TỰ LỰC VĂN ĐOÀN: TRÀO LƯU VÀ TÁC GIẢ Tác giả: Hà Minh Đức Tự lực văn đoàn không chỉ là một phong trào văn…
Tác giả: Hà Minh Đức
Tự lực văn đoàn không chỉ là một phong trào văn chương ở Việt Nam vào thập niên 1930, một giai đoạn giao thời giữa cái cũ ‘nho phong’ và cái mới Âu hóa. Cái mới Âu hóa ấy với những lố lăng của nó đã bị phơi bày tàn nhẫn qua những phóng sự, tiểu thuyết hiện thực thần tình của Vũ Trọng Phụng và các nhà văn khác thuộc phái hiện thực thiên tả như Nguyễn Công Hoan, Trương Tửu. Qua đó đã dấy lên cuộc tranh luận văn học lớn nhất, hào hứng nhất của người Việt Nam trong thế kỷ XX trên báo chí: phái nghệ thuật vị nhân sinh và phái nghệ thuật vị nghệ thuật. Cuộc tranh luận này chẳng đơn thuần là tái diễn lại cuộc tranh luận trước đó mấy mươi năm trong văn học Pháp: giữa phái lãng mạn của Hugo và chủ nghĩa lí tưởng của Sand và Flaubert ở một bên và Balzac của phái hiện thực ở bên kia. Đến thời của Tự lực văn đoàn, dư âm của cuộc chiến ấy đã phai nhạt rồi trong cái xứ thuộc địa Viễn Đông xa xôi. Những yếu nhân của văn đoàn tự lực, trong đó có Nhất Linh vốn là dân du học trở về từ Pháp, đem vào văn học Việt Nam một lối tiểu thuyết tâm lí hiện đại nhất của Gide từ Pháp mà về sau tiêu biểu là cuốn tiểu thuyết Bướm Trắng, tương truyền các con của Nhất Linh không bao giờ được phép đọc vì mãi mãi còn quá nhỏ để hiểu nó.
Người đọc có thể tìm thấy lời chứng về sự cấm đoán ấy trong hai cuốn sách lần lượt được xuất bản trong vài năm gần đây của con trai nhà văn, Nguyễn Tường Thiết: Cha tôi, Nhất Linh và Căn nhà An Đông của mẹ tôi. Những người con thường vốn không biết cha mình đã từng làm gì, chẳng hiểu sao; biết đâu tưởng quen mà lạ, người ta khó thấy rõ cái gì khi mình ở một khoảng cách quá gần. Nỗ lực của Nguyễn Tường Thiết trong thời gian gần đây không phải là nỗ lực duy nhất từ con cháu của Tự lực văn đoàn: một cuốn sách xuất sắc phải kể đến của con dâu của nhà thơ Thế Lữ: Áo dài Lamur và bối cảnh Phong Hóa và Ngày Naycủa Phạm Nguyên Thảo.
Đến mãi gần đây qua ba cuốn sách này, hai tác giả của chúng vốn nhiều năm sinh sống ở hải ngoại, thì bạn đọc trong nước mới đến với những chất liệu thanh tân từ các gia đình của các nhân vật quan trọng của Tự lực văn đoàn. Trong một thời gian dài, những bạn đọc chưa đến tuổi 50 chỉ biết đến phong trào Tự lực văn đoàn một cách khá phiến diện qua vài tác phẩm rời rạc được giảng dạy trong nhà trường phổ thông. Bạn đọc quen thuộc với văn chương Tự lực văn đoàn qua những tác phẩm bao cấp, giấy đen được rụt rè in lại vào những năm 80 và các chuyên khảo của những nhà nghiên cứu ở miền Bắc, trong đó rất đáng kể là công trình nghiên cứu của Hà Minh Đức vào năm 1989. Công trình này đã được lấy in lại làm phần I, cộng thêm một số bài giảng văn tác phẩm của Tự lực văn đoàn của Hà Minh Đức trong phần II, và các bài viết được tuyển chọn từ nhiều tác giả về Tự lực văn đoàn trong phần III. Danh sách các bài trong phần III hẳn làm người ta ngạc nhiên khi đọc thấy một tên tuổi hàng đầu trên văn đàn ở miền Nam Việt Nam: Dương Nghiễm Mậu với bài viết ‘Nhân nghĩ về Khái Hưng’. Dương Nghiễm Mậu đã sớm nhìn nhận đúng vị trí của Khái Hưng trong văn học sử Việt Nam: tiểu thuyết gia lớn nhất. Chắc không ngẫu nhiên mà nhà văn ở làng Mậu Hòa xem Khái Hưng Trần Khánh Giư là ông thầy lớn của mình.
Tự lực văn đoàn hẳn là đề tài mà nhiều thế hệ vẫn còn phải trăn trở, suy tư về họ: những điều họ đã làm, và những gì còn dang dở. Nhưng trước hết, những nhà nghiên cứu không nên mắc phải sai lầm cơ bản như những nhà nghiên cứu miền Bắc, tiêu biểu là Hà Minh Đức: Tự lực văn đoàn không chỉ là phong trào văn chương. Nhà ánh sáng và áo dài Lamur, hai ‘tác phẩm’ tiêu biểu của họ. Thật khó tưởng tượng văn hóa Việt Nam trong thế kỷ vừa rồi nếu thiếu đi chiếc áo dài. Chiếc áo dài ấy đã đến và xuất hiện lần đầu trên tờ báo của Tự lực văn đoàn!
Cr: xanh