Quan Điểm Của Hannah Arendt Về Giáo Dục Trong Tác Phẩm Crisis In Education (P1)
Nhìn vào một đất nước phát triển phồn thịnh như Hoa Kỳ, hẳn là không nhiều người cho rằng nước này đã từng trải qua một cuộc khủng hoảng lớn trong lĩnh vực giáo dục. Hannah Arendt (1906 – 1975) tuy không phải là một triết gia giáo dục nhưng bà đã dành một chương trong tác phẩm Between Past and Future để nói về Cuộc Khủng Hoảng Trong Giáo Dục (The Crisis in Education). Dựa trên lối tiếp cận hiện sinh về con người và trực giác sắc bén trong lĩnh vực chính trị, Hannah Arendt đã cố gắng làm sáng tỏ mối quan hệ giữa giáo dục và chính trị. Bài viết này là một nỗ lực nhỏ nhoi của người viết, trình bày những suy tư độc đáo của Hannah Arendt về giáo dục liên quan đến những vấn đề của thẩm quyền và chính trị vốn là những yếu tố đã có những tác động đến cuộc khủng hoảng trong giáo dục. Trước hết, bài viết sẽ trình bày sơ lược về cuộc khủng hoảng trong giáo dục ở Mỹ. Tiếp đến sẽ là những suy tư về giáo dục liên quan đến “sự sinh hạ” và chính trị. Cuối cùng là những nhận định cá nhân về triết lý giáo dục của Hannah Arendt.
Học viên thực hiện: Nguyễn Văn Đức, S.J.
Giáo sư hướng dẫn: Bùi Quang Minh, S.J.
Tháng 5 năm 2017
Dẫn Nhập
Nhìn vào một đất nước phát triển phồn thịnh như Hoa Kỳ, hẳn là không nhiều người cho rằng nước này đã từng trải qua một cuộc khủng hoảng lớn trong lĩnh vực giáo dục. Cuộc khủng hoảng này đã tác động đến toàn bộ đời sống đất nước và gây ra một cuộc tranh cãi giữa các nhà tư tưởng giáo dục. Hannah Arendt (1906 – 1975) tuy không phải là một triết gia giáo dục nhưng bà đã dành một chương trong tác phẩm Between Past and Future để nói về Cuộc Khủng Hoảng Trong Giáo Dục (The Crisis in Education).
Trong suy tư của mình, Arendt cho rằng giáo dục đã bị biến thành một công cụ của chính trị và cuộc khủng hoảng chính trị thời hiện đại cũng đã kéo theo cuộc khủng hoảng trong giáo dục. Trong tác phẩm này, bà không đề nghị bất kỳ một giải pháp cụ thể nào giúp giáo dục thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng. Nhưng thay vào đó, bà đã mời gọi tất cả mọi người có một cái nhìn đúng đắn hơn liên quan đến bản chất của giáo dục. Bà cho rằng: “Giáo dục là nơi mà ở đó chúng ta quyết định liệu chúng ta có yêu mến thế giới đủ để đảm nhận những trách nhiệm vì thế giới và nhờ đó cứu nó khỏi sự phá hủy.”[1] Đây không phải là một phát biểu hàm hồ đầy cảm tính, nhưng là một khẳng quyết bắt nguồn từ những nền tảng triết học khá vững chắc mà Hannha Arendt đã kế thừa từ Augustine. Dựa trên lối tiếp cận hiện sinh về con người và trực giác sắc bén trong lĩnh vực chính trị, Hannah Arendt đã cố gắng làm sáng tỏ mối quan hệ giữa giáo dục và chính trị.
Bài viết này là một nỗ lực nhỏ nhoi của người viết, trình bày những suy tư độc đáo của Hannah Arendt về giáo dục liên quan đến những vấn đề của thẩm quyền và chính trị vốn là những yếu tố đã có những tác động đến cuộc khủng hoảng trong giáo dục. Trước hết, bài viết sẽ trình bày sơ lược về cuộc khủng hoảng trong giáo dục ở Mỹ. Tiếp đến sẽ là những suy tư về giáo dục liên quan đến “sự sinh hạ” và chính trị. Cuối cùng là những nhận định cá nhân về triết lý giáo dục của Hannah Arendt.
Cuộc Khủng Hoảng Trong Giáo Dục ở Mỹ
Khi một phương diện nào đó của đời sống con người bị xuống cấp và rơi vào khủng hoảng liền có ngay những người dấn thân vào nỗ lực cải cách để cứu vớt tình hình. Những nỗ lực canh tân có thể sẽ đi theo hai hướng: một là phá đổ những gì đã có và xây lại điều gì đó hoàn toàn mới, hai là gia cố lại nền móng cũ vốn đang bị lung lay bởi những tác động từ những thay đổi của hoàn cảnh lịch sử. Trong tác phẩm của mình, Hannah Arendt đã nói đến một cuộc khủng hoảng nói chung đang bao trùm mọi nơi trong thế giới hiện đại và liên quan hầu hết tới mọi lĩnh vực của cuộc sống, trong đó có giáo dục, trong đó Mỹ là nơi tình trạng khủng hoảng này được biểu hiện rõ ràng nhất.[2] Để hiểu những nguyên do của cuộc khủng hoảng này, chúng ta cần trở lại với bối cảnh của nước Mỹ được Hannah đề cập trong tác phẩm của mình.
Hoàn cảnh lịch sử
Mỹ lâu nay vẫn luôn được xem là một vùng đất hứa của dân nhập cư. Điều đó buộc đất nước này phải có một chính thể đặc biệt để có thể duy trì sự hài hòa giữa những con người thuộc nhiều chủng tộc, ngôn ngữ và văn hóa khác nhau. Trong đó, Mỹ đã ưu tiên chọn phát triển lĩnh vực giáo dục như là chìa khóa cho sự hòa bình và thịnh vượng. Thông quan việc được dạy dỗ ở trường học, mọi đứa trẻ nhập cư được “Mỹ hóa” và trở thành công dân của nước Mỹ.[3] Các gia đình nhập cư cũng coi giáo dục như một nấc thang quan trọng để đạt tới Giấc mơ Mỹ (America Dream). Đối với Arendt, điều này đã biến giáo dục ở Mỹ rơi vào một sự ảo tưởng khi quốc gia này tự coi mình là một miền đất hứa cho nhân loại. Điều đó được thể hiện qua “khẩu hiểu được in trên mỗi tờ mỹ kim: Novus Ordo Seclorum, nghĩa là một trật tự mới của Thế Giới.”[4] Khác với luồng suy nghĩ thời đó, Arendt lại cho rằng chính những người nhập cư – những người vừa đến – mới là những người bảo đảm cho đất nước này có trật tự Thế Giới mới. Quả thế, những người rời bỏ quê hương để tìm đến với Mỹ là những người đang đi tìm kiếm một nơi có tự do và an toàn, một nơi loại trừ sự nghèo đói và áp bức của thế giới cũ. Arendt chỉ ra rằng, đằng sau sự hứa hẹn về một thế giới mới chính là việc mong ước thiết lập nhà nước không tưởng (utopia) có thể “xóa bỏ sự nghèo đói và nô lệ, thì chào đón tất cả người nghèo và nô lệ ở khắp nơi.”[5] Tư tưởng này có nguồn gốc từ chủ nghĩa tiến bộ và ngày càng nhận được sự ủng hộ của nhiều người thuộc tầng lớp nghèo khổ.
Vào những năm 90 của thế kỷ 19, những phong trào của chủ nghĩa tiến bộ vốn hoạt động trong lĩnh vực chính trị cũng đã tác động mạnh mẽ đến lĩnh vực giáo dục. Chủ nghĩa tiến bộ tập trung vào cải cách giáo dục vì cho rằng giáo dục là chìa khoá cho những hành động và thay đổi xã hội.[6] Các nhà giáo dục tiến bộ tin rằng cuộc cải cách toàn bộ hệ thống giáo dục sẽ là một cuộc cách mạng ảnh hưởng đến toàn bộ xã hội. Cuộc cách mạng trở nên lý tưởng vì nó không gây đổ máu như các cuộc chiến tranh đã từng xảy ra để thay đổi thể chế chính trị. Đồng thời, đây cũng là một niềm hy vọng về một nhà nước lý tưởng được xây dựng trong hòa bình. Một trong những nhà giáo dục tiến bộ là John Dewey (1859-1952) đã cho rằng giáo dục phải là nơi giúp phát triển những thực hành dân chủ.[7] Dĩ nhiên, lúc này những lớp học không còn là những lớp học truyền thống, nhưng trở thành những lớp học có tính xã hội, dân chủ.[8]
Nói tóm lại, bối cảnh giáo dục của nước Mỹ đã trải qua những tác động của hoàn cảnh lịch sử. Đặc biệt, nền giáo dục thời đó đã chịu sự chi phối bởi chủ nghĩa tiến bộ để phục vụ cho những mục tiêu chính trị. Theo Arendt, chủ nghĩa tiến bộ này đã gây nên tình trạng khủng hoảng trong giáo dục.
Biểu hiện của cuộc khủng hoảng trong giáo dục
Thật khó để có thể mô tả hết những gì đã xảy ra trong cuộc khủng hoảng giáo dục ở nước Mỹ bởi vì nó đã lan rộng và ăn sâu vào mọi chi tiết của đời sống giáo dục. Tuy nhiên, Hannah Arendt cũng đã giúp độc giả hiểu được cuộc khủng hoảng này ngang qua những biểu hiện đặc trưng của nó. Những biểu hiện này đã cho thấy sự bất cập trong toàn bộ hệ thống giáo dục bao gồm cả lý thuyết và phương pháp sư phạm. Chúng cũng nói lên những sai lầm của triết lý giáo dục vốn đề cao chủ nghĩa thực dụng và những cải cách của chủ nghĩa tiến bộ. Hệ quả của cuộc khủng hoảng để lại thật sự nghiêm trọng và lâu dài cho toàn bộ nền giáo dục mà những học sinh – sinh viên sẽ là những người chịu thiệt thòi nhiều nhất.
Một thí dụ điển hình mà Arendt có nhắc đến trong tiểu luận của mình là vấn đề “tại sao Johnny không thể đọc.”[9] Đây là tựa đề của tác phẩm của một nhà giáo dục Mỹ, Rudolf Flesch (1911-1986) công khai chống lại các phương pháp và lý thuyết dạy học của giáo dục tiến bộ. Theo ông, sai lầm của các nhà giáo dục tiến bộ là loại bỏ hoàn toàn những phương pháp giáo dục truyền thống và làm cho học sinh gặp rất nhiều khó khăn trong phương pháp mới.[10] Đằng sau hiện tượng này, Arendt cho rằng chỉ có ở Mỹ “những lý thuyết hiện đại nhất trong lĩnh vực sư phạm đã được chấp nhận một cách mù quáng và thiếu sự phê bình.”[11] Theo Arendt, đây chính là biểu hiện rõ ràng nhất của cuộc khủng hoảng, khi mà những người có trách nhiệm đã gạt bỏ qua một bên những gì được gọi là nhận thức chung (common sense).[12]
Nhận thức chung vốn khởi phát từ năm giác quan của mỗi người để nhận thức về thế giới và để chúng lần lượt góp phần xây dựng nên những giá trị truyền thống chung cho toàn nhân loại. Nói cách khác, cuộc khủng hoảng chính là sự đứt đoạn giữa thế giới cũ và thế giới mới, là sự chối bỏ những tư tưởng của một bộ phận những người đã và đang sống trong thế giới. Theo ngôn ngữ chính trị của Arendt, đó cũng chính là biểu hiện của chủ nghĩa toàn trị hiện đại.[13] Những biểu hiện này cho thấy, cuộc khủng hoảng trong giáo dục liên hệ rất khăng khít với cuộc khủng hoảng chính trị mà Hannah Arendt đã đề cập ở một vài nơi khác nhau trong các tác phẩm của bà.
Điều tạo nên cuộc khủng hoảng quá sâu sắc trong nền giáo dục ở Mỹ chính là quan niệm chính trị của quốc gia, đấu tranh để bình đẳng hóa hay xóa bỏ sự khác biệt giữa trẻ và già, giữa tài năng và không tài năng, rốt cuộc cũng là giữa trẻ em và người lớn, cụ thể giữa học sinh và thầy cô càng tận căn càng tốt.[14]
Nói tóm lại, những hệ quả của cuộc khủng hoảng trong giáo dục cũng chỉ là những biểu hiện bên ngoài mà tất cả mọi người đều có thể nhìn thấy. Tuy nhiên, các nhà giáo dục sẽ không thể giải quyết được cuộc khủng hoảng nếu không tìm thấy được nguyên nhân đích thực của nó. Vì thế, Arendt đã cố gắng làm việc này.
Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng
Arendt đã chỉ ra một cách tiên thiên khi cho rằng nguyên nhân của cuộc khủng hoảng trong giáo dục là do sai lầm của các triết gia muốn chính trị hóa lĩnh vực giáo dục. Từ thời Hy-Lạp cổ đại, Plato đã đặt giáo dục trong mối tương quan không thể tách rời với chính trị. Những trẻ em được sinh ra đến một độ tuổi thích hợp sẽ được đem đi khỏi gia đình để đến một nơi có thể dạy dỗ nó trở thành những người phục vụ cho thành bang.[15] Tuy nhiên, đây chỉ là một nền giáo dục cho một thế chế chính trị lý tưởng thời xưa. Đến cuối thế kỷ 18, J.J. Rousseau (1712-1718) đã hiện thực hóa mục đích chính trị vào trong lĩnh vực giáo dục. Ông đã biến “giáo dục trở thành một khí cụ của chính trị, và hoạt động chính trị tự nó được nhận thức như là một hình thức của giáo dục.”[16] Từ quan niệm này, Arendt đã truy nguyên ba giả định mà nền giáo dục tiến bộ đã đưa ra, đồng thời chỉ ra những sai lầm trong những giả định này.
Giả thuyết cơ bản thứ nhất là tồn tại một thế giới trẻ thơ và một xã hội có tính tự trị và tự quản của những đứa trẻ. Hầu như người lớn không tiếp xúc với trẻ em và họ không có trách nhiệm gì với chúng. Họ chỉ đứng đó để giúp đỡ và tư vấn cho những đứa trẻ những gì nên làm và những gì không nên làm. Arendt cho rằng chính giả thiết này phá vỡ tương quan giữa người lớn và trẻ em. Nó không giúp ta hiểu được rằng con người ở mọi độ tuổi đang cùng chung sống với nhau. Hơn nữa, nếu giáo dục thực hiện theo giả thuyết này nhằm tạo ra một môi trường dân chủ giữa các trẻ thì lại gặp phải một trở ngại là trẻ em chưa thể nhận thức được như thế nào là dân chủ, thế nào là quyền bình đẳng, thế nào là sự tự do phát biểu ý kiến. Arendt cho rằng, khi một đứa trẻ đứng trước một nhóm trẻ đông hơn, nó sẽ không bao giờ chống lại quyền lực của số đông. Vì thế, Arendt kết luận rằng giả thiết này có thể giúp trẻ em thoát khỏi thẩm quyền của người lớn nhưng vẫn không được tự do hoàn toàn vì một đứa trẻ có thể vẫn bị đặt dưới sự áp đặt của số đông như là một thẩm quyền chuyên chế.
Giả thuyết cơ bản thứ hai, từ ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dụng và tâm lý học hiện đại, khoa sư phạm trở thành một khoa học giảng dạy giải phóng hoàn toàn khỏi những chất liệu hiện tại. Nghĩa là một giáo viên có thể dạy bất cứ điều gì mà không cần tinh thông bất kỳ chuyên môn nào. Điều này dẫn đến hệ quả, giáo viên giỏi không được đào tạo và sinh viên không được hưởng lợi từ thẩm quyền của giáo viên về một nguồn tri thức hợp pháp nhất. Mất đi nguồn tri thức hợp pháp này thì sinh viên cũng không thể tin tưởng vào những gì mình được truyền thụ. Đây sẽ là một sai lầm nghiêm trọng trong quan niệm dạy học.
Giả thuyết cơ bản thứ ba được đặt trong bối cảnh thế giới hiện đại, một xu hướng chạy theo chính chủ nghĩa thực dụng để đáp ứng những nhu cầu của xã hội. Việc chạy theo những nhu cầu của xã hội khiến cho những lý thuyết và phương pháp giáo dục càng ngày càng trở nên phức tạp và ở trong vòng luẩn quẩn. Đối với chủ nghĩa thực dụng, quan niệm về việc dạy học không còn là việc truyền tải kiến thức thuần tuý nữa, nhưng là một việc làm. Một người học được điều gì đó thông qua việc anh ta đã làm được, để chứng minh làm thế nào kiến thức được tạo nên, và kiến thức đó không phải là “kiến thức chết”. Hay nói cách khác, việc dạy học bây giờ không phải là việc dạy tri thức nữa nhưng là một xu thế rèn luyện kỹ năng. Hệ quả là của việc thay đổi này khiến cho cơ chế của việc học trở thành cơ chế của nghề nghiệp và công việc. Điều này cũng dẫn đến hệ lụy là việc vui chơi của trẻ cũng bị thay thế bằng công việc. Đây là một phương pháp giáo dục luẩn quẩn, bởi vì chính quan điểm của nền giáo dục tiến bộ cho rằng trẻ em học hỏi qua sự vui chơi tự nhiên: học mà chơi, chơi mà học. Thế nhưng, chủ nghĩa thực dụng lại thu hẹp thời gian chơi, ép giờ chơi của các em thành giờ làm việc. Như thế, theo Arendt, chính giả thuyết này tỏ rõ sự thất bại của giả thuyết thứ nhất khi giả thuyết này cho rằng tồn tại một thế giới tự trị của trẻ thơ.
Nói tóm lại, Arendt đã chứng minh rằng cả ba giả thuyết cơ bản của giáo dục tiến bộ đều mâu thuẫn và sai lầm. Những giả thuyết sai lầm này cho thấy các nhà giáo dục cần phải đặt lại vấn đề tương quan giữa giáo dục và chính trị. Liệu rằng giáo dục có thể được coi như là công cụ của chính trị hay không? Để trả lời được câu hỏi này, Arendt buộc phải suy tư về bản chất và vai trò đích thực của giáo dục.
Giáo dục và sự sinh hạ
Đứng trước cuộc khủng hoảng nghiêm trọng đang xảy ra trong lĩnh vực giáo dục, Arendt đã không nhìn nó như là một sự thất bại đầy bi quan. Trái lại, bà coi đây là cơ hội để suy tư giúp vén lên bức màn che khuất những vấn đề ở phía sau. Trong những nỗ lực đó, Arendt đã cố gắng khám phá ra bản chất cũng như vai trò đích thực của giáo dục.
Bản chất của giáo dục
Ngay từ đầu tác phẩm, Arendt đã khẳng định “…bản chất của giáo dục là sự sinh hạ (natality) con người đi vào trong thế giới.”[17] Đây là một tuyên bố rất ngắn gọn nhưng nó cho thấy quan điểm về giáo dục của Arendt khởi đi từ cái nhìn nền tảng về con người. Thật lý thú khi bà đã gắn triết lý giáo dục của mình với một biến cố về sự sinh hạ. Dĩ nhiên, các triết gia không thể xây dựng triết lý giáo dục mà không dựa cái nhìn nào đó về con người nhưng đây là lần đầu tiên biến cố sinh nở lại được xét trong tương quan với giáo dục. Nhiều người cảm thấy mối liên hệ giữa giáo dục và sự sinh hạ là một mối liên hệ rời rạc, tuy nhiên, với Arendt nó lại là bản chất của giáo dục.
Sự sinh hạ xét như là một biến cố đặc biệt của con người lần đầu tiên xuất hiện trong thế giới, liệu có liên hệ gì đến bản chất giáo dục hay không?
Sự sinh hạ
Phạm trù về sự sinh hạ không được Arendt khai triển nhiều với góc độ của hữu thể luận, nhưng được bà xếp vào một trong những điều kiện của con người. Trong tác phẩm Điều Kiện Con Người, Arendt viết: “… điều kiện cho sự hiện hữu của con người là – sự sống, sự sinh hạ (natality) và cái chết, thế giới (the world), tính đa nguyên và trái đất…”[18] Arendt quả thật nhìn sự hiện hữu của con người bằng cái nhìn của hiện tượng học hiện sinh, chứ không phải bằng một cái nhìn của một triết gia siêu hình học.[19] Chính vì vậy, bà đặt con người vào trong không gian và thời gian cũng như sự biến dịch của lịch sử tính luôn luôn diễn ra trong thế giới của con người.
Arendt là học trò của Heidegger, nên những lối suy tư của bà cũng ít nhiều chịu ảnh hưởng từ thầy mình, đặc biệt khi Arendt bàn về sự sinh hạ trong tác phẩm Điều Kiện Con Người cũng như trong tiểu luận Cuộc khủng hoảng trong Giáo dục. Khi bàn về hữu thể và thời gian, Heidegger đã cho rằng cái chết là ranh giới giúp xác định tình trạng hiện hữu của hữu thể. Ông xác định sự hiện hữu của hữu thể bằng một khái niệm “một hiện hữu hướng về cái chết (Sein zum Tode).” Dĩ nhiên, đây không phải lần đầu tiên triết học gắn sự hiện hữu của con người với cái chết. Từ thời xa xưa, Socrate, Plato và truyền thống triết học Tây Phương đã bận tâm nhiều đến hữu thể vượt qua ranh giới của đời sống con người. Điểm đặc biệt đối với Heidegger so với các triết gia thời trước chính là chiều kích hiện sinh và hiện tượng luận được làm nổi bật trong khái niệm của ông về con người, một hữu thể sinh ra được xem như một Dazein bị quăng ném (Geworfenheit) vào trong thế giới. Trái ngược với Heidegger, Arendt khẳng định khởi điểm sự hiện hữu của con người cần được xác định lại bằng sự sinh hạ (natality): con người sinh vào trong thế giới. Quan điểm này dường như cho thấy cái nhìn về con người của Arendt tích cực hơn so với Heidegger. Theo Bowen-Moore, điểm tích cực này đã được Arendt diễn giải trong tác phẩm “The Origins of Totalitarianism” mà bà cho rằng mỗi cuộc sinh nở loan báo hiện tượng huyền nhiệm về sự sinh hạ của con người và năng lực cho sự khởi đầu (tự khởi) của nó. Arendt đã viết: “…sự khởi đầu trước khi trở thành một sự kiện lịch sử, chính là năng lực tối thượng của con người; nói một cách chính trị, nó đồng nhất với sự tự do của con người.”[20]
Tuy nhiên, không phải Heidegger, nhưng là Augustine – một triết gia thời trung cổ – mới là người đã truyền cảm hứng cho bà suy tư về sự sinh hạ. Arendt đã chịu ảnh hưởng nhiều từ “triết học về sự sinh hạ” của Augustine, khi bà viết bài luận án tiến sĩ của mình với đề tài “Khái niệm về tình yêu của thánh Augustine.”[21] Khái niệm về sự sinh hạ được Arendt nhấn mạnh với hai tính chất “nguồn gốc” và “sự khởi đầu” của con người. “Thực tế quyết định xác định con người như là hữu thể có ý thức và trí nhớ là sự sinh nở (birth) hay ‘sự sinh hạ’ (natality), đó là, thực tế mà chúng ta đã đi vào thế giới ngang qua sự sinh nở (birth).”[22]
Nói tóm lại, Arendt xác định sự hiện hữu của con người ở trong thế giới chính là khoảng thời gian giữa sự sinh ra và chết đi (birth and death).[23] Tuy nhiên, sự sinh hạ mới thực sự là điều quan trọng nhất để nói đến sự hiện hữu của con người trong thế giới.
Con người đi vào trong thế giới
Ngay từ đầu bài tiểu luận “Khủng hoảng trong Giáo dục,” Hannah Arendt nói rõ khái niệm về sự sinh hạ là con người đi vào trong thế giới. Ở đoạn cuối của bài tiểu luận này, Arendt nhắc lại một cách rõ ràng hơn về sự sinh hạ là “thực tế là tất cả chúng ta đã đến trong thế giới ngang qua việc sinh nở và thế giới này không ngừng được làm mới ngang qua việc sinh ra.”[24] Arendt mượn lại hình ảnh những cuộc nhập cư vào nước Mỹ để mô tả những con người mới đi vào trong thế giới. Như thế, sự sinh hạ này không chỉ gắn liền với một biến cố một con người xuất hiện ngang qua sinh nở có tính sinh học (biology), mà còn nói lên một sự khởi đầu của cuộc hiện hữu trong một mối tương quan không thể tách rời của nó với thế giới. Sự sinh hạ diễn ra hằng ngày đến nỗi nó trở thành điều bình thường đối với tất cả mọi người. Tuy nhiên nó lại rất quan trọng và cần thiết bởi vì sự sinh hạ có những đặc tính liên hệ đến phẩm giá của con người và trao ban sự hiện hữu của con người cho thế giới.
Đặc tính về sự khởi đầu
Con người luôn ở trong một tiến trình trở thành (becoming), mà sự sinh hạ chính là điểm khởi của tiến trình này. Nếu không có nó, cũng sẽ không thể tiếp tục nói về một điều gì khác liên quan đến sự hiện hữu của con người. Ngay khi một con người bắt đầu xuất hiện, có mặt và hiện diện trong thế giới, người đó đã bắt đầu một tiến trình tháp nhập của hữu thể vào thế giới này. Cho dù điểm khởi đầu đó chỉ là một hài nhi bé nhỏ, yếu ớt và dễ bị tổn thương, nó vẫn là một con người trọn vẹn. Quả thế, Arendt nhấn mạnh đến sự khởi đầu rằng: “Sự khởi đầu mới…là khả năng cao nhất của con người…”[25] Như vậy, những khả năng chưa được lộ diện, những tiềm năng còn chưa được khám phá nơi con người lúc khởi đầu, đã quyết định cho sinh thể mới đó được hiện hữu trọn vẹn như là con người. Ngoài ra sự khởi đầu này “…vốn có trong sự sinh nở có thể làm cho bản thân nó gắn kết với thế giới …”[26] Nghĩa là một sự khởi đầu cho một mối tương quan với thế giới mà sau này nó sẽ trở thành một mối tương quan chính trị có tính phức đa.
Hơn nữa, trong cái nhìn của hiện tượng học hiện sinh, sự khởi đầu của một con người trong thế giới còn gắn liền với sự khởi đầu lặp đi lặp lại của cả thế giới. Sự hiện hữu của con người trong thế giới bắt đầu từ sự kiện sinh nở, khởi điểm hiện hữu của con người trong thời gian và không gian. Một cách cụ thể, con người được sinh ra trong một mái nhà của một gia đình, mà gia đình đó lại là một phần của thế giới. Sự sinh nở không chỉ giúp con người và thế giới này tồn tại theo sự biến đổi của thời gian và không gian mà nó còn không ngừng làm cho thế giới có những khởi đầu liên tục cho sự hiện hữu của chính nó. Như vậy, bản chất của sự khởi đầu này không chỉ nói lên sự bắt đầu hiện hữu của một hữu thể, mà còn nói lên một sự bắt đầu trong mối tương quan của hữu thể đó với thế giới.
Tính độc nhất và mới lạ
Nếu như sự sinh hạ của con người được xem như là một chu trình sinh học được lặp đi lặp lại của con người trong việc duy trì nòi giống, thì sự tồn tại của toàn nhân loại trên mặt đất hoàn toàn phụ thuộc một cách tất yếu vào điều kiện này. Sự lặp lại của những con người được sinh vào trong thế giới nối tiếp nhau, lần lượt thay thế cho nhau, nhưng lại không tạo nên những hữu thể giống nhau, mỗi hữu thể luôn có một sự khác biệt với những hữu thể khác. Mỗi người đều là một sự độc nhất, vì trước khi có người đó và ngay cả sau khi người đó chết thì không có ai khác giống như người đó. “Từ quan điểm chung và cần thiết này, điều có tính độc nhất phân biệt với mỗi người khỏi những người khác, phẩm tính vì đó mà đứa bé không chỉ là một người xa lạ trong thế giới nhưng là một điều gì đó đã không bao giờ ở đây trước kia.”[27] Cũng vì thế, chính nhờ sự độc nhất này mà con người có phẩm giá và được trân trọng như nhau. “Và điều này là có thể chỉ vì mỗi người là độc nhất, nên mỗi lần sinh nở thì một điều gì đó mới cách độc nhất đi vào trong thế giới. Với sự tôn trọng dành cho con người này có tính độc nhất, vì thực sự để nói rằng không ai đã ở đó trước đây…[28] Như thế việc con người đi vào thế giới cũng là một tiến trình độc nhất, là một điều gì đó mới và xa lạ. Mầu nhiệm của sự sinh hạ được bộc lộ bằng sự sống mới phát sinh qua sự kiện sinh nở. Do đó, thế giới này đã liên tục được duy trì và làm mới lại nhờ sự sinh nở.[29]
Nói tóm lại, tính độc nhất và mới lạ của hữu thể được sinh vào trong thế giới chính là đặc tính nổi bật của sự sinh hạ. Đặc tính độc nhất và mới lạ này giúp xác định căn tính và nguồn gốc của hữu thể con người, và để có thể trả lời cho thế giới biết “Bạn là ai?”[30]
Thế giới được tái tạo nhờ sự sinh hạ
Arendt đưa ra khái niệm về sự sinh hạ không chỉ dựa trên biến cố hạ sinh của con người mà thôi nhưng bà còn dựa trên khái niệm về thế giới. Sự sinh hạ nói rõ tương quan của con người với thế giới không thể bị bỏ qua. Nó đòi hỏi và thúc bách con người thực hiện cuộc hành trình “đi vào” trong thế giới. Chính khái niệm về thế giới sau sẽ làm rõ hơn cho quan điểm của Arendt về sự sinh hạ.
Khái niệm của Arendt về thế giới bắt nguồn từ cuộc đối thoại suốt đời của bà với thánh Augustine và với Heidegger về hữu thể ở nhà trong thế giới (being at home in the world). Khái niệm này cũng chịu ảnh hưởng từ F. Nietzsche, I. Kant, K. Jaspers và đặc biệt là kinh nghiệm của một người nữ Do thái phải đi tị nạn ở Đức, Pháp, Mỹ như một người không quốc tịch trong và sau thế chiến thứ 2.[31] Trả lời của bà về thế giới có nguồn gốc nảy lên từ câu hỏi: làm thế nào một người có thể yêu cả Thiên Chúa và lẫn yêu người thân cận của mình? Bà trích câu nói của Augustine để trả lời rằng: “Vì chúng ta gọi ‘thế giới’ không chỉ là công trình Thiên Chúa tạo nên, trời và đất… nhưng những dân cư của thế giới cũng được gọi là ‘thế giới’… Đặc biệt tất cả những người yêu thế giới được gọi là thế giới.”[32] Theo Arendt, tương quan giữa con người với thế giới chỉ tồn tại khi nói đến tình yêu đối với tha nhân. Khi nói việc yêu thế giới (amor mundi) cũng có nghĩa là yêu những người xung quanh mình (neighbour). Arendt phê bình quan điểm của Heidegger, khi bà cho rằng quan điểm của Heidegger về hữu thể-trong-thế giới (being-in-the-world) luôn có hàm ý của sự tha hoá, ghét bỏ, xa lánh. Điều đó sẽ dẫn hữu thể rơi vào tình trạng vô gia cư và lo lắng. Arendt đã đi một bước xa hơn khi bà cho rằng hữu thể trong thế giới luôn là hữu thể với những hữu thể khác.[33] Trong Điều Kiện Con Người, Arendt tuyên bố nhiệm vụ của bà là “truy nguyên sự tha hoá của thế giới hiện đại, sự rút chạy khỏi thế giới để đi vào không gian vũ trụ và sự rút chạy khỏi thế giới vào trong chính bản thân nó.”[34] Ngoài ra, Arendt còn phân biệt trái đất (the earth) và thế giới (the world) rằng: “Con người (human beings) sống trong trái đất, nhưng cư ngụ trong thế giới.”[35] Đối với Arendt, thế giới được nói đến còn bao gồm cả những sản phẩm, vật dụng do con người làm ra, tuy nhiên tự những đồ vật này không phải là thế giới. Đúng hơn, những gì xảy đến ở giữa những con người với nhau thiết lập nên thế giới này. Đặc biệt, Arendt nói đến một địa hạt công cộng là thế giới được con người chia sẻ cho nhau. Nói tóm lại, đối với Arendt, thế giới là không gian ở giữa mọi người với nhau.[36]
Tương quan hiện hữu giữa con người và thế giới
Trong tác phẩm cuộc Khủng hoảng trong Giáo dục, Arendt cho thấy thế giới này còn là một thế giới xa lạ đối với những người mới đến. Người mới đến cũng là những con người hoàn toàn xa lạ đối với thế giới bởi tính mới mẻ và độc nhất của nó. Vì thế, trên bình diện của cuộc hiện hữu, con người tương quan với thế giới như là tương quan giữa tính hữu hạn với tính vô hạn. Con người khởi đầu sự hiện hữu của mình trong một thế giới đã có trước nó và thế giới đó lại tiếp tục tồn tại sau khi nó chết.[37] Vì thế, để hài hòa sự khác biệt này, giáo dục phải hội tủ cả ba chiều kích của thời gian là quá khứ, hiện tại và tương lai. Sự hiện hữu khởi đầu của một hữu thể không thể và không được phép làm gián đoạn, đứt đoạn sự hiện hữu của thế giới.
Sự hiện hữu của con người là một phần không thể loại bỏ trong sự hiện hữu liên tục của thế giới. Hay nói cách khác, thế giới bao gồm những con người liên tục đi vào và đi ra khỏi nó. Sẽ không có điều gì đáng nói về tính ngắn ngủi và hữu hạn của con người trước một thế giới vô hạn và trường tồn, nếu như ta không xét đến những tác động và ảnh hưởng của những con người đó lên toàn bộ lịch sử của thế giới.[38] Xét một cách nào đó, trong thái độ của chủ nghĩa cá nhân và tiêu thụ thì con người không phải chịu trách nhiệm gì đối với thế giới mà mình không tiếp tục tồn tại và gắn bó. Quả thế, con người đang sống ở hiện tại sẽ không phải chịu nhiều hậu quả bởi những tác động của mình lên thế giới cho bằng những con người tương lai sẽ đi vào trong thế giới. Nói như thế để cho thấy rằng, Arendt không bao giờ chấp nhận một quan niệm tách rời sự hiện hữu của con người với sự hiện hữu của thế giới, cũng như sự tách rời trong tầm nhìn của giáo dục về quá khứ, hiện tại và tương lai. Đáp lại với quan niệm của chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tiêu thụ, Arendt cho rằng sự khởi đầu của con người cũng cho thế giới cơ hội tái tạo và làm mới lại chính mình.
Arendt vẫn nuôi một hy vọng về một thế giới không bị tha hóa (world-alienation) và già đi theo con người, bởi vì nó luôn luôn được làm mới lại với những con người mới đi vào trong thế giới với những khả năng kiến tạo và khởi đầu lại điều gì đó mới mẻ.
Hành Động nối kết con người với thế giới
Đối với Arendt, thế giới này có xu hướng tha hóa, và để cứu thế giới này thì cần đến một phép màu. Phép màu đó không là gì khác ngoài sự sinh hạ, vì “… thế giới này liên tục được làm mới lại ngang qua sự sinh nở.”[39] Để có thể khẳng quyết điều này, Arendt đã tận dụng quan niệm của mình về khả năng hành động của con người. Chính quan niệm về hành động này đã từng giúp bà làm nổi bật quan niệm về nhân học của mình trong tác phẩm Điều Kiện Con Người.[40]
Arendt khẳng định cách chắc chắn rằng, khả năng của hành động bắt nguồn từ hữu thể tính (ontologically). “… đó chính là sự ra đời của những con người mới và những sự khởi đầu mới, là hành động có khả năng nhờ hữu thể đó được sinh ra.”[41] Sự sinh hạ chính là hành động đầu tiên của con người dành cho thế giới, một hành động giúp con người đi vào trong thế giới. Chính vì thế, “một yếu tố của hành động, cũng chính là của sự sinh hạ, vốn có sẵn trong tất cả những hành động của con người.” [42] Hành động luôn gắn liền với một hành vi khởi phát của con người, do đó một hành động mới lạ cũng đến từ đặc tính độc nhất và mới lạ của sự sinh hạ.[43] Vì thế, hành động của con người còn có một vai trò hết sức đặc biệt, có khả năng nối kết con người với thế giới. Khả năng cao nhất của sự sinh hạ chính là hành động, nhờ đó con người trở thành một phần của thế giới.
Bên cạnh đó, theo Arendt, hành động đầu tiên luôn tương ứng với thực tế của việc sinh nở, là hiện tại hoá điều kiện con người về sự sinh hạ.[44] Như thế, hành động còn được nói đến như là một sự tham gia của con người vào thế giới chính trị. Hành động của một cá thể đối với thế giới được xét như là một trong những hoạt động có tính chính trị của nhân loại. Chính nhờ đặc tính của sự sinh hạ, ta hiểu được khả năng của những hành động mới lạ của những người có thể tác động vào trong thế giới. Nói cách khác, hành động của con người khi mang những đặc tính của sự sinh hạ mới có thể nối kết giữa con người và thế giới, đồng thời giúp con người tái tạo lại thế giới. Hành động dành cho thế giới có thể gọi là sự sinh hạ chính trị,[45] bởi vì một người đã trưởng thành phải có khả năng chịu mọi trách nhiệm với thế giới trong mọi hành động của mình.
Chỉ khi con người trưởng thành có những hành động tích cực thế giới mới hy vọng phục hồi và thoát khỉ xu hướng bị tha hóa. Chính nhờ những hành động đó những cuộc cách mạng thay đổi xã hội và thế giới sẽ diễn ra như lý tưởng của chủ nghĩa tiến bộ, chứ không phải là giáo dục. Hơn nữa, “giáo dục thuộc về trong số những hoạt động cơ bản và cần thiết nhất của xã hội con người.”[46] Giáo dục không thể tự mình thay đổi chính mình và thay đổi xã hội nếu không có những sự sinh hạ.
Nói tóm lại sự sinh hạ và hành động đã tạo nên mối dây liên hệ khăng khít giúp con người nối kết với thế giới. Tuy nhiên, Arendt không cho rằng mối liên hệ này có thể dùng để biện minh cho việc biến giáo dục trở thành công cụ phục vụ cho những mục đích chính trị. Vì thế, một lần nữa ta cần xác định lại vai trò đích thực của giáo dục.
Vai trò của giáo dục
Từ những gì đã trình bày ở trên, ta thấy rằng bản chất giáo dục mới chỉ nói lên được phần nào mối liên hệ giữa giáo dục và sự sinh hạ. Để làm rõ hơn mối liên hệ này, Arendt đã phân tích khá kỹ lưỡng vai trò của giáo dục. Bản chất của giáo dục chính là tiền đề để có thể nói đến vai trò của giáo dục. Vì thế, vai trò của giáo dục sẽ là yếu tố bổ túc cho quan điểm của Arend về giáo dục.
Chủ thể của giáo dục
Nếu Hannah Arendt cho rằng bản chất của giáo dục là sự sinh hạ – con người đi vào trong thế giới, thì một câu hỏi được đặt ra là: ai mới là chủ thể của giáo dục, con người hay thế giới? Arendt phê bình kịch liệt quan điểm của J.J. Rousseau về giáo dục khi ông cho rằng Giáo dục là công cụ của chính trị. Nếu như giáo dục là công cụ của chính trị thì chủ thể của giáo dục sẽ là chính trị, tức là những người lớn, người trưởng thành trong xã hội. Trong khi đó, Arendt cho rằng chính những đứa trẻ mới là chủ thể của giáo dục bởi vì “…đứa trẻ là người mới trong một thế giới xa lạ, nó đang ở trong tiến trình của sự trở thành (becoming), nó là một con người mới (a new human being) và nó là một con người đang trở thành.”[47] Vì thế, những đứa trẻ đi vào thế giới cần đến sự dẫn dắt của một người thầy, những người trưởng thành đã trải qua những giai đoạn như chúng. Bên cạnh đó, về cơ bản, giáo dục chỉ bao gồm hai hoạt động dạy và học. Đó chính là công việc của việc truyền đạt kiến thức của thầy cô cho học sinh. Do đó, những trẻ em chính là những đối tượng chủ yếu của hai hoạt động này. Trong khi đó, những người lớn thì được Arendt xếp vào những người trưởng thành, là những người đã được giáo dục.[48] Tuy nhiên, để làm rõ hơn cho điều này là “tại sao vẫn có người lớn đi học hoặc dạy học?” Arendt đã cố gắng phân biệt việc giáo dục một trẻ em với việc học và dạy học mà ở người lớn cũng có thể thực hiện trong suốt cuộc đời của họ.
Người ta không thể giáo dục mà không cùng lúc dạy dỗ; một sự giáo dục mà không học hỏi thì trống rỗng và vì thế nó dễ dàng chuyển hóa sang thuật hùng biện mang tính cảm xúc luân lý. Nhưng một người có thể dạy học khá dễ dàng mà không giáo dục, và một người có thể tiếp tục việc học cho đến những ngày cuối cùng của mình mà lý do không phải là để được giáo dục.[49]
Như thế, Arendt khẳng định lại một lần nữa rằng phạm trù giáo dục chỉ phù hợp với trẻ em, những người đi vào trong thế giới ngang qua sự sinh hạ. Những người lớn có khả năng tự học, tự nghiên cứu, hoặc thậm chí hoạt động trong lĩnh vực giáo dục đi nữa, thì giáo dục không phải là để phục vụ cho họ. Nhờ sự phân biệt này, Arendt tiếp tục giúp giáo dục nhận ra chính vai trò của nó là gì và với ai. Bởi vì trẻ em là chủ thể của giáo dục, nên vai trò của giáo dục là giúp trẻ em dần dần hòa nhập vào thế giới. Giáo dục giới thiệu chủ thể của mình vào trong thế giới. Giáo dục cũng không phải là thế giới nhưng là đại diện của thế giới để giới thiệu những đứa trẻ với thế giới.
Nguồn: https://sjjs.edu.vn/
Xem tiếp Phần 2
[1] H. Arendt, Between Past and Future, (NewYork: The Viking Press, 1961), 196.
[2] H. Arendt, Between Past and Future, 173.
[3] H. Arendt, Between Past and Future, 175.
[4] H. Arendt, Between Past and Future, 175.
[5] H. Arendt, Between Past and Future, 176.
[6] D. Ravitch, Left Back: A Century of Failed School Reforms, (NewYork: Simon & Schuster, 2000), tr. 53.
[7] D. Ravitch, Left Back: A Century of Failed School Reforms, 203.
[8] Các nhà giáo dục tiến bộ rất khôn ngoan khi cam kết ‘trường học như là một mô hình cộng đồng dân chủ’. Trường học sẽ làm nên cuộc cải cách giáo dục và trở thành một khí cụ cho cuộc cải cách xã hội. Cuộc cải cách xã hội nhờ giáo dục mang tính tổng thể xoay quanh những nguyên lý của công bằng xã hội và bình đẳng dân chủ. Xem thêm tại A. Schutz, Social Class, Social Action, and Education – The Failure of Progressive Democracy, (New York: Palgrave Macmillan, 2010), 10-11.
[9] H. Arendt, Between Past and Future, 174.
[10] Một thí dụ điển hình cho những cải cách của các nhà giáo dục tiến bộ đưa ra là dạy trẻ em đọc chữ. Thay vì dạy các trẻ em học phát âm cơ bản theo mẫu tự abc truyền thống, các nhà giáo dục tiến bộ dạy các học sinh của mình học thuộc từng từ vựng. Rudolf Flesch cho rằng điều này chẳng khác gì cho các em học chữ Trung Quốc, vốn hoàn toàn xa lạ. Ông cũng chỉ ra phương pháp này đã gây khó khăn cho các học sinh như thế nào. Hệ quả của phương pháp này là có rất nhiều trẻ em “mù chữ” (chậm chạp hoặc thiếu khả năng trong việc đọc). Cuộc bút chiến giữa các nhà giáo dục đã gây một sự chú ý của toàn xã hội, và một ủy ban khoa học đã nghiên cứu và giải quyết vấn đề này. Kết quả cho thấy rằng, các nhà giáo dục tiến bộ đã đi sai về mặt phương pháp. Vì thế các gia đình cũng mất niềm tin vào các trường công lập vốn áp dụng triệt để khoa sư phạm của các nhà giáo dục tiến bộ cho con cái của họ. Xem thêm tại Sam Blumenfeld, Why Johnny Still Can’t Read, thenewamerican.com, http://www.thenewamerican.com/reviews/opinion/item/10752-why-johnny-still-cant-read (accessed 5th August 2016).
[11] H. Arendt, Between Past and Future, 179.
[12] H. Arendt, Between Past and Future, 178.
[13] Chủ nghĩa toàn trị “tước bỏ năng lực phán đoán và khả năng hành động chung. Thay cho tính đa dạng của những hành động khác nhau là sự tập thể hoá và đồng dạng hoá. Nó phân hoá nhân cách. Như tôi sẽ phân tích khi nhìn vào trại tập trung của chế độ quốc xã, nó muốn làm cho con người trở nên thừa thãi.” B.V.N.Sơn, “Chat” với Hannah Arendt, (Tp. HCM: nxb Trẻ, 2016), 26.
[14] H. Arendt, Between Past and Future, 180.
[15] “Sau khi các đứa trẻ được sinh ra, chúng sẽ được giao cho những người chuyên môn trông coi,… Con cái của các cha mẹ giống tốt sẽ được đưa tới nơi tập thể ở một khu vực riêng biệt trong thành phố, ở đó chúng được chăm sóc bởi các bảo mẫu. Còn con cái của ác cha mẹ giống xấu sẽ được đưa đi một nơi kín đáo không cho biết…” B. Jowett & M.J. Knight, Plato Chuyên Khảo, Biên dịch Lưu Văn Hy & Trí Tri, (Tp HCM: Nxb Văn Hoá Thông Tin, 2008), 140-141.
[16] H. Arendt, Between Past and Future, 176.
[17]H. Arendt, Between Past and Future, 74.
[18] H. Arendt, The Human Condition, (Chicago: The University of Chicago Press, 1958), 11.
[19] Bà đã tự nguyện phân biệt và phủ nhận cách tiếp cận của mình như là cách tiếp cận của Siêu hình học, hơn nữa chính nhờ cách tiếp cận hiện tượng học hiện sinh, Arendt mới có thể đi vào trong địa hạt của chính trị. Xem thêm tại Hannah Arendt, The Human Condition, 9
[20] P. Bowen-Moore, Hannah Arendt’s Philosophy of Natality, (London: The Macmillan Press, 1989), 5.
[21] P. Bowen-Moore, Hannah Arendt’s Philosophy of Natality, tr. 2-5.
[22] P. Hayden, Hannah Arendt Key Concepts, (New York: Routledge, 2014), 26.
[23] H. Arendt, The Human Condition, 97.
[24] H. Arendt, Between Past and Future, 195.
[25] H. Arendt, The Origins of Totalitarianism, (New York: Harcourt Brace Jovanovich, Inc., 1973), 479.
[26] H. Arendt, The Human Condition, 9.
[27] H. Arendt, Between Past and Future, 189.
[28] H. Arendt, The Human Condition, 178.
[29] H. Arendt, Between Past and Future, 196.
[30] H. Arendt, The Human Condition, 178.
[31] P. Hayden, Hannah Arendt Key Concepts, 52.
[32] P. Hayden, Hannah Arendt Key Concepts, 54.
[33] P. Hayden, Hannah Arendt Key Concepts, 57.
[34] P. Hayden, Hannah Arendt Key Concepts, 57.
[35] P. Hayden, Hannah Arendt Key Concepts, 59.
[36] P. Hayden, Hannah Arendt Key Concepts, 59.
[37] H. Arendt, Between Past and Future, 185.
[38] H. Arendt, Between Past and Future, 192
[39] H. Arendt, Between Past and Future, 196.
[40] Trong giới hạn của cuộc hiện hữu của con người, giữa điểm khởi đầu là sự sinh hạ và điểm kết là sự lìa bỏ thể giới, con người sống dựa trên ba loại hành vi: lao động (labour) tạo tác (work) và hành động (action). Trong đó, Arendt phân biệt ba loại hành vi này khi cho rằng: lao động giúp con người duy trì sự sống, tạo tác khắc phục tính chóng qua của con người còn hành động thì liên quan đến thân thể chính trị. Cả ba hành vi này đều tác động đến thế giới và tạo cho thế giới một sản phẩm hay một môi trường sống cho con người. Lao động có thể lấy những chất liệu từ thế giới để tạo nên những sản phẩm mới giúp con người sinh tồn, còn tạo tác giúp con người sáng tạo các sản phẩm bằng chính lý trí của mình. Đối với “hành động”, con người lấy chất liệu từ khả năng của chính mình để trao ban cho thế giới. Như là những món quà, những khả năng này góp phần làm biến đổi thế giới. Xem thêm tại H. Arendt, The Human Condition, 9.
[41] H. Arendt, The Human Condition, 247.
[42] H. Arendt, The Human Condition, 9.
[43] H. Arendt, The Human Condition, 178.
[44] H. Arendt, The Human Condition, 178.
[45] P. Bowen-Moore, Hannah Arendt’s Philosophy of Natality, 42.
[46] H. Arendt, Between Past and Future, 185.
[47] H. Arendt, Between Past and Future, 185.
[48] H. Arendt, The Human Condition, 196.
[49] H. Arendt, The Human Condition, 196.