Quan Điểm Của Hannah Arendt Về Giáo Dục Trong Tác Phẩm Crisis In Education (P2)
Nhìn vào một đất nước phát triển phồn thịnh như Hoa Kỳ, hẳn là không nhiều người cho rằng nước này đã từng trải qua một cuộc khủng hoảng lớn trong lĩnh vực giáo dục. Hannah Arendt (1906 – 1975) tuy không phải là một triết gia giáo dục nhưng bà đã dành một chương trong tác phẩm Between Past and Future để nói về Cuộc Khủng Hoảng Trong Giáo Dục (The Crisis in Education). Dựa trên lối tiếp cận hiện sinh về con người và trực giác sắc bén trong lĩnh vực chính trị, Hannah Arendt đã cố gắng làm sáng tỏ mối quan hệ giữa giáo dục và chính trị. Bài viết này là một nỗ lực nhỏ nhoi của người viết, trình bày những suy tư độc đáo của Hannah Arendt về giáo dục liên quan đến những vấn đề của thẩm quyền và chính trị vốn là những yếu tố đã có những tác động đến cuộc khủng hoảng trong giáo dục. Trước hết, bài viết sẽ trình bày sơ lược về cuộc khủng hoảng trong giáo dục ở Mỹ. Tiếp đến sẽ là những suy tư về giáo dục liên quan đến “sự sinh hạ” và chính trị. Cuối cùng là những nhận định cá nhân về triết lý giáo dục của Hannah Arendt.
Tiếp theo từ Phần 1
Giáo dục là trung gian giữa môi trường tư và môi trường công
Ngoài việc nói nói đến sự sinh hạ như một bước khởi đầu cho một người mới đi vào trong thế giới ngang qua việc sinh nở, Arendt còn nhắm đến một sự sinh hạ khác gắn liền với giáo dục. Giáo dục thực hiện vai trò giới thiệu người mới vào trong thế giới, nên nó cũng là một sự sinh hạ hiểu theo cách con người được hoà nhập vào thế giới. Đây chính là giai đoạn trung gian và chuyển tiếp từ môi trường tư của gia đình sang môi trường công của xã hội. Tuy nhiên, để bàn về chính điều vừa được nói, trước hết chúng ta hãy cùng tìm hiểu quan điểm của Arendt về môi trường công và môi trường tư.
Môi trường tư (private realm) và môi trường công (public realm) đã được Arendt nói đến nhiều trong tác phẩm Điều Kiện Con Người. Cả hai cặp phạm trù này được Arendt làm nổi bật hơn trong hoàn cảnh của giáo dục. Trước hết, Arendt cho rằng môi trường tư là môi trường của cá nhân bị giới hạn bởi chính gia đình, nơi mà đứa trẻ được sinh ra và lớn lên cho tới lúc trưởng thành. Môi trường này cần thiết vì nó đảm bảo cho sự phát triển tự nhiên của trẻ trong một sự kín đáo và an toàn. Chỉ trong không gian riêng tư của gia đình mới có đầy đủ những sự quan tâm, chăm sóc cần thiết của cha mẹ và các thành viên khác dành cho trẻ. Sự phát triển của trẻ hoàn toàn phụ thuộc vào tình yêu giữa các thành viên trưởng thành trong gia đình dành cho nó. Trong khi đó, môi trường công là một môi trường của xã hội gồm những con người tự do và bình đẳng trong việc thể hiện quan điểm riêng của mình. Môi trường này chỉ dành cho những người trưởng thành có khả năng đảm nhận những công việc chung của cộng đồng. Sự khác biệt giữa hai môi trường này đã tạo nên một ranh giới bất khả xâm phạm.
Theo Arendt, sự xung đột giữa những người mới và thế giới có thể xảy ra, bởi vì chính khả năng có tính cách mạng của những người mới có thể phá hủy thế giới và ngược lại, tính dân chủ và bình đẳng của thế giới có thể làm tổn thương đến những đứa trẻ. Sự xung đột này phải được ngăn chặn nhờ một lá chắn bảo vệ là gia đình.
Bốn bức tường này, nơi mà cuộc sống gia đình riêng của mỗi người thì sống động, tạo nên một cái lá chắn chống lại thế giới và đặc biệt chống lại phương diện công cộng của thế giới. Chúng bao gồm một nơi an toàn kiên cố, mà không có nó thì không một sinh thể sống nào có thể phát triển được.[50]
Như thế, gia đình là vỏ bọc để bảo vệ đứa trẻ trước những tác động có thể có từ thế giới và ngược lại, gia đình ngăn cản đứa trẻ phá hoại trật tự có sẵn của thế giới. Trong khi đó, giáo dục được Arendt định rõ vị trí như là một giai đoạn quá độ trong sự phát triển của đứa trẻ được chuyển tiếp từ môi trường tư sang môi trường công.
Thường thì đứa trẻ được giới thiệu lần đầu vào thế giới ở trường học. Bấy giờ trường học không có nghĩa là thế giới… đúng hơn nó là thể chế mà chúng ta đặt vào chính giữa phạm vi riêng tư của gia đình và thế giới để tạo nên một sự chuyển tiếp từ gia đình ra thế giới một cách khả thi.[51]
Nói tóm lại, vai trò của giáo dục là trở thành một trung gian cho sự chuyển tiếp từ môi trường tư sang môi trường công. Ở vị trí trung gian này, giáo dục cần phải đảm bảo những điều kiện cần thiết cho sự phát triển bình thường của trẻ. Đó cũng chính là việc gìn giữ tính mới mẻ của những người mới đi vào trong thế giới. Tuy nhiên, những điều kiện cần thiết cho một môi trường trung gian đã bị giáo dục hiện đại thay đổi.
Giáo dục hiện đại biến đổi vai trò của giáo dục
Theo Arendt, giáo dục hiện đại đã thay đổi vai trò của giáo dục khi nó cố thiết lập một thế giới riêng cho những đứa trẻ, nghĩa là đưa môi trường công vào môi trường tư. Chính sự xóa bỏ ranh giới này đã phá vỡ môi trường tư vốn an toàn và kín đáo cho sự phát triển tự nhiên của mỗi đứa trẻ. Cũng vì thế, hệ quả của việc xóa bỏ ranh giới này của giáo dục hiện đại khiến cho phẩm chất cốt yếu của trẻ bị phá hủy. “Bất cứ nơi nào đứa trẻ được đặt vào trong thế giới mà không có sự đảm bảo về tính riêng tư và an toàn thì phẩm chất cốt yếu của nó sẽ bị phá hủy.”[52] Nếu một xã hội hiện đại cố vứt bỏ một cách triệt để sự phân biệt giữa điều riêng tư cá nhân (quyền con người) và điều chung công cộng (trách nhiệm chính trị), thì nó sẽ làm tăng thêm những khó khăn rất lớn cho những đứa trẻ. Dường như Arendt đồng quan điểm với J.J. Rousseau về điểm này: trẻ em là những người cần được để cho phát triển một cách tự nhiên, được bảo đảm cho một sự ẩn náu không bị phá rối.
Sự vứt bỏ ranh giới giữa môi trường công và môi trường tư của xã hội hiện đại nhằm mục đích giải phóng trẻ em khỏi những áp đặt của người lớn lên bản thân chúng. Giáo dục hiện đại bảo đảm rằng: “Mục đích duy nhất của nó chính là phục vụ trẻ em và chống lại những phương pháp trong quá khứ bởi vì những điều này đã không đem đến lợi ích đủ cho bản chất nội tâm và những nhu cầu của trẻ.”[53] Arendt cho rằng, sự giải phóng này giống với việc giải phóng lao động và giải phóng phụ nữ khỏi những phân biệt đối xử, những người cần có tiếng nói và cần được lắng nghe trong xã hội. Tuy nhiên, việc giải phóng này một khi được áp dụng cho trẻ em là một việc chống lại chính trẻ em, “…là một sự bỏ rơi và phản bội trong trường hợp của những đứa trẻ.”[54] Trong khi đó, giáo dục hiện đại lại nhân danh việc chuẩn bị tương lai cho những người trẻ, giúp người trẻ tự mình khám phá và phát huy những khả năng của mình đặc biệt là khả năng sống độc lập và tự trị ngay từ ban đầu. Điều mà họ không ngờ được là đây cũng là cơ hội cho những mầm mống của chủ nghĩa cá nhân lớn lên trong ý thức của người trẻ và nó sẽ trở thành căn bệnh trầm kha của cộng đồng. Những người trẻ ở đây được Arendt nói đến là những người đang được dẫn vào thế giới ngang qua những việc học tập và giảng dạy ở các nhà trường. Như thế, giáo dục hiện đại đã làm xáo trộn trật tự giữa địa hạt công và tư, và sự xâm lấn giữa hai địa hạt này sẽ để lại hậu quả khó lường trong thế giới ngày nay.
Quay trở lại với vai trò đích thực của giáo dục, Arendt cho rằng trường học không phải là thế giới nhưng là một đại diện của thế giới. Những nhà giáo dục là những người trưởng thành có trách nhiệm dẫn dắt những đứa trẻ đi vào thế giới. Trách nhiệm của nhà giáo dục có một tầm quan trọng rất lớn, bởi vì nó bao gồm trách nhiệm với thế giới và trách nhiệm đối với sự phát triển của trẻ. Theo Arendt, khi xét đến trách nhiệm với thế giới, các nhà giáo dục cần phải có thẩm quyền (authority) mà nhờ đó, giáo dục có thể thực hiện nhiệm vụ mà thế giới trao cho. Chúng ta sẽ cùng phân tích hai phạm trù này dưới góc độ của lĩnh vực chính trị ở phần tiếp theo.
Nói tóm lại, Arendt tiếp tục xác định lại vai trò của giáo dục một cách rõ ràng hơn, bao gồm trách nhiệm hướng dẫn trẻ em đi vào thế giới đang biến đổi không ngừng và trách nhiệm bảo đảm sự tồn tại liên tục của thế giới. Giáo dục đứng ở giữa và cần phải dung hòa cũng như giải quyết những xung đột có thể xảy ra giữa hai trọng trách này.
Giáo dục và chính trị
Trong mục đầu tiên, chúng ta đã thấy những phê bình của Arendt dành cho những nhà tư tưởng giáo dục tiến bộ khi họ biến giáo dục trở thành một công cụ của chính trị. Chúng ta cũng đã tìm hiểu yếu tố “sự sinh hạ” giúp xác định vai trò của giáo dục như thế nào trong phần hai. Tiếp tục với những phân tích của Arendt trong tác phẩm Cuộc khủng hoảng trong Giáo dục chúng ta sẽ thấy rõ hơn tương quan giữa giáo dục và chính trị. Trước hết, chúng ta hãy tìm hiểu khái niệm chính trị của Arendt.
Arendt không nhận mình là một triết gia chính trị bởi vì bà cho rằng các triết gia chính trị từ thời Plato cho đến nay đều mắc phải một sai lầm đó là “… đã bỏ qua điều kiện nền tảng của chính trị: mỗi một người có thể hành động và bắt đầu một điều gì đó mới, nó vẫn tiếp tục tồn tại giữa phần lớn những con người nhân loại (plural human being).”[55] Vì thế, trong những tác phẩm giữa những năm 50, Arendt đã cố gắng tái định hướng nguyên tắc cơ bản của lý thuyết chính trị. Bà đã cố gắng phê bình và tháo gỡ cấu trúc những tác phẩm kinh điển từ Plato đến Marx. Những suy tư chính trị của bà thách thức lại hầu hết những quan niệm triết học chính trị truyền thống của phương Tây phát triển trong thế giới hiện đại, bao gồm chủ nghĩa bảo thủ, chủ nghĩa tự do hay chủ nghĩa xã hội. Dù vậy, Arendt đã kế thừa quan điểm “con người là một sinh vật chính trị,” vốn bắt nguồn từ Aristotle và được Augustine gìn giữ và phát triển trong thời trung cổ, để đưa triết học chính trị hiện đại trở về với bản chất ban đầu của nó.
Arendt cho rằng “chính trị là một vấn đề của con người trong việc chia sẻ một thế giới chung và một không gian chung của hiện tượng để những những lợi ích chung có thể xuất hiện và được ăn khớp với nhau từ những quan điểm khác biệt.”[56] Khái niệm này có thể khiến nhiều người nhầm tưởng rằng bà thuộc chủ nghĩa cộng đồng (communitarianism) nhưng thực sự bà đã không đồng hóa tư tưởng chính trị của mình với chủ nghĩa này.[57] Quả vậy, khái niệm của bà về chính trị được dựa trên ý tưởng về bổn phận tích cực của công dân (active citizenship), đó là giá trị và tầm quan trọng của cuộc bàn cãi có tính tập thể và tính cam kết đối với tất cả những vấn đề ảnh hưởng đến cộng đồng chính trị chung. Những công dân cần phải có một không gian công cộng để trao đổi và quyết định những vấn đề về lợi ích chung. Vì thế, Arendt đề cao hành động và diễn ngôn trong mọi hoạt động của con người, bà cho rằng trung tâm của mọi hoạt động chính trị là hành động.[58] Khái niệm của Arendt về hành động và diễn ngôn chính trị trong thực tế có mục đích tái kích hoạt tác nhân và hiệu quả chính trị, và khớp nối những điều kiện này cho việc thực hành quyền công dân cách tích cực và quyền dân chủ tự quyết.[59] Căn cứ vào những điều này, Arendt đã chỉ ra sai lầm trọng yếu của J.J Rousseau và các nhà giáo dục tiến bộ.
Địa hạt tiền-chính trị hay chính trị
Nếu “giáo dục được coi như là công cụ của chính trị và hoạt động chính trị là hình thức của giáo dục”[60] thì địa hạt giáo dục đang bị lôi kéo vào trong địa hạt của chính trị. Sự trộn lẫn này sẽ gây ra những hệ quả tiêu cực cho giáo dục mà tôi đã đề cập trong phần về ba giả thuyết cơ bản của giáo dục tiến bộ. Trong tác phẩm Cuộc khủng hoảng trong Giáo dục, điều mà Arendt cố gắng làm là phân biệt giữa địa hạt giáo dục với địa hạt chính trị. Cho dù cả hai địa hạt có tương quan nội tại với nhau[61] nhưng đối với Arendt chúng thực sự khác biệt nhau.
Theo Arendt, môi trường riêng tư của gia đình và nhà trường chưa thể coi là môi trường chính trị, bởi vì nơi gia đình và nhà trường, thực sự chỉ tồn tại những mối tương quan cha mẹ và con cái, thầy cô và học sinh. Đây cũng chính là mối tương quan giữa những người trưởng thành với những người chưa trưởng thành, những người đã được giáo dục và những người chưa được giáo dục, những người đang tham gia chính trị và những người có tiềm năng tham gia vào chính trị. Arendt đã xếp môi trường gia đình và nhà trường thuộc về địa hạt tiền-chính trị (the pre-political realms).[62]
Trong việc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em, tương quan tiền-chính trị không thể thiếu thẩm quyền (authority) của người lớn đặt lên trẻ em, tức là cha mẹ hay thầy cô là người có thẩm quyền dạy dỗ và hướng dẫn con cái hay học sinh của họ. Đây không phải là một tương quan bình đẳng hay ngang hàng, nó càng không hạ thấp vai trò của cha mẹ và thầy cô đối với con cái và học sinh. Bên cạnh đó, những học sinh là những người đang trong tiến trình “trở thành” (becoming) những công dân sẽ có những đóng góp chính trị trong tương lai. Do đó, trong môi trường nhà trường, chúng ta không thể chấp nhận sự tồn tại của những hoạt động liên quan đến chính trị. Tuy nhiên, theo Arendt trong thực tế điều này đã xảy ra khiến cho nền giáo dục rơi vào cuộc khủng hoảng. Chính trị hóa nền giáo dục đã tước đi thẩm quyền của người giáo viên trong việc dạy dỗ các học sinh. Arendt đấu tranh để đòi hại thẩm quyền cho giáo dục, bà khẳng định rằng “…chính bản chất của nền giáo dục hiện đại cũng không thể gạt bỏ thẩm quyền của giáo dục…”[63] bởi vì các trẻ em không thể ở trong tình trạng tự trị như những người lớn trong tiến trình phát triển của chúng. Trẻ em luôn phải lệ thuộc vào người lớn trong quá trình phát triển của mình.
Như thế, đối với Arendt, thẩm quyền là điều thiết yếu không thể không có trong địa hạt tiền-chính trị của lĩnh vực giáo dục. Tuy nhiên, phải chăng Arendt tự mâu thuẫn với chính mình khi đưa yếu tố thẩm quyền vốn thuộc về địa hạt của chính trị vào trong địa hạt của tiền-chính trị? Bởi vì khi nói đến thẩm quyền, người ta vẫn thường hiểu đây là mối tương quan chính trị giữa kẻ thống trị và người bị trị. Phân tích sau đây cho thấy, trong việc đòi lại thẩm quyền cho giáo dục Arendt đã trả khái niệm thẩm quyền về đúng bản chất ban đầu của nó.
Phân biệt chính trị với thẩm quyền
Thẩm quyền (authority) là khái niệm bổ trợ rất quan trọng trong quan niệm chính trị của Arendt. [64] Trong khái niệm về thẩm quyền, Arendt nói đến một thứ “thẩm quyền luôn đòi hỏi sự vâng phục, cách chung nó không được lẫn lộn với hình thức sức mạnh và bạo lực.”[65]
Khái niệm này đã được bà thừa hưởng từ quan niệm chính trị của Plato và Aristotle. Đối với Plato, “…thẩm quyền ngụ ý một sự vâng phục mà trong đó con người vẫn có sự tự do của họ…”[66] Còn trong khái niệm thẩm quyền của Arendt, bà nhấn mạnh đến tính thực thi của thẩm quyền mà không có sự thuyết phục bằng lý trí cũng như cưỡng bách bằng áp bức hay bạo lực. Tính thực thi của thẩm quyền dựa trên sự tôn trọng đối với người có chức vụ và sự thi hành của cấp dưới. Ngoài ra, khái niệm này còn cho thấy tầm quan trọng của mối quan hệ có thứ bậc của thẩm quyền có bổn phận cho sự bàn hỏi. Trong đó, khả năng của thẩm quyền bị giới hạn bởi lời khuyên, thụ giáo, đề xuất hay đưa ra hướng dẫn hơn là mệnh lệnh hay chỉ thị.[67] Nói tóm lại, Hannah muốn đưa ra khái niệm thẩm quyền trở về tình trạng đích thực ban đầu của nó, tức là thẩm quyền không bị chi phối bởi sức mạnh và bạo lực. “Quyền lực loại trừ việc sử dụng những khí cụ bên ngoài của sự ép buộc; vì thế một khi sức mạnh được sử dụng, quyền lực tự nó đã thất bại.”[68] Thẩm quyền này được trao cho một người nào đó bởi một tập thể, thông qua những cam kết và thoả thuận giữa mọi người trong tập thể đó.[69] Như vậy, Arendt giúp triết học chính trị phân biệt thẩm quyền với sự cưỡng bách, sức mạnh và bạo lực.
Quan niệm của Arendt về thẩm quyền còn thể hiện một cách hiểu tách biệt với chính trị. Bởi vì đối với Arendt, tính hành động trong chính trị đòi hỏi sự bình đẳng trong việc đưa ra các ý kiến, còn thẩm quyền thì nhắm đến sự vâng phục và thi hành theo sự hướng dẫn của người khác. Trong những phản tỉnh về cuộc khủng hoảng trong giáo dục, Arendt tiếp tục chỉ ra tầm quan trọng của thẩm quyền trong lĩnh vực giáo dục, trong khi đó chính trị lại không được phép can dự vào địa hạt của giáo dục. Khi áp dụng khái niệm thẩm quyền cho giáo dục, bà cho rằng thẩm quyền hợp pháp của giáo viên không thể bị tước đoạt, cũng như không thể có sự bình đẳng giữa thầy cô và học trò. Bởi vì, thẩm quyền của giáo viên đem lại tính chính thống và hợp pháp cho những tri thức mà họ truyền đạt cho học sinh. Tuy nhiên, thẩm quyền trong giáo dục không phải đến từ phẩm chất của giáo viên, nhưng đến từ trách nhiệm mà họ phải đảm nhận đối với thế giới và đối với trẻ em. Như vậy, thẩm quyền không đến từ chính trị nhưng đến từ trách nhiệm được trao phó.[70]
Nói tóm lại, Arendt đã đưa thẩm quyền trong giáo dục về với bản chất nguyên tuyền của nó. Bản chất này không chịu bất kỳ sự nhầm lẫn nào với những công cụ của địa hạt chính trị. Như thế, để thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng, giáo dục cần lấy lại thẩm quyền của mình. Giáo dục có thể bỏ qua chính trị nhưng không thể bỏ thẩm quyền của nó. Bởi vì nếu giáo dục từ bỏ thẩm quyền mà nó phải có thì cũng đồng nghĩa với việc những nhà giáo dục, các giáo viên và cả những người lớn từ chối đảm nhận trách nhiệm đối với thế giới, từ chối việc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em. Dù giáo dục hướng học sinh đến một sự tham gia tích cực vào môi trường chính trị trong tương lai, nó cũng không đảm nhận những hoạt động thuộc chính trị.
Đến đây, ta có thể khẳng định cuộc khủng hoảng của giáo dục chính là vấn đề của thẩm quyền hơn là vấn đề của chính trị. Chính trị càng không phải là giải pháp để giải quyết cuộc khủng hoảng trong giáo dục, bởi vì nó không được phép can thiệp vào giáo dục dù dưới bất kỳ hình thức nào. Nhưng để đẩy vấn đề này cho đến tận cùng của nó, Arendt đặt lại vấn trách nhiệm của các nhà giáo dục dựa trên tình yêu của những người lớn không chỉ đối với trẻ em mà còn với cả thế giới.
Tình Yêu dành cho Thế Giới (Amor mundi)
Dành lại thẩm quyền cho giáo dục, Arendt tiếp tục cho thấy quan điểm của bà về thế giới rằng việc từ bỏ thẩm quyền là từ bỏ đảm nhận trách nhiệm đối với thế giới. Đây chính là biểu hiện rõ ràng của việc con người chính trị ngày nay đang ghét bỏ, xa lánh và muốn thoát khỏi thế giới. Do đó, theo Arendt, giáo dục không nên tạo ra sự chia cắt giữa con người với thế giới nhưng trái lại giáo dục cần phải giúp con người nối kết lại và đến gần với thế giới hơn. Chính tình yêu là mối dây liên kết bền chặt con người với thế giới.
Arendt cho rằng: “Giáo dục là nơi mà ở đó chúng ta quyết định liệu chúng ta có yêu mến thế giới đủ để đảm nhận những trách nhiệm vì nó và nhờ đó cứu nó khỏi sự phá hủy.”[71] Như thế giáo dục của Arendt không phải là để giải quyết các mâu thuẫn cho bằng nhắm đến tình yêu đi kèm với trách nhiệm của con người dành thế giới. Thứ tình yêu này phát sinh từ sự sinh hạ, bởi vì sự sinh hạ chính là kinh nghiệm của con người hướng về thế giới và những lợi ích chung của nó.[72] Những kinh nghiệm từ thực tế của sự sinh hạ: những người mới đi vào trong thế giới, trở thành một điều đáng cho giáo dục phải quan tâm và lo lắng cho tương lai của thế giới.[73]
Trong suy tư triết học, dường như chúng ta ít nhìn thấy các triết gia vận dụng những cảm xúc, hay còn gọi là lý lẽ của con tim để củng cố và giải quyết cho những vấn đề của mình. Nhưng trong những suy tư rất hiện sinh này, Arendt đã không bỏ quên thứ lý lẽ này. Đó là việc bà cho rằng “tình yêu dành cho thế giới” (Amor mundi) là điều kiện tất yếu của mối tương quan giữa con người và thế giới. Do đó, những phản tỉnh về lĩnh vực chính trị và giáo dục của Arendt không phải là những suy tư khô khan. Arendt cho phép tình yêu, vốn là một phạm trù chỉ có thể nói trong tâm lý học, trở thành mối dây liên kết duy nhất có thể cứu vãn sự chia lìa của con người với thế giới. Nói tóm lại, đối với Arendt giáo dục phải là một nơi dạy cho trẻ em biết yêu thế giới, vì chỉ có tình yêu mới giúp tạo nên sự sống mới, những sự khởi đầu mới cho con người và cho thế giới.
Nhận Định Triết Lý Giáo Dục Của Hannah Arendt
Trong bài tiểu luận Cuộc khủng hoảng trong Giáo dục, Hannah Arendt không chỉ có những phê bình nhưng bà có những đóng góp khá quan trọng cho triết lý giáo dục của thế kỷ XX. Sau đây là những đóng góp của bà và một vài nhận định của người viết đối với những suy tư độc sáng của bà.
Những đóng góp của Hannah Arendt cho lĩnh vực giáo dục
Thứ nhất, phản tỉnh của Arendt dựa trên cái nhìn hiện sinh về con người giúp giáo dục xác định lại bản chất của mình là sự sinh hạ. Nó khiến cho giáo dục phải nhìn lại sứ mạng trở thành môi trường trung gian giữa trẻ em và thế giới. Nhờ đó, giáo dục lãnh nhận thẩm quyền thực sự của mình tương ứng với trách nhiệm của nó. Giáo dục không thể cho phép quan niệm dân chủ bình đẳng giữa giáo viên và học sinh vốn lấy đi thẩm quyền truyền dạy kiến thức của nó. Thẩm quyền này bảo đảm kiến thức được truyền thụ từ giáo viên cho học sinh có tính hợp pháp. Học sinh đồng thời phải tuân theo thẩm quyền chính đáng này để rèn luyện và trau dồi kiến thức, để có được sự hiểu biết về thế giới và được tháp nhập hoàn toàn vào thế giới người lớn.
Thứ hai, Arendt rõ ràng muốn địa hạt của giáo dục phải được tách biệt và độc lập khỏi địa hạt chính trị. Nó thiết lập nên một ranh giới giữa không gian riêng tư của những đứa trẻ với không gian công cộng của người lớn. Tuy nhiên, ranh giới này tuyệt đối không phải là một bức tường ngăn cách giữa trẻ em và người lớn, hay giữa trẻ em với thế giới, mà là sự tôn trọng quyền riêng tư thiết yếu của con người. Sự tôn trọng dành cho đứa trẻ chính là việc tôn trọng không gian riêng tư và an toàn của nó. Như thế, giáo dục phải bảo đảm chính trị không can thiệp vào trong nhà trường và gia đình.
Thứ ba, giáo dục không những không xây dựng một bức tường giữa người lớn và trẻ em mà trái lại, nó phải xây dựng mối tương quan tình yêu đi kèm với trách nhiệm. Thế giới bị phá hủy vì lối sống vô trách nhiệm, thiếu tình yêu chứ không phải sự tận diệt của thời gian. Thái độ xa lánh thế giới không chỉ phá hủy tương quan giữa con người trong môi trường chính trị mà còn phá hủy tương quan của trẻ em với thế giới. Do đó, giáo dục phải nhắm đến tình yêu dành cho thế giới, bởi vì tất cả các biến cố của sự sinh hạ được sinh ra trong tình yêu và hướng đến tình yêu dành cho thế giới chung. Tình yêu dành cho thế giới vốn bắt nguồn từ tình yêu dành cho tha nhân. Vì thế, giáo dục không phải là một mối tương quan chính trị nhưng là một mối tương quan tình yêu giữa con người với con người, giữa con người với thế giới. Những con người được sinh ra nhờ tình yêu thì cũng cần phải được bao bọc và nuôi dưỡng bằng tình yêu. Chính vì thế, giáo dục không là gì khác hơn việc dạy cho trẻ em biết yêu Thế giới, trong đó có những người xung quanh.
Nhận định về quan điểm giáo dục của Hannah Arendt
Xem ra, Hannah Arendt chối bỏ cách đánh giá về giáo dục liên quan đến chính trị của J.J. Rousseau cho dù cả hai đều đưa ra một số nguyên tắc giáo dục khá giống nhau. Nếu như những nhà giáo dục tiến bộ lấy cảm hứng từ quan điểm giáo dục “Thành Nhân” của J.J. Rousseau để giải quyết những vấn đề chính trị bằng giáo dục, thì Arendt làm công việc ngược lại là trả mỗi lĩnh vực về với đúng vị trí ban đầu của chúng.
Các nhà giáo dục tiến bộ xây dựng hệ thống giáo dục, bao gồm những khoa sư phạm giáo dục hiện đại thích hợp với trẻ em. Tuy nhiên, đối với Arendt, chúng không đáp ứng được nhu cầu thực tế và bản chất của giáo dục. Vậy phải chăng, Arendt ủng hộ một nền giáo dục truyền thống và bảo thủ với những phương pháp học trong quá khứ, vốn không đề cao những khả năng của trẻ em, bao gồm những gì mà J.J. Rousseau mô tả trong tác phẩm “Emile hay là về Giáo dục”? Quả thực, trong những phê bình giáo dục tiến bộ, Arendt chấp nhận một lối giáo dục bảo thủ và tôn trọng truyền thống. Arendt cũng không đề xuất một khoa sư phạm mới, nhưng chỉ muốn thay đổi cái nhìn của tất cả mọi người về giáo dục. Bởi vì chính bản chất cốt lõi của giáo dục đặt nền tảng trên tình yêu sẽ là điều quyết định những lý thuyết và phương pháp trong thực tế.
Hơn nữa, những quan điểm của giáo dục tiến bộ quả là hấp dẫn những con người sống theo chủ nghĩa duy lý ở Châu Âu và thực dụng ở Châu Mỹ, tuy nhiên, đó không phải là tất cả những gì con người có thể theo đuổi cho chính bản thân và cho thế giới. Bởi vì, cho dù giáo dục có áp dụng triệt để những triết lý và khoa sư phạm này thì bản thân chúng vẫn còn chứa đầy những sự ảo tưởng và những điều không chắc chắn. Nói cách khác, Arendt chú trọng đến con người được nhìn một cách tổng thể trong thế giới quan, bao gồm cả không gian và thời gian. Con người hiện sinh trong thế giới hiện tại không chỉ được xem xét như là một sinh vật có khả năng của trí óc, mà còn là khả năng tương quan, bao gồm những cảm xúc và những yếu tố khác cấu thành nên con người. Do đó, Arendt thực sự không đưa ra thêm bất kỳ một triết lý hay phương pháp mới nào cho giáo dục, nhưng bà đã cố gắng làm cho giáo dục phản tỉnh về chính mình.
Ở trong một khía cạnh khác, con người cần giải quyết những vấn đề của mình trong địa hạt chính trị, chứ không phải là chạy trốn sang một địa hạt khác. Sự trốn chạy khỏi thế giới chung đồng nghĩa với việc con người từ bỏ những cuộc đàm phán giúp tìm lợi ích cho ngôi nhà chung của nhân loại. Đưa những vấn đề chính trị vào trong nhà trường chẳng khác nào một sự áp đặt hệ tư tưởng, như đã từng xảy ra ở Đức Quốc xã, hay tại các nhà nước cộng sản. Đồng hóa những con người trong cùng một ý thức hệ để không ai có thể phát biểu hay đưa ra các định kiến trái chiều về những chính sách của chính quyền. Đó là một hình thức cai trị rất tinh vi mà không phải người dân nào cũng nhận ra. Arendt cho rằng một xã hội được tổ chức như thế chẳng khác nào sự diệt chủng của Hitler, một hình thức toàn trị mang lại sự hủy hoại và tàn phá xã hội trong thế giới chính trị. Do đó, không cho phép chính trị hóa giáo dục cũng là nỗ lực ngăn cản một lối sống độc tài có thể xảy ra trong xã hội.
Tuy nhiên, trong tác phẩm Điều Kiện Con Người, Arendt đã cho rằng hành động vốn thuộc lĩnh vực chính trị, và sự sinh hạ cũng là phạm trù trung tâm của lĩnh vực chính trị.[74] Do đó, cả hai phạm trù: hành động và sự sinh hạ đều thuộc về lĩnh vực chính trị. Vậy liệu Arendt có tự mâu thuẫn với chính mình khi bà vừa cho rằng bản chất của giáo dục là sự sinh hạ, trong khi đó bà lại muốn tách địa hạt của giáo dục ra khỏi địa hạt của chính trị? Theo tôi, cho dù Arendt có hợp lý khi muốn tách môi trường giáo dục ra khỏi môi trường chính trị thì hẳn bà không muốn làm đứt đi mối liên hệ giữa gia đình, nhà trường và thế giới. Chính vì sự sinh hạ là nền tảng cho cả hai lĩnh vực này, nên Hannah Arendt không thể tách rời một cách dứt khoát hai lĩnh vực này.
Nói tóm lại, những đóng góp của Arendt thực sự đã giúp làm rõ và phân biệt rạch ròi các yếu tố cần thiết trong lĩnh vực giáo dục nhờ những cái nhìn nhân học và chính trị. Bản thân con người và những điều kiện con người sẽ làm nên những chân giá trị và ý nghĩa không chỉ cho giáo dục mà cho mọi hoạt động khác của con người trong thế giới.
Kết luận
Trong tác phẩm Cuộc khủng hoảng trong Giáo dục, Hannah Arendt đã cho thấy một hướng đi để giúp giáo dục thoát ra khỏi vòng luẩn quẩn của cuộc khủng hoảng là:
Chúng ta phải tách rời cách dứt khoát địa hạt của giáo dục ra khỏi những điều khác, hầu hết từ địa hạt công và đời sống chính trị, để áp dụng cho riêng giáo dục khái niệm về thẩm quyền và một thái độ hướng về quá khứ phù hợp với nó, nhưng việc áp dụng này không có giá trị chung và không được đòi hỏi tính hợp lệ chung trong thế giới của người lớn.[75]
Trong hướng đi này, những mâu thuẫn giữa thực tại và lý thuyết trong vấn đề về thẩm quyền và chính trị sẽ được giải quyết. Tuy nhiên để thực sự làm được công việc tách rời này, Arendt đã phải nại đến Tình Yêu Dành Cho Thế Giới. Quả thế, dường như đối với Arendt Tình Yêu chính là giải pháp tuyệt hảo nhất để giải quyết mọi mâu thuẫn trong thế giới và giúp con người hướng đến một lối sống tích cực đối với con người và thế giới.
Người ta có thể nói rằng mọi tư tưởng của Arendt đều được nhìn dưới góc cạnh chính trị, thế nhưng qua tác phẩm Cuộc khủng hoảng trong Giáo dục ta nhận thấy chính những suy tư chính trị đó lại giúp cho các vấn đề được bộc lộ bản chất cách rõ ràng. Như những gì đã được bàn đến trong bài viết ngắn này, Arendt đã cho thấy rằng không phải lúc nào chính trị cũng có thể áp đặt quyền hạn của mình lên trên các lĩnh vực khác. Trái lại, bà đã trả mỗi lĩnh vực về đúng vị trí và vai trò của nó. Ngoài ra, bà cũng cho thấy một triết gia không chỉ có những suy tư trên cái đầu khô khan, nhưng còn có những lập luận dựa trên một mối bận tâm lớn lao dành cho con người và cho thế giới. Điều đó thể hiện tình yêu của Arendt đối với con người và thế giới mà bà đang sống. Cụ thể hơn, bà đòi hỏi giáo dục phải phản tỉnh về chính mình. Giáo dục phải có một tình yêu đối với trẻ em và đối với thế giới, và tình yêu đó thật cụ thể khi nó gắn liền với trách nhiệm. Quả thế, sứ mạng của giáo dục là gì nếu không phải là dạy cho trẻ em đừng sống vô cảm.
Có thể nói, những phản tỉnh này của Arendt tuy chỉ là những cái nhìn đơn sơ về con người và thế giới nhưng cũng đã tạo nên một sự chú ý lớn, và ảnh hưởng không nhỏ đến những nhà giáo dục hiện nay. Hy vọng rằng, quan niệm về giáo dục của Hannah giúp mở lối khắc phục khủng hoảng trong giáo dục không chỉ ở Mỹ mà còn các cuộc khủng hoảng tương tự của các nước khác trên thế giới trong đó có Việt Nam. Qua đó, giáo dục cũng sẽ thực hiện được đúng chức năng của mình để trở thành một môi trường hữu ích cho sự phát triển của con người, giúp con người có khả năng tái tạo thế giới trở thành một nơi đáng sống.
Nguồn: https://sjjs.edu.vn/
[50] H. Arendt, Between Past and Future, 186.
[51] H. Arendt, The Human Condition, 188.
[52] H. Arendt, The Human Condition, 186.
[53] H. Arendt, The Human Condition, 187.
[54] H. Arendt, The Human Condition, 187.
[55] H. Arendt, The Human Condition, viii.
[56] M. Passerin d’Entrèves, The Political Philosophy of Hannah Arendt, (London: Routledge, 1994), 17.
[57] M. Passerin d’Entrèves, The Political Philosophy of Hannah Arendt, 1.
[58] H. Arendt, The Human Condition, ix.
[59] H. Arendt, The Human Condition, 2
[60] H. Arendt, Between Past and Future, tr.176
[61] Bởi vì, cả hai đều có chung một nguồn gốc từ những khả năng hành động của sự sinh hạ, nhưng khác nhau giữa một bên là tiềm năng và một bên là hiện thể. Vì thế, những hành động có tính chính trị của những người mới đi vào thế giới chỉ ở dạng tiềm năng, chúng chỉ có tính chính trị khi chúng có khả năng đảm nhận những trách nhiệm cách thực sự trong thế giới của người lớn.
[62] H. Arendt, Between Past and Future, 190.
[63] H. Arendt, Between Past and Future,195
[64] Nghĩa của từ ngữ Thẩm quyền (Authority) khác với Quyền lực (Power) hiểu theo nghĩa sức mạnh, Quyền (Rights).
[65] H. Arendt, Between Past and Future, 92-93.
[66] H. Arendt, Between Past and Future,106.
[67] P. Hayden, Hannah Arendt Key Concepts, 140-141.
[68] H. Arendt, Between Past and Future, 93.
[69] B. V. N. Sơn, “Chat” với Hannah Arendt, 124.
[70] H. Arendt, Between Past and Future, 190.
[71] H. Arendt, Between Past and Future, 196.
[72] P. Bowen-Moore, Hannah Arendt’s Philosophy of Natality, 2.
[73] P. Bowen-Moore, Hannah Arendt’s Philosophy of Natality, 6.
[74] H. Arendt, The Human Conditon, p. ix
[75] H. Arendt, Between Past and Future, 195.