Các cặp triết thuyết và tính nhị nguyên trong triết học phương Tây Đối với nhiều người khi mới bắt đầu tìm…

Catholic Net · · Đối luận Triết học
Các cặp triết thuyết và tính nhị nguyên trong triết học phương Tây

Đối với nhiều người khi mới bắt đầu tìm hiểu về triết học phương Tây, nhất là nhóm không chuyên, đa phần là tự tìm tòi (như mình đây ^-^), thì một trong những khó khăn phổ biến và thường gặp nhất có lẽ là sự băn khoăn về những trường phái khác nhau được gán cho một triết gia nào đó, đặc biệt là những triết gia kể từ thời kỳ cận đại trở đi. Trong quá trình đọc, những từ như duy tâm, duy vật, duy nghiệm,... thi thoảng lại xuất hiện và khiến ta bối rối không hiểu đó là gì hay tại sao lại nó lại được đề cập đến… Bản thân mình cũng đã và vẫn đang gặp phải khó khăn đó trong quá trình đọc các cuốn sách triết. Và dù sách có giải nghĩa hay tự tìm hiểu về những thuật ngữ này thì dường như những thông tin mà ta có được vẫn còn quá cục bộ, có thể ta sẽ hiểu duy tâm là gì nhưng lại không chắc tại sao nó lại được đề cập đến, và có liên quan gì đến nội dung mà ta đang đọc?
Xuất phát từ trải nghiệm cá nhân đó cùng với niềm tin rằng có lẽ ngoài kia vẫn còn ai đó đang gặp khó giống mình, mình xin chia sẻ một số hiểu biết về một số trường phái, chủ nghĩa triết học phổ biến mà khi đọc sách triết ta có thể bắt gặp. Do bản thân cũng là dân không chuyên, chủ yếu nhặt nhạnh đây đó chút kiến thức nên trong quá trình chia sẻ, có gì chưa đúng thì mọi người bỏ qua hoặc góp ý để mình chỉnh sửa nhé. Và xin lưu ý rằng, những định nghĩa dưới đây không thể bao quát hết bất cứ trường phái nào cả, mà chỉ là những thông tin cơ bản nhất mà thôi.
1.Về tính nhị nguyên trong cách tiếp cận vấn đề
Trong Logic cổ điển (hình thức) của phương Tây bao gồm 4 quy tắc đó là:
-Đồng nhất: Trong cùng một quá trình tư duy, một khái niệm phải luôn giữ nguyên ý nghĩa xác định của nó-Bất mâu thuẫn: Trong cùng một mối quan hệ A không thể vừa là A, vừa là không A-Triệt tam (bài trung): Với một phán đoán A, chỉ có thể đúng (A) hoặc sai (không A), không tồn tại khả năng thứ ba nằm giữa.-Túc lý: Một tư tưởng được coi là chân thực khi nó có lý do đầy đủ (được chứng minh, dựa trên tiền đề đã được xác nhận).
Lý do mình đề cập đến 4 quy tắc đó là bởi quy luật thứ 3 - quy luật Triệt tam đóng vai trò quan trọng trong việc xác định và làm nảy sinh những cặp học thuyết đối nghịch nhau trong quá trình nghiên cứu những lĩnh vực khác nhau của triết học.
2. Về cách hiểu về nhận thức con người - hay Nhận thức luận (Epistemology):
Nhận thức luận có thể được hiểu như cách các triết gia tìm hiểu và đặt câu hỏi về mối quan hệ giữa ý thức con người và thế giới khách quan, và rằng làm thế nào mà con người có thể có nhận thức về thế giới này. Trong suốt quá trình tìm hiểu về vấn đề trên đã dần hình thành hai luồng tư tưởng đó là Duy tâm và Duy thực.
-Duy tâm (Idealism): tin rằng thực tại phụ thuộc vào tâm trí, do đó thế giới mà ta biết được định hình dựa vào cấu trúc của của ý thức bên trong.-Duy thực (Realism): cho rằng thế giới bên ngoài tồn tại độc lập với suy nghĩ của chúng ta và thế giới tồn tại bất kể ta có ý thức về nó hay không
3. Về cách hiểu về bản chất của tồn tại - hay Bản thể luận (Ontology)Trong quá trình tìm hiểu về bản chất của thực tại, mà cụ thể hơn chính là bản chất của con người, các triết gia đã xác lập hai luồng tư tưởng về linh hồn và thể xác từ đó tạo nên cặp đối lập là Duy vật và Duy linh.
-Duy linh (Spiritualism): chủ trương cho rằng linh hồn hoàn toàn tách rời khỏi thể xác và có giá trị cao cả hơn. Từ đó, hệ quả dẫn đến chính là việc xem thường thân xác, cho rằng linh hồn mang những đặc tính như bất tử, bất biến. Có một lưu ý rằng, Duy linh thường có xu hướng được xem như một nhánh nhỏ của Duy tâm và khi nói về Duy tâm thì đã bao hàm những yếu tố siêu việt như linh hồn. Đó là lý do mà Duy linh gần như rất ít khi được nhắc đến mà thông thường sẽ là Duy tâm cùng với Duy vật / Duy thực.-Duy vật (Materialism): là tư duy cho rằng những chức năng mang tính tư duy, tinh thần, thậm chí là khái niệm về linh hồn đều có thể truy ngược về nguồn gốc như là sản phẩm của vật chất. Một ví dụ điển hình như cách diễn giải về cảm xúc con người chỉ là những phản ứng của thần kinh và não bộ, hay những sự trao đổi chất.
4. Về cách khẳng định tính đúng đắn của tri thức khoa học - hay Phương pháp luận (Methodology)
Phương pháp luận có thể được xem như cách các triết gia, và sau này là nhà khoa học tiếp cận và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong ngành nghiên cứu của mình. Với chủ trương xem trọng tính thực nghiệm của nghiên cứu đối lập với tính đúng đắn, đưa ra những kết quả hợp lý về lý thuyết, trong bản thân của phương pháp luận đã hình thành hai lối luận giải về độ tin cậy của tri thức gọi là Duy lý và Duy nghiệm.-Duy lý (Rationalism): cho rằng lý trí và tư duy logic là con đường phù hợp nhất để đạt đến chân lý hay tính đúng đắn của một lý thuyết. Các nhà vật lý lý thuyết hay toán học lượng tử sẽ đi theo con đường này, thông qua việc giải các phương trình toán học bởi đối tượng mà họ nghiên cứu mang tính trừu tượng hoặc vượt quá khả năng quan sát bằng mắt thường.-Duy nghiệm (Empiricism): khẳng định rằng tri thức thực tiễn phải đến kinh nghiệm hay quan sát thực tế, có thể hiểu là mang tính có thể đo lường chứ không chỉ dừng lại trên mặt giấy.
—Và bởi trong quá trình phát triển tư tưởng của mình, một triết gia, dù có tập trung phần lớn vào một lĩnh vực triết học cụ thể nào thì cũng không thể tránh khỏi việc phải thể hiện ở tư tưởng những lĩnh vực khác liên quan. Việc nắm bắt những đặc điểm của quá trình phát triển tư tưởng này, sẽ cho thấy được mối liên kết của những triết thuyết khác nhau, đồng thời cho phép ta hình dung bức tranh rõ nét hơn về vị triết gia đó. Chẳng hạn, một triết gia có khuynh hướng bản thể học đó là đề cao giá trị của linh hồn hơn thể xác (Duy linh) - thì cũng nhiều khả năng vị này sẽ phát triển những quan điểm về nhận thức thế giới theo hướng Duy tâm với quan điểm rằng nguồn gốc phát sinh những tư duy, tư tưởng là từ tâm trí con người - mà nếu đã đề cao tâm trí con người thì ông ta sẽ nhìn nhận hiện thực của thế giới theo hướng nào? Xem những giá trị của thế giới bên ngoài phải được đặt nền tảng trên lập luận của chủ thể (Duy lý) hay từ những quan sát của chủ thể đó (Duy nghiệm). Tuy nhiên, có một điều cần lưu ý rằng, việc xếp một triết gia vào một trường phái nào đó thường là do hậu thế tự mình đặt ra, còn các triết gia ít khi tự mình thừa nhận.
Xin nhắc lại rằng, cách phân loại các cặp học thuyết trên đây đã được đơn giản hóa và đặt vào những lĩnh vực cụ thể của triết học. Do đó, chúng không thể phản ánh hết mức độ thâm sâu hay vẽ ra toàn cảnh bức tranh tư tưởng phương Tây đồ sộ. Bài viết này đơn thuần cung cấp một hệ thống sơ đồ cơ bản, giúp bạn có thêm một lăng kính để tiếp cận và tự tìm hiểu triết học theo cách riêng của mình. Và cần nói thêm rằng, cách nhìn nhận triệt để theo hướng logic cổ điển đã được vượt qua từ lâu, nhiều triết gia đã phát triển thêm những hệ thống có thể được xem như nằm ngoài tính triệt tam, cho thấy sự vận động linh hoạt và mạnh mẽ của dòng chảy triết học phương Tây.

Cr: Sodom