Giáo lý tổng quan và diễn giải – Bài 6 Kinh Thánh: quy điển và giải thích

Có một dữ kiện lịch sử là, những bản văn trong cuốn KT chúng ta sử dụng ngày nay, không phải là những bản văn duy nhất cố gắng viết lại mk của TC. Có nhiều bản văn khác tương tự như những bản văn KT, nhiều khi cũng đã từng được các cộng đoàn tín hữu sử dụng trong phụng vụ một thời gian, nhưng cuối cùng vẫn không được đưa vào bộ KT, tức kg được xem là được linh hứng. Ví dụ chúng ta có bản văn PÂ theo thánh Tôma, PÂ theo thánh Phêrô kg được coi là KT; bản văn Didache đã từng được một số cộng đoàn GH sơ khai sử dụng nhiều, nhưng cũng không được coi là KT.

https://www.youtube.com/watch?v=q7EttA8CgIo&list=PLw4bPiABRdja6nIzbGOq-msNnYaZdIahM&index=17

1. Quy điển

Có một dữ kiện lịch sử là, những bản văn trong cuốn KT chúng ta sử dụng ngày nay, không phải là những bản văn duy nhất cố gắng viết lại mk của TC. Có nhiều bản văn khác tương tự như những bản văn KT, nhiều khi cũng đã từng được các cộng đoàn tín hữu sử dụng trong phụng vụ một thời gian, nhưng cuối cùng vẫn không được đưa vào bộ KT, tức kg được xem là được linh hứng. Ví dụ chúng ta có bản văn PÂ theo thánh Tôma, PÂ theo thánh Phêrô kg được coi là KT; bản văn Didache đã từng được một số cộng đoàn GH sơ khai sử dụng nhiều, nhưng cũng không được coi là KT.

Tiến trình GH xác lập những bản văn nào là KT, tức là được linh hứng được gọi là tiến trình hình thành quy điển. Quy điển chính là tập hợp các bản văn được coi là linh hứng, tức là chính bộ KT ngày nay.

Như bài trước có nói, GH tin rằng tiến trình xác lập, chọn lựa một số bản văn để hình thành bộ KT và loại bỏ các bản văn khác, chính tiến trình đó được linh hứng. Nói cách khác, CTT cũng linh hứng cho GH trong việc xác định bản văn nào là được linh hứng. Đây là một tiến trình kéo dài từ thời GH sơ khai, đã đưa đến kết quả xác định từ những thế kỷ đầu và kết quả đó đã được định tín trong công đồng Trento diễn ra ở thế kỷ XVI.

Hiện nay quy điển KT của GH Công giáo gồm 2 phần, phần Cựu Ước gần như chung với quy điển KT của Do thái giáo, trừ 7 cuốn mà người Do thái kg công nhận là KT của họ; các hệ phái Thệ Phản trong đó có Tin Lành cũng theo quan điểm này của người Do thái. Phần Tân Ước thì được công nhận và dùng chung bởi các nhánh Kitô giáo khác: chính thống giáo, các hệ phái Thệ phản cải cách và Anh giáo.

Đó là một số điều nói về quy điển KT, bây giờ chúng ta cùng tìm hiểu việc giải thích KT.

2. Giải thích KT thế nào?

Ở bài trước, khi nói về chân lý của KT, chúng ta có nói rằng nếu giải thích KT theo nghĩa khoa học và lịch sử, thì ta có thể tìm một số sai lầm, bất nhất trong KT. Vậy việc tìm ra ý nghĩa và chân lý của KT còn tuỳ thuộc vào việc giải thích KT. Ta cần giải thích KT thế nào để không hiểu sai bản chất và mục đích của các bản văn đó?

Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần ghi nhớ: KT vừa là tác phẩm của TC vừa là tác phẩm của con người. Kinh Thánh là lời của Thiên Chúa, nhưng lại được viết bằng ngôn ngữ của con người. Vậy để giải thích KT đúng đắn, ta cần ghi nhớ đặc tính kép này của KT. Vì là ngôn ngữ và tác phẩm của con người, nên Kinh Thánh cũng cần được giải thích theo và phù hợp với những quy luật của ngôn ngữ, logic, văn tự và văn chương của con người. Nhưng vì cũng là Lời của TC nên Kinh Thánh cần được giải thích bằng cái nhìn đức tin, phù hợp với các tiêu chuẩn đức tin; các tiêu chuẩn này đã được ĐK đề ra qua đời sống và lời dạy của Ngài, và được GH bảo toàn và lưu giữ.

Để giải thích KT như là lời của con người, chúng ta có thể sử dụng các phương pháp giải thích thông thường áp dụng cho mọi bản văn, cả xuyên đại lẫn đồng đại. Pp xuyên đại như pp phê bình lịch sử; những pp đồng đại như pp thuật truyện, pp cấu trúc luận, pp tu từ học, v.v.

Trong những thập niên trước đây giới chú giải KT hay chú trọng sử dụng pp phê bình lịch sử, nhưng ngày nay GH khuyến khích sử dụng mọi pp khác nhau, đã được xây dựng và kiểm chứng bởi khoa ngôn ngữ, văn chương và thông diễn hay giải thích học. Việc dùng nhiều pp đa dạng nhằm để chúng bổ túc cho nhau, vì pp nào cũng có những điểm mạnh điểm yếu riêng.

Còn để giải thích KT như Lời của TC, thì chúng ta cần đi tìm nghĩa thiêng liêng, điều mà TC muốn nói với ta qua bản văn. Nghĩa thiêng liêng có thể là nghĩa tín lý, tức điều mà C muốn dạy chúng ta phải tin; nghĩa luân lý, tức điều C muốn dạy chúng ta phải sống; và nghĩa cánh chung, tức điều C muốn dạy chúng ta phải hy vọng, v.v.

Khi nói về các cách đi tìm ý nghĩa của KT, cả về mặt văn tự, văn chương lẫn về mặt thiêng liêng, như thế, có lẽ nhiều người sẽ suy nghĩ rằng: chúng con đâu phải chuyên viên, làm sao có thể biết tìm nghĩa văn chương của KT theo những pp nào là phê bình lịch sử, thuật truyện, cấu trúc luận, v.v. Còn về nghĩa thiêng liêng của KT, làm sao chúng con có thể tìm được nghĩa tín lý, luân lý, cánh chung?

Đúng là đó là những pp mà chỉ các nhà chuyên môn có thể làm. Về nghĩa văn tự và văn chương, chúng ta có nhiều công trình chú giải của các nhà chuyên môn áp dụng nhiều pp khác nhau; về nghĩa thiêng liêng, chúng ta có công trình của các giáo phụ, các thánh và các bậc chủ chăn trong Giáo hội. Vậy chúng ta có thể tham khảo các công trình nghiên cứu và chú giải ấy.

Tuy nhiên, việc học và áp dụng một số pp chú giải cũng không phải là chuyện quá khó hay quá cao vời. Chúng ta có thể học những nét căn bản của những pp như thuật truyện, cấu trúc luận, tu từ học, v.v. và tập áp dụng qua các bản văn. Điều này có thể được làm trong những nhóm chia sẻ Lời Chúa. Những khoá học như khoá “tác viên TM” có thể giúp chúng ta điều này.

Nhưng điều quan trọng vẫn là chúng ta đọc KT và lắng nghe C khơi động gì trong lòng chúng ta. Điều này tuy không phải là pp học thuật, mà là thái độ nội tâm, nhưng cũng là kỹ năng cần tập luyện thường xuyên và lâu dài. Chúng ta có thể chú ý đến vài chữ, hoặc vài câu trong đoạn KT; rồi lặp đi lặp lại, niệm và nghiệm xem những câu chữ đó làm vang dội điều gì trong lòng ta; C nói gì với ta qua câu chữ đó, đặc biệt trong tương quan với kinh nghiệm đời sống của ta.

Một điều quan trọng chúng ta cần lưu ý khi tìm hiểu giải thích KT là: GH có những định hướng nhất định cho việc giải thích KT nói chung và từng đoạn KT nói riêng. Những định hướng đó kg phải là những quy định chi tiết cụ thể về nghĩa của một đoạn KT cụ thể nào, nhưng là những nguyên tắc tổng quát sao cho việc giải thích KT phải phù hợp với chân lý đức tin, truyền thống lâu đời và sống động của GH. Thế nên chúng ta vẫn có nhiều khoảng trống tự do trong việc giải thích KT. Tuy nhiên, dù tham khảo các tác giả, hay tự áp dụng các pp để tìm hiểu ý nghĩa các đoạn KT, chúng ta cũng cần tránh những giải thích không phù hợp với giáo huấn hay truyền thống của Giáo Hội.

Quả thế, GH dạy rằng chúng ta luôn phải giải thích KT dưới ánh sáng và trong bầu khí của Thánh Truyền. Vậy điều đó có nghĩa gì? Thánh Truyền là gì và tại sao lại như vậy? Chúng ta cùng tìm hiểu về Thánh Truyền trong bài tiếp theo. Vậy trong bài này chúng ta đã tìm hiểu quy điển KT có nghĩa là gì và việc giải thích KT cần phải được tiến hành như thế nào, theo những tiêu chuẩn gì. Trong bài sau, chúng ta sẽ tìm hiểu về TT.