., thiết tưởng các cấp lãnh ở mỗi tổ chức xã hội cần áp dụng triệt để một nguyên tắc đạo đức nào đó để bảo vệ quyền đạo đức cá nhân của con người cũng như nâng cao ý thức đạo đức chung.

Nguồn: https://sjjs.edu.vn/

Thư Mục Tham Khảo

[45] Rose Suneson, “Connections between Mill and Aristotle: Happiness and Pleasure”, Aporia Vol.28, No. 1, 2018.

[46] Ibid,

[47] Christopher Macleod, “John Stuart Mill: 4.3 Morality”, Stanford ncyclopedia of Philosophy, accessed 30 Aug 2023, https://plato.stanford.edu/entries/mill/#Mora

[48] Ibid, 205-206.

[49] Ibid, 206 and, John Stuart Mill, Utilitarianism, 58.

[50] Aristotle, Nicomachean Ethics, Second Edition, trans. Terence Irwin (Hackett Publishing Company, Inc., 1999), 51

[51] Charles C. Miltner, The Elements of Ethics (New York: Macmillan, 1949), 100-101.

[52] Raymond Aron, “Half-century of Limited War?”, Bulletin of the Atomic Scientists (1956), 99-104.

[53] Ibid., 35.

[54] G. E. Moore, 67.

[55] Henry Sidgwick, The Methods of Ethics (London: Macmillan, 1907), 388.

[56] Mark Dimmock and Andrew Fisher. Ethics for A-Level. Cambridge: Open Book Publishers, 2017, 26.