PHẨM GIÁ CON NGƯỜI VÀ SỰ LẠM DỤNG NGÔN NGỮ

Tuyên bố về phẩm giá con người Dignitas Infini- ta (Phẩm giá Vô hạn), được công bố bởi Bộ Giáo Lý Đức Tin, đã tái khẳng định những gì mà Đức Giáo Hoàng Phanxicô và các bậc tiền nhiệm của ngài đã dạy: rằng mỗi một con người đều sở hữu phẩm giá bất khả xâm phạm vốn bắt nguồn từ việc được tạo dựng theo hình ảnh và sự giống Thiên Chúa; được cứu chuộc “không phải bằng những thứ hay hư nát, như bạc hay vàng, nhưng bằng bửu huyết của Đức Kitô” (1 Pr 1:18- 19); và được tạo nên cho sự sống đời đời với Thiên Chúa. Tuyên bố đưa ra một danh sách không đầy đủ về các hành vi vi phạm phẩm giá con người, trong đó bao gồm nhiều điều đã quá quen thuộc: nghèo đói, chiến tranh, phá thai và trợ tử. Ngoài ra, nó cũng đề cập đến một số vấn đề trở nên cấp thiết hơn trong những năm gần đây, chẳng hạn như hệ tư tưởng giới tính và việc mang thai hộ. Có một điều đặc biệt gây chú ý cho tôi, không phải vì nó được nêu rõ ràng như một sự vi phạm phẩm giá, mà bởi nó được nhắc đến nhiều lần xuyên suốt tài liệu, đó là: sự lạm dụng ngôn ngữ.

Khi nói rằng lạm dụng ngôn ngữ là một sự xâm phạm phẩm giá con người, tôi không hàm ý rằng nó có tội chỉ vì được sử dụng để hỗ trợ hoặc biện minh cho các hành vi vi phạm phẩm giá “thực sự” khác. Ý tôi là lạm dụng ngôn ngữ, tự thân nó, đã là một sự vi phạm phẩm giá con người. Thậm chí, tôi còn cho rằng đây là sự vi phạm đứng trước mọi vi phạm khác.

Để hiểu được tuyên bố có vẻ cực đoan này, chúng ta phải tìm đến tiểu luận ngắn gọn nhưng sâu sắc của Josef Pieper mang tên “Lạm dụng Ngôn ngữ, Lạm dụng Quyền lực”. Bài luận của Pieper là một suy tư về cuộc đối đầu không ngừng giữa Plato với các nhà Ngụy biện, điều mà ta có thể tìm thấy trong một số Đối Thoại* của ông.

Plato chống lại các nhà Ngụy biện bởi họ làm biến chất ngôn ngữ; không phải bằng cách sử dụng ngôn ngữ một cách kém cỏi – như những người không có học vấn thường làm – mà ngược lại, thông qua sự tinh tế trong ngôn từ, họ có thể đẩy “các cấu trúc từ ngữ đến giới hạn xảo quyệt”. Theo Pieper, ngôn từ và ngôn ngữ “hình thành nên phương tiện giúp duy trì sự tồn tại chung của tinh thần con người”; chúng “biến tương tác hiện sinh thành hiện thực”. Như vậy, sự tha hóa của ngôn từ chính là sự tha hóa của chính sự tồn tại con người. Nhưng “thế nào là làm tha hóa” ngôn ngữ?

Đối với Pieper, ngôn ngữ có mục đích kép: nhận dạng một điều gì đó có thật, và xác định nó như vậy với một người nào đó. Hai mục đích này, dù khác biệt, nhưng không thể tách rời. Chúng nói với chúng ta rằng ngôn ngữ và ngôn từ tồn tại để chúng ta có thể sống trong sự hiệp thông với người khác trong chân lý. Bởi ngôn ngữ có hai chiều kích, nên nó có thể bị lạm dụng và tha hóa ở cả hai khía cạnh. Pieper xác định hai con đường dẫn tới điều này: sự tha hóa trong mối quan hệ với thực tại, và sự tha hóa trong giao tiếp.

Có lẽ hình thức lạm dụng ngôn ngữ phổ biến nhất (mà tất cả chúng ta đều đã từng trải qua và mắc phải) là nói dối. Hiểu biết của Pieper về những gì diễn ra khi ta nói dối sẽ giúp ta nhận ra tại sao lạm dụng ngôn ngữ lại là một sự tấn công vào phẩm giá của người khác. Ông viết: “Nói dối là điều đối nghịch với giao tiếp. Nó có nghĩa là giữ lại phần thực tại thuộc về người kia, ngăn cản họ tham gia vào thực tại”.

Nhưng tại sao điều này lại là một tội trọng đại đến mức cấu thành hành vi vi phạm phẩm giá con người? Pieper tóm tắt quan điểm của Plato trong ba tuyên bố, điều sẽ làm sáng tỏ mức độ nghiêm trọng của vấn đề:

Tuyên bố thứ nhất: Nhận thức càng nhiều càng tốt về tất cả mọi sự theo cách chúng thực sự là, sống và hành động theo sự thật này – đó chính là điều thiện hảo của con người, đó chính là sự hiện hữu đầy ý nghĩa của con người. Tuyên bố thứ hai: Tất cả mọi người đều được nuôi dưỡng, trước tiên và trên hết, bởi sự thật ... Mọi người khao khát sống đúng với bản chất con người đều phụ thuộc vào nguồn dinh dưỡng này. Ngay cả xã hội cũng được duy trì bởi sự thật được công bố và gìn giữ.

Tuyên bố thứ ba: Môi trường tự nhiên của chân lý được tìm thấy trong việc giao tiếp giữa các cá nhân. Chân lý sống trong đối thoại, trong thảo luận, trong trò chuyện – vì thế, chân lý cư ngụ trong ngôn ngữ, trong lời nói. Hệ quả là, một cuộc sống con người ngăn nắp, đặc biệt bao gồm cả yếu tố xã hội, về bản chất dựa trên chính ngôn ngữ trật tự được sử dụng.

Khi phủ nhận người khác có phần trong thực tại, trong chân lý, chúng ta đang tước đi khả năng họ có thể sống một cuộc đời trọn vẹn và ý nghĩa; đồng thời tước bỏ những gì thuộc về họ chỉ vì lẽ giản đơn là họ cũng mang trong mình nhân tính. Bởi vậy, có thể thấy rằng mọi sự vi phạm phẩm giá con người khác đều thực sự xuất phát từ những lời dối trá, và về cơ bản, chúng đều là sự lạm dụng ngôn ngữ.

Những thủ thuật ngôn ngữ có thể làm lu mờ thực tế, nhưng không thể biến đổi thực tế. Chúng có thể gieo rắc hoang mang về cái “thật”, nhưng không thể thay đổi bản chất của cái “thật” đó.

Hãy đọc Dignitas Infinita (Phẩm giá Vô hạn) dưới ánh sáng của những điều vừa được trình bày. Tuyên ngôn mở đầu bằng việc nhấn mạnh vào tính chất bản thể học của phẩm giá con người. Nói cách khác, phẩm giá con người là một điều có thật, không chỉ là quy ước, chủ quan, hoặc được ban cho bởi nhà nước hay bất kỳ thể chế nào do con người tạo ra. Sự thật là tất cả con người đều sở hữu phẩm giá này, được “nền tảng trên chính sự hiện hữu của họ, thứ ngự trị bên trong và vượt lên trên mọi hoàn cảnh, trạng thái hoặc tình huống mà con người có thể gặp phải” (DI, 1). Ngay tại đây, ta bắt gặp ví dụ đầu tiên về tình trạng tha hóa của ngôn ngữ mà Tuyên ngôn Dignitas Infinita nỗ lực đề cập: chính cụm từ “phẩm giá con người” thường xuyên bị sử dụng sai mục đích, để đại diện cho những điều khác biệt với thực tại mà đáng lẽ chúng phải biểu đạt. Khởi đầu từ mục 7, Tuyên bố đã tìm cách bác bỏ những diễn giải sai lầm về thuật ngữ; tìm cách làm rõ và phân biệt các cách hiểu khác nhau mà cụm từ có thể được sử dụng (cả đúng và sai); và luôn luôn quay trở lại nền tảng bản thể học vững chắc của nó, hướng đến thực tại độc lập với việc ta có ưa thích hay không.

Dignitas Infinita không ngần ngại nói rõ rằng một số cách sử dụng khái niệm “phẩm giá” chẳng khác gì những lời dối trá trắng trợn. Nhưng nói dối rành rành không phải là hình thức lạm dụng ngôn ngữ duy nhất, vì còn nhiều cách tinh vi hơn (nhưng không vì thế mà ít xúc phạm) để làm điều đó. Một hình thức được Pieper đưa ra chính là sự nịnh bợ. Khi nói đến nịnh bợ, ý ông bao hàm nhiều hơn định nghĩa thông thường của từ này: Nịnh bợ ở đây không có nghĩa là nói những gì người khác thích nghe, nói điều gì đó dễ chịu hay thỏa mãn phù phiếm của họ... Đúng hơn, điều tôi nói với họ được thiết kế để lấy được thứ gì đó từ họ! Ý đồ ngầm này biến thông điệp thành sự nịnh bợ, ngay cả theo nghĩa phổ biến của từ này. Người đó, người mà tôi cố gắng gây ảnh hưởng bằng điều họ thích nghe, đã không còn là đối tác của tôi; họ không còn là chủ thể ngang hàng. Đúng hơn, họ đã trở thành đối tượng để tôi thao túng, có thể là để chi phối, để kiểm soát... Tôi tập trung vào những điểm yếu và những khía cạnh hấp dẫn của họ – tất cả nhằm để điều khiển họ, lợi dụng họ cho mục đích của riêng tôi.

Đối với Pieper, nịnh bợ chẳng khác gì sự thao túng đê hèn, khai thác điểm yếu của người khác vì động cơ thầm kín. Nịnh bợ thường sử dụng uyển ngữ, một thủ thuật ngôn từ khéo léo giúp cho những ý tưởng nhất định trở nên dễ chấp nhận hơn, bớt xúc phạm hơn, nhằm che giấu bản chất vô nhân tính của chúng. Tuyên ngôn Dignitas Infinita (Phẩm giá Vô hạn) chỉ ra một ví dụ phổ biến của chiến thuật thao túng này: “Đặc biệt trong trường hợp phá thai, ta thường thấy việc sử dụng rộng rãi các thuật ngữ mơ hồ, chẳng hạn như ‘gián đoạn thai kỳ’, vốn có xu hướng che giấu bản chất thực sự của phá thai và làm giảm mức độ nghiêm trọng của nó trong dư luận” (DI 47).

Nịnh bợ, theo nghĩa của Pieper, luôn là thứ được ưa chuộng bởi những người vận động cho việc phá thai. Bằng cách lạm dụng ngôn ngữ một cách xảo quyệt, họ tìm cách thao túng dư luận bằng cách sử dụng những từ ngữ nghe có vẻ hấp dẫn như “quyền của phụ nữ”, “quyền lựa chọn”, “sức khỏe sinh sản”, trong khi che giấu thực tế xấu xa mà họ đang bảo vệ: “phá thai là hành vi giết chết có chủ ý và trực tiếp, bằng bất kỳ phương tiện nào, một con người trong giai đoạn đầu của sự tồn tại, kéo dài từ khi thụ thai đến khi sinh ra” (DI 47).

Tuyên bố Dignitas Infinita cũng chỉ ra rằng nhân danh sự hiểu lầm về phẩm giá con người, đã xuất hiện vô số các “quyền” thực chất không phải là quyền. Sự gia tăng của những quyền sai lệch này chỉ có thể diễn ra thông qua việc sử dụng tuyên truyền. Ngày nay, khi nói đến “quyền” là ta đang nhằm mục đích mang lại cho điều gì đó tính chính đáng mà nó vốn có thể không hề sở hữu. Tất cả chúng ta đều mong muốn các quyền của mình được tôn trọng, vì vậy, khoác lên một điều gì đó ngôn ngữ của quyền chính là thao túng chúng ta chấp nhận nó. Tuyên truyền còn mang thêm một chiều kích khác như Pieper chỉ ra. Đằng sau nó luôn tiềm ẩn mối đe dọa:

Tuyên truyền hoàn hảo nhất đạt được điều này: mối đe dọa không hiển nhiên mà được che giấu kỹ lưỡng. Nhưng nó phải luôn có thể nhìn thấy được; nó phải luôn luôn ở trạng thái có thể nhận biết. Đồng thời, những người chịu ảnh hưởng của mối đe dọa vẫn phải bị dẫn dắt và được xoa dịu, để họ tin rằng (và đó mới là nghệ thuật thực sự!) khi tự nguyện chịu khuất phục trước sự đe dọa, thì họ đã làm điều hợp lý, thậm chí có lẽ là điều họ muốn làm từ đầu.

Việc phủ nhận một điều được gắn nhãn “quyền” chính là hành vi áp bức người đòi hỏi quyền nói trên. Ta được dạy rằng mọi kẻ áp bức đều nên bị lật đổ. Khước từ một đòi hỏi về “quyền” đồng nghĩa với việc đứng về “phía sai của lịch sử”. Yếu tố đe dọa này là một khía cạnh khác của sự lạm dụng ngôn ngữ, vi phạm phẩm giá con người: trong khi ngôn ngữ và lời nói vốn có mục đích kêu gọi ta đến với đối thoại, nơi ta có thể cùng nhau đến gần chân lý và tự do, thì việc làm biến chất những điều này buộc phải dựa vào dối trá và cưỡng ép, buộc ta phải khuất phục.

Mọi thủ thuật ngôn ngữ này đều có thể làm lu mờ thực tại, nhưng không thể biến đổi nó. Chúng có thể gieo rắc hoang mang về thế nào là “thật”, nhưng không thể thay đổi bản chất của cái “thật”. Chính thực tại đã được phán thành hiện hữu: “Từ khởi đầu đã có Ngôi Lời, và Ngôi Lời ở cùng Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Ngài đã ở cùng Thiên Chúa từ khởi đầu. Muôn vật đều do Ngài mà có; không có Ngài thì chẳng có gì được tạo thành” (Ga 1, 1-3).

Đó là lý do tại sao Tuyên ngôn Dignitas Infinita (Phẩm giá Vô hạn) có thể khẳng định rằng phẩm giá con người cũng được khám phá bởi lý trí của con người, đó là lý do tại sao nó mang tính bản thể học: nó là một đặc điểm của thực tại đang tồn tại. Lạm dụng ngôn ngữ là gây tổn hại cho chính thực tại. Và sự tổn hại đó có lịch sử xa xưa: mọi cuộc tấn công và phủ nhận phẩm giá con người xuyên suốt lịch sử đều có thể được truy ngược về một sự lạm dụng ngôn ngữ nguyên thủy, bắt nguồn từ lời dối trá được thì thầm vào tai tổ tiên đầu tiên của chúng ta: “Ăn vào và các ngươi sẽ như những vị thần”. Bằng lời nói dối này, con rắn xưa đã lừa gạt chúng ta tin rằng Thiên Chúa đã từ chối phẩm giá của chúng ta, rằng phẩm giá của Ngài và của chúng ta bằng cách nào đó đối lập nhau, rằng vinh quang lớn lao hơn của Thiên Chúa đòi hỏi vinh quang ít hơn nơi con người. Vì vậy, chính ý niệm về phẩm giá con người thường bị bóp méo, bị bao trùm trong bóng tối, điều này từng xảy ra, và thường xuyên tiếp tục diễn ra. Và ở đâu phẩm giá con người bị che khuất, ở đó chết chóc và hủy diệt sẽ theo sau.

Nhưng vì Thiên Chúa là Chân Lý, chính Ngài đã chọn cách đảo ngược lời nói dối này thông qua chính phương tiện của Ngôi Lời: “Ngôi Lời đã trở thành người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1,14) để “nhờ lòng thương xót của Thiên Chúa chúng ta, Người sẽ viếng thăm ta từ trời cao như Vầng Đông ban mai, để soi sáng những ai ngồi nơi tăm tối và trong bóng tử thần” (Lc 1,78-79). Lời Chúa là ánh sáng chiếu soi trong bóng tối che khuất phẩm giá của chúng ta, và bóng tối không (và không thể) thắng được ánh sáng đó.

Nguồn: https://www.wordonfire.org/articles/human- dignity-and-the-abuse-of-language/?queryID=6f5f207dbb47f62c0f11585def1a8fb5

Tác giả: Alejandro Terán-Somohano

Alejandro Terán-Somohano có bằng cử nhân Kỹ thuật Máy tính từ Viện Công nghệ Tự động Mexico (Instituto Tecnologico Autónomo de México), bằng Thạc sĩ và Tiến sĩ về Kỹ thuật Công nghiệp và Hệ thống từ Đại học Auburn, nơi ông nghiên cứu việc sử dụng các thuật toán lấy cảm hứng từ tự nhiên để giải quyết các vấn đề thiết kế. Ông hiện sinh sống tại Georgia cùng vợ và ba con.