Ngôn ngữ và Thi Ca Trong Nguồn gốc tác phẩm nghệ thuật, Heidegger phát biểu rằng “Nghệ thuật là Thi ca…
Trong Nguồn gốc tác phẩm nghệ thuật, Heidegger phát biểu rằng “Nghệ thuật là Thi ca (Dichtung)”. Ở đây ông không đồng nhất nghệ thuật với thơ theo nghĩa hẹp, mà hiểu thi ca như một chiều kích trong đó chân lý của tồn thể được khai mở. Vì thế, con người trong nghệ thuật nên hiểu như là thi nhân, là kẻ thuộc về thi ca, tức thuộc về cách thế mà trong đó một thế giới được dựng lên và chân lý có thể xảy ra, hơn là thi sĩ. Dẫu vậy, “Thi Ca theo nghĩa hẹp của thơ vẫn có một vị trí kiệt xuất trong toàn bộ những môn nghệ thuật” (§157) bởi những đặc tính của bản thân ngôn ngữ.
Trước hết, không có sự tri nhận hay suy tư nào về những cái tồn tại mà không qua trung giới hay môi giới của ngôn ngữ. Trước một sự vật, con người hay sự thể nào đó, việc ta tiếp nhận để hiểu về nó hay cảm giác mà nó mang lại, đều phải dùng ngôn ngữ ta vốn có để nhận biết đó là gì hoặc không phải là gì. Nói cách khác, con người hiện hữu với một tính ngôn ngữ nền tảng. Việc tri nhận luôn phải cậy vào ngôn ngữ, ngay cả khi ta trực giác rằng cái được tri nhận còn vượt ra ngoài điều có thể diễn tả, thì trước đó ta đã phải ướm tri nhận của mình vào một khung ngôn ngữ để khả dĩ biết giới hạn này. Ngôn ngữ không chỉ để truyền thông mà vốn dĩ còn tiết lộ, phơi bày, khai mở thực tại. Và chính bởi sự quá mật thiết với con người như vậy, ngôn ngữ có xu hướng trở nên quen thuộc, bị sử dụng một cách sơ sài. Sự hiểu biết của chúng ta về thực tại theo đó cũng bị giản lược theo. Ta dần đồng hoá khái niệm vốn để mô tả - với bản chất. Khi đó, bản chất bị gói vào hình thức và hiện tượng, vốn chỉ là biểu hiện thô sơ. Sự nhầm lẫn này có thể được làm gián đoạn bằng kinh nghiệm hay khoa học. Tỉ như ta thường thấy trái chín có màu đỏ, dần quen rồi nhầm thành “đỏ thì chín” cho đến khi ta bắt gặp một loại trái chín có màu không đỏ. Ta quen thấy và cho rằng sóng biển là nước xô vào nhau theo chiều ngang cho đến khi vật lý chỉ ra nước dao động theo phương thẳng đứng và dao động sóng sóng là sự lan truyền năng lượng trong không gian. Tuy nhiên, đó chỉ là ví dụ của sự biết theo lối mòn trong cách tri nhận và sự đa dạng, khó đoán của biểu hiện bên ngoài hay tính chất vật lý của vạn sự mà thôi. Sự gián đoạn này vẫn chỉ diễn ra trong bình diện cái tồn tại (Seiendes) chứ chưa chạm tới câu hỏi về Tồn tại (Sein). Nhưng hiểu được tính bấp bênh của tầng bề mặt này thì ta có thể đi sâu vào suy tư về tồn tại. Điểm hay ho nhất của Heidegger có lẽ là việc cho thấy thời tính là cấu trúc nền tảng của sự tồn tại nơi Dasein. Từ hai ví dụ trên, khi những lối tri nhận quen thuộc bị làm cho lung lay, Dasein không chỉ sửa lại tri thức của mình mà còn có khả năng chuyển từ cách tiếp cận đối tượng hóa (biết) như một hướng dẫn tiên khởi sang một suy tư về ý nghĩa của tồn tại (hiểu biết). Điều này khả dĩ nếu như ta đủ chịu khó nán lại sự đình chỉ của thói quen tri nhận vốn có để quan sát, đi vào vùng Mở ngỏ ẩn mật, khép kín của thực tại khôn dò khi suy tư về sự chín của quả như một quá trình thành tựu theo thời gian, về sự dịch chuyển qua tính chất của sóng. Như vậy, “ngôn ngữ không chỉ và không chủ yếu là sự diễn đạt những gì cần truyền thông qua lời và câu, trái lại, chỉ có ngôn ngữ mới mang cái tồn tại vào trong cái Mở ngỏ đúng như là cái tồn tại”(§158).
Trong đời sống thường nhật, tính Mở ngỏ của ngôn ngữ thường bị lãng quên và vùi lấp bên dưới kho lưu trữ các khái niệm đã ổn định. Ngôn ngữ hầu như chỉ được dùng để trao đổi thông tin, xác nhận sự quen thuộc, hay bảo đảm một sự hiểu lẫn nhau giả tạo. Ta nói nhưng chỉ là huyên thuyên lặp lại, cũng như hiểu chỉ là biết theo những lối mòn. Thế giới, do đó, không còn là cái đang xảy ra mà là cái đã được giải thích suông. Trong tình trạng ấy, ngôn ngữ không chỉ nghèo mà còn làm cho tồn tại nghèo đi theo khi nó khép chặt thay cho vì khai mở. Người ta nói về cái đẹp một cách hời hợt, và vì không có cảm nhận về ngôn từ, họ dùng từ đó một cách cẩu thả. Điều mà nó đại diện, cùng mang tên với hàng trăm vật thể có-đó khác, bị mất đi ý nghĩa. Ta gọi một chiếc váy, một con mèo, một bài giảng là đẹp, nhưng khi đối diện với những thứ đẹp đẽ thực sự, ta lại không thể nhận ra nó. Heidegger gọi tình trạng này là Gerede (ngôn ngữ sa đọa). Trong ngôn ngữ sa đoạ, ta không còn đứng trước sự vật mà chỉ đứng trước những gì đã được nói, được phơi bày ra của sự vật.
Ta thường quên đi ‘sự biết lần đầu’ khi là một đứa trẻ. Hãy thử để tâm vào sự định danh về mẹ của một em bé. Một em bé có thể vùi vào mẹ và nói “mẹ thơm như một quả dâu tây” khi mọi sự ngon lành, xinh đẹp và quyến rũ trên thế giới với nó lúc đó đều tựu trong ảnh hình loài quả ấy. Hay một lần say sưa làm thuyền giấy, đứa bé bất chợt kêu “mẹ đáng yêu như một chiếc thuyền”. Những so sánh trên là vô nghĩa về mặt logic, hoặc chỉ là những lời nói ngây thơ trẻ con theo lối nghĩ tâm lý thông thường, nhưng ở đây muốn đề cập không phải là việc một đứa bé đang học nói diễn tả cảm xúc. Đó là một khoảnh khắc trong đó ngôn ngữ mở ra một thế giới, cho phép cái tồn tại (mẹ) không được mô tả theo thuộc tính hay khái niệm có sẵn, mà được gọi ra từ một thế giới đang thành hình, một miền ý nghĩa sống động (Cõi sống). ‘Mẹ’ đã xuất hiện như là cái gì trong sự khai quang. Và chính trong chiều kích ấy, nếu như ta hiểu về tình trạng của đứa bé, nhấn mạnh lần nữa là không phải dưới góc nhìn tâm lý mà như sự tồn tại của một Dasein, thì những sự định danh trên lại vén mở ra bản chất của tình yêu và sự say mê thuần khiết, được gói trọn trong một phút giây và bật nên lời. Ta sẽ khó lòng mà yên được với những lời rành mạch, sáng trong đến như vậy. Ta đã bước vào thể điệu riêng biệt mà lời nói của em bé mở ra. Sự biết về ‘mẹ’ trong thế giới nhỏ bé của em phong phú hơn tất cả ngôn ngữ, định nghĩa của thế giới bao la mà chúng ta đã quen thuộc. “Khi ngôn ngữ lần đầu tiên gọi tên cái tồn tại, chính sự định danh ấy mới làm cho cái tồn tại lên tiếng và xuất hiện ra. Việc gọi tên ấy định danh cái tồn tại thành sự Tồn tại của nó và từ sự Tồn tại ấy. Việc “nói lên” ấy là một Dự phóng của sự khai quang, trong đó nói lên việc cái tồn tại đi đến cái Mở ngỏ như là cái gì” (§159). Heidegger gọi đó là Thơ - Nguyên thuỷ (Thi Ca căn nguyên), là một ngôn ngữ tạo dựng. Nó vẫn sử dụng từ ngữ quen thuộc nhưng theo cách phóng chiếu một luồng ánh sáng mới vào những gì nó gọi tên và để cho ta nhìn nó theo thể điệu ấy lần đầu tiên. Cũng chính vì thế, “ngôn ngữ sở dĩ là Thi Ca không phải bởi vì nó là Thơ - Nguyên thuỷ, mà đúng hơn là vì Thơ xảy ra trong ngôn ngữ, bởi ngôn ngữ bảo tồn bản chất căn nguyên của Thi Ca” (§162). Thi Ca không nằm ở hình thức văn chương, mà xảy ra trong chính ngôn ngữ (của đứa trẻ), và được tiếp nhận bởi (ít nhất) một “người bảo tồn”. Nếu ta chỉ mỉm cười, quy những lời nói kia về một sự ngây thơ đáng yêu lướt qua, thì thế giới vừa được khai mở lập tức bị đóng lại, và ngôn ngữ lại bị kéo trở về chức năng truyền thông, những lời nói suông quen thuộc. Nhưng nếu ta bị dừng lại, ngạc nhiên trước vùng Mở ngỏ và sững sờ bởi những gì đang được vén lộ ra, khi ấy, ta đang mang chính bản chất của ta vào đứng bên trong vùng khai quang chân lý của cái tồn tại.
Cũng trong thế giới của trẻ nhỏ, chúng thực sự không cần đến đồ chơi theo nghĩa người lớn vẫn nghĩ. Chúng có thể chơi với bất cứ vật gì trong nhà hay ngoài thế giới xung quanh. Trong khi người lớn gọi những món là đồ chơi khi chúng như những mô hình của thế giới mà họ đã biết và đã gọi tên, được cố định bởi hình dáng, đặc điểm, thì một đứa trẻ có thể gọi chiếc gối là ô tô. Ta không bàn đến trí tưởng tượng phong phú, mà ở đây đứa trẻ như là một Dasein không bị ràng buộc vào những khái niệm cố định về sự vật. Chiếc gối hay ô tô đều không bị khóa lại trong chức năng hay hình dạng, đã được gọi ra trong một thế giới đang mở, nên chúng có thể xuất hiện như là cái gì. Đứa trẻ bắt chước từ thực tại và để cho thế giới xảy ra chứ không sao chép một hiện thực
đóng khuôn. Thế nên, ô tô của chúng không chỉ là gối mà còn có thể là bất cứ thứ gì. Đó là một sự sáng tạo tuôn trào. “Những gì quen thuộc trước nay như là hiện thực duy nhất bị chính tác phẩm bác bỏ. Vì thế, những gì nghệ thuật thiết lập không bao giờ có thể được cân đối hay bù đắp bằng cái gì đã có và sẵn có. Sự thiết lập là một sự tràn đầy, một sự ban tặng dư dật” (§165).
Cũng theo cách ấy, nghệ thuật khi bị hiểu như việc tái tạo một phong cách, một trường phái hay một tập hợp đặc điểm về kỹ thuật, thì không còn là Thi Ca mà trở thành một dạng thủ công tinh vi, khéo léo trong sao chép, nhưng xa lạ với thế giới đã từng được khai mở. AI hay máy móc đã và sẽ làm ngày một tốt hơn ở lĩnh vực này. Từ đó, ranh giới giữa nghệ sĩ và thợ thủ công nằm ở mối quan hệ của họ với ngôn ngữ và thế giới. Thợ thủ công làm việc với những khái niệm đã ổn định và những phương pháp có thể lặp lại với mục tiêu là kết quả; trong khi với nghệ sĩ thì tất cả là chất liệu (Đất) và sáng tạo như một cuộc chơi hồn nhiên mà ở đó là một miền chưa thành hình, nơi ngôn ngữ sống động chứ không phải là mô tả tính toán, nơi đó chân lý có thể xảy ra.
Dẫu hồn nhiên nhưng Thi Ca không phải là sự thiết lập tuỳ tiện mà là “một sự khai thác lấy nước từ nguồn”. Heidegger làm rõ: “Sự thiết lập của chân lý là sự thiết lập không chỉ theo nghĩa của sự ban tặng không hoàn lại mà đồng thời còn là sự thiết lập theo nghĩa thiết lập nên căn cơ-nền móng. Sự dự phóng mang tính thi ca đến từ hư vô nếu xét trên phương diện rằng nó không bao giờ sắm sanh món quà của mình từ cái bình thường và cái có sẵn trước nay. Tuy nhiên, nó cũng không bao giờ đến từ hư vô, vì những gì được nó dự phóng chỉ là vận mệnh được lưu giữ lại của bản thân con người mang sử tính” (§167). Tồn tại của Dasein theo Heidegger, luôn gắn với thời gian. Sự sáng tạo phá vỡ những logic vận hành thông thường của thế giới đang có, nhưng nó thực sự không đến từ hư vô, bởi tồn tại của người sáng tạo bao giờ cũng là “bị ném vào” một thế giới, mang sử tính và sự tồn tại luôn là tồn tại cùng với những người khác. Đất gắn liền với một dân tộc đặc thù, mang sử tính. Cùng quay lại với trò chơi ô tô của đứa trẻ. Nếu đó là đứa trẻ nông thôn ở Mỹ - một đất nước mà phương tiện di chuyển bình thường là ô tô, với nếu như đó là đứa trẻ nông thôn ở Việt Nam - một đất nước mà ô tô là xa xỉ phẩm, hẳn nhiên sự sáng tạo với ô tô của chúng sẽ rất khác nhau. Sâu hơn nữa còn có thể nghĩ đến sự khác nhau nếu nó sống trong một gia đình nông phu lâu đời với một gia đình trí thức nhưng thành nông phu vì lỡ vận.
Đó cũng là điểm Heidegger phê phán “chủ nghĩa chủ quan hiện đại khi đã “ngộ giải sự sáng tạo vì chỉ hiểu nó như là thành tựu thiên tài của chủ thể tự cao tự đại.” Tất cả chúng ta đều đã ở sẵn trong một truyền thống, một lịch sử mà ta dù chủ quan phủ nhận đến đâu chăng nữa thì cũng không tránh khỏi. Sáng tạo với tâm thế tác tạo từ hư vô chỉ là ảo tưởng. Ngược lại, những người sáng tạo hồn nhiên thì biết hoặc không cần biết, vì sự thiết lập một trật tự mới (sáng tạo) của họ cũng tự nhiên nhẹ nhàng như chính hơi thở, họ sáng tạo vì họ là người thuộc về Thi Ca. Họ khiêm nhường chứ không khẳng định trước tồn tại. Hai tâm thế hoàn toàn khác nhau.
Thi nhân không nhất thiết là người tạo ra cái mới về hình thức hay tạo ra tác phẩm, họ là kẻ bảo tồn khả thể khai mở. Theo hướng này, nghệ thuật không bị giới hạn trong những lĩnh vực vốn được gọi tên là “nghệ thuật”. Mọi hoạt động của con người đều có thể trở thành nghệ thuật, kể cả trong những ngành đòi hỏi kỹ thuật, tính toán hay kỹ nghệ cao. Ta vẫn có thể có nghệ thuật trong những dòng code, trong cách chứng minh một mệnh đề, trong quá trình sản xuất của những người thợ. Nhưng một công trình kiến trúc, một chiếc máy, một hệ thống kỹ thuật hay một xưởng thủ công có thể đạt mức độ tinh vi về thiết kế hay phức tạp của kỹ năng, chỉ trở thành nghệ thuật khi cách thức đó mở ra một thế giới cho con người cư ngụ và sinh hoạt chứ không chỉ vận hành. Ở đâu mà việc làm ra một sự vật không chỉ nhằm đạt đến một kết quả đã được định trước, mà cho phép cái được làm ra tự hiển lộ trong mối liên hệ với đời sống, với không gian, với nhịp điệu và cách thế hiện hữu của con người, thì ở đó có Thi Ca. Ngược lại, ngay cả trong những lĩnh vực mang danh nghệ thuật, nếu việc sáng tác chỉ còn là thao tác trên những đặc điểm đã được liệt kê, trên những phong cách có thể tái tạo và lặp lại; việc thưởng thức chỉ xoay quanh đánh giá kỹ thuật hay những câu chuyện bên lề để hiểu tác phẩm, thì hoạt động ấy, xét đến cùng, vẫn thuộc về logic của thợ thủ công. Tác phẩm không phản ánh thực tại hay nghệ sĩ, mà thực tại và tồn tại của nghệ sĩ xảy ra trong tác phẩm, đồng thời cũng mở ra trong người xem cách thế hiện hữu của chính họ. Trong “kỷ nguyên của nguyên tử”, sự quyến rũ bởi những chiến thắng của kỹ thuật lại đưa con người dấn sâu vào việc đánh đồng những gì có thể lường trước được với những gì có ý nghĩa. Trước tình trạng ấy, câu hỏi không đơn thuần là khả năng tỉnh táo của con người, mà là chính ý chí muốn tỉnh táo: liệu chúng ta còn muốn bước ra khỏi sự an toàn của tính toán để trở lại với một cách thế cư ngụ khác hay không? Ta phải xem lại và lựa chọn cách thế tư duy và ăn ở (sinh hoạt) của mình: hoặc chỉ như kẻ thi công và đánh giá hiệu quả qua góc cạnh của sự khả thi, hoặc như thi nhân.
Sự sáng tạo là một dự phóng đến tương lai với một sự khởi đầu được chuẩn bị lâu dài và hoàn toàn âm thầm, đồng thời bản thân sự khởi đầu cho tương lai này cũng đã kín đáo hàm chứa sự kết thúc, bởi tính lựa chọn và triệt tiêu những khả thể khác trong chân trời khả thể của tương lai. Rồi khi cái tồn tại được khai mở dần biến đổi thành cái cố định, nó lại được sáng tạo và thiết lập mới lại. “Mỗi thời kỳ, một Cõi sống mới mẻ và căn cơ lại ra đời” (§169). Sử tính của họ nhờ đó triển nở và tràn đầy. Nếu như đứa trẻ gọi chiếc gối là ô tô ở trên không chỉ gọi mà còn có cả một cuộc chơi với sự gọi tên ấy, thì “sự non dại sơ khai” trở thành “sự khởi đầu đích thực”. Rồi lại có thêm nhiều sự gọi tên sáng tạo khác liên tục nảy sinh để cuộc chơi đó liên tục được mở rộng và tiếp diễn. “Nghệ thuật là lịch sử trong nghĩa căn cơ, rằng nó thiết lập nền tảng cho lịch sử” (cuối §171). Heidegger không đồng tình với ý tưởng lịch sử sẽ tự hoàn tất của Hegel, và dù ông nói Marx là người nhìn thấy rõ nhất sự thống trị của vật hoá và kỹ thuật, nhưng cũng không tán thành khi Marx diễn giải nó hoàn toàn trong phạm trù kinh tế - xã hội và xem lịch sử có thể được làm chủ bởi tác ý phá vỡ và kiến tạo của con người. Heidegger từ chối cả hai cách tiếp cận ấy và rút lui khỏi toàn bộ logic đó. Ông chuyển sang câu hỏi về Hữu thể (Sein) thay vì Tinh thần (Geist) và nhìn ra sự vật hoá của chính Hữu thể trong thời đại kỹ thuật chứ không phải con người trong lao động trong bình diện kinh tế - xã hội. Từ đó, lịch sử được nhìn nhận như một dòng chảy không hồi kết và liên tục được khai sinh, con người hay nghệ thuật là nơi lịch sử xảy ra, con người vẫn sáng tạo nhưng không cưỡng đoạt. Nghệ thuật là lịch sử hay con người là thời gian theo nghĩa đó.
Sau Sein und Zeit, Heidegger từ bỏ ý tưởng rằng ta có thể nói về Tồn tại một cách trực tiếp bằng triết học. Ông chọn cách im lặng trước ngôn ngữ mà triết học và con người đang sử dụng trong thời đại mà mọi thứ trở thành tài nguyên, con người cũng trở thành nhân lực và thế giới chỉ còn là thứ để “khai thác”. Ông rời khỏi con đường mà Hegel sẽ đưa nhân loại đến đỉnh cao hoàn tất: Tồn tại hoàn toàn bị đồng hoá vào tư duy. Khi Tinh thần tự ý thức chính mình là chiến thắng vĩ đại của Siêu hình học thì đó cũng là bế tắc tuyệt đối. Thay vào đó, Heidegger chọn Hölderlin với ngôn ngữ Thi Ca. Ông xem “nghệ thuật như là Nguồn gốc”. Có thể hiểu rằng đây không nói về việc đi tìm nguồn gốc để làm ra một tác phẩm nghệ thuật cho bằng làm rõ nghệ thuật là gì với tồn tại của con người. Con người mang “tính ngôn ngữ” trong bản chất của mình, và ngôn ngữ sở dĩ là Thi Ca. Con người chúng ta phải là thi nhân trước khi thành thi sĩ hay người thưởng thơ, bằng cách sử dụng ngôn ngữ với bản chất Thi Ca của nó. “Chân lý nói ở đây là sự không che giấu của cái tồn tại như là tồn tại. Chân lý là chân lý của Tồn tại. Cái Đẹp không xuất hiện bên cạnh hay tách rời với chân lý này.” Tồn tại của chúng ta sẽ gần với chân lý chừng nào phương cách tư duy và ăn ở của chúng ta gần với nghệ thuật.
Chúng ta thường lãng quên chiều kích khai mở của ngôn ngữ bởi sự tỉnh táo, minh bạch và khô cằn của lý trí. Tình trạng này giống như lưu đày trên chính quê hương của mình. Ta có thể nhớ ra sự thất lạc này và tìm về, sống một đời như cuộc hành hương, đi vào vùng sương mù Mở ngỏ của thực tại với hy vọng về lại nơi nương náu xa xôi mà gần gũi và thiêng liêng, thay cho kiếp du thủ hay hoá thân thành ốc vít trong một cỗ máy thông mình khổng lồ, có nên chăng?
Cr: méo