Thách đố về phẩm tính đức Tin, thách đố của “nữ tính”

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Dân tộc Việt Nam quá đau thương và Giáo hội Công giáo tại Việt Nam vừa cùng chung chia biết bao nhiêu thăng trầm của dân tộc, lại vừa bị chính những người anh chị em đồng bào của mình bách hại. Giáo hội tại Việt Nam đã được xây bằng máu các thánh tử đạo.

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

1. Sức mạnh ngầm của Giáo hội Việt Nam

Dân tộc Việt Nam quá đau thương và Giáo hội Công giáo tại Việt Nam vừa cùng chung chia biết bao nhiêu thăng trầm của dân tộc, lại vừa bị chính những người anh chị em đồng bào của mình bách hại. Giáo hội tại Việt Nam đã được xây bằng máu các thánh tử đạo.

Phẩm tính đức Tin của Giáo hội tại Việt Nam đã có rất nhiều khiếm khuyết và hiện nay vẫn còn đầy những khiếm khuyết. Từ hơn 20 năm nay, đã nhiều lần và nhiều người tiên báo về một sự sa sút tất yếu, nhưng hành trình đức Tin của Giáo hội Việt nam đã và vẫn có đầy hồng phúc, đầy những biến chuyển kỳ lạ. Giáo hội tại Việt Nam từng bước thay đổi, âm thầm biến đổi, và vượt qua nhiều thách đố. Chúng ta có thể thấy đã khai mào và đang lớn lên một đời sống đức tin sâu xa hơn, gắn bó với những nguồn mạch căn bản của Kitô giáo một cách đúng đắn và sống động hơn : đời sống cầu nguyện, việc gắn bó với Lời Chúa, sự phong phú trong ơn gọi tu sĩ và linh mục, và những hoạt động của sứ vụ, đặc biệt sứ vụ thể hiện đức Ái… Giáo hội tại Việt Nam không có sự hiện diện nổi bật của một vị thánh cao cả, không có sự đóng góp mang tính quyết định của những bậc trí thức, hay một tập thể dòng tu nào…. Yếu tố quan trọng trong hành trình ấy có lẽ không phải là sự dẫn dắt khôn ngoan của hàng giáo phẩm, không phải là sự năng động của hàng linh mục, không phải là sự thánh thiện của tầng lớp tu sĩ… Hành trình đức Tin của Giáo hội Việt Nam, từ khởi đầu cho tới hiện nay, vẫn không phải là hành trình được điểm tô bằng những nhân vật xuất chúng mà là hành trình được đưa đẩy do một thứ đức tin mộc mạc, do tấm lòng chân thành của những người tín hữu bé nhỏ, âm thầm… Giáo hội tại Việt Nam có 117 vị thánh tử đạo, nhưng nói chung, đó là những vị thánh của đời thường, không phải là những vị thánh có một đời sống chiêm niệm xuất chúng, không phải là những vị thánh thông minh giỏi dang, không phải là những nhà truyền giáo hết sức nhiệt thành, không phải là những vị thánh có một đời sống luân lý cao cả…, mà chỉ là những vị thánh đã thể hiện được một lòng trung tín với Chúa, với Giáo hội, trong những giờ phút đối diện với sự sống chết của đời người…. Giáo hội tại Việt Nam vẫn còn đầy những khiếm khuyết, nhưng ngay cả điều đó cũng không thể hay chưa thể làm phai lạt thái độ tin tưởng đơn thành của bao người tín hữu. Nhìn lại hành trình của Giáo hội Việt Nam, có lẽ điều đáng ghi nhận là những tấm lòng chân thành của những người tín hữu “bình dân”, vẫn đang thực hiện những công việc nhỏ bé nhất trong sinh hoạt thường ngày của Giáo hội; cùng với những người đã phải chịu những bất công, oan ức trong xã hội và cả trong Giáo hội; những người đã sống dấm dúi cả đời trong các tu viện, trong nhà xứ…

Dân tộc Việt Nam nói chung và Giáo hội tại Việt Nam đã phải lãnh đủ biết bao oan khiên của kiếp người. Lịch sử Việt Nam quá đau thương, Giáo hội tại Việt Nam lãnh chịu gấp đôi sự đau thương ấy … Nhưng tất cả những khổ cực oan khiên của cuộc sống ấy, đối với Chúa, không bao giờ là một sự bỏ phí, không bao giờ chỉ là chịu vậy, không bao giờ qua đi chỉ như một quá khứ đáng buồn… Chúa đón nhận được tất cả, Chúa biến đổi tất cả thành nên hồng phúc cho đời sống Giáo hội hiện nay. Không ai được quyền biến một con người và một cuộc đời trở thành con dê tế thần. Nhưng những con dê tế thần một cách bất đắc dĩ lại là tế phẩm được Thiên Chúa trân trọng và làm cho trổ sinh hoa trái phong phú hơn hết. Có lẽ tiếng khóc của Mẹ Giáo hội nơi những đau khổ oan khiên, do bên ngoài hoặc do chính anh em trong nhà, tiếng khóc của “bà Rachel” ấy, tiếng khóc của “các thánh anh hài” ấy, vang vọng sâu xa vào trái tim nhân từ của Chúa hơn bất cứ một tiếng kêu nào khác, hơn bất cứ một lời cầu nguyện nào khác.

“Tiếng những người nghèo khổ, Chúa chẳng quên bao giờ.” (Tv 9,13)

“CHÚA phán rằng : "Trước cảnh người nghèo bị áp bức,

kẻ khốn cùng rên siết thở than,

giờ đây Ta đứng dậy,

ban ơn giải thoát cho kẻ mong chờ." (Tv 12,6)

2. Giáo hội trong chiều kích đức Maria

2.1 Hai chiều kích của Giáo hội

Cùng với đức Gioan Phaolô II, chúng ta có thể phân biệt hai chiều kích căn bản trong chiều sâu bản chất của Giáo hội, “chiều kích tông đồ và Phêrô” và “chiều kích đức Maria”.

“…Chúng ta có thể nói Hội thánh vừa mang đặc tính “Thánh mẫu” vừa có đặc tính “tông đồ” và đặc tính “thuộc về Phêrô”.

Trong lời chú thích của đoạn văn trên đây, đức Gioan Phaolô II ghi lại lời của nhà thần học Von Balthasar, trong diễn văn đọc trước các hồng y và các giám chức tại giáo triều Roma ngày 22-12-1997 như sau :

“Khía cạnh Thánh mẫu, nếu không hơn thì cũng là nét nền tảng và đặc trưng của Giáo hội như khía cạnh mang tính cách “tông đồ” và tính cách “Phêrô”. Khía cạnh Thánh mẫu cũng liên kết mật thiết với hai khía cạnh đó (…). Chiều kích Thánh mẫu của Giáo hội trổi vượt hơn chiều kích Phêrô, đồng thời liên kết và bổ xung cho chiều kích đó. Đức Maria, Đấng Vô nhiễm Nguyên tội, trổi vượt hơn mọi người khác và dĩ nhiên, hơn cả Phêrô và các tông đồ; không chỉ vì Phêrô và các tông đồ thuộc về nhân loại, sinh ra trong tội lỗi, là thành phần phần của Giáo hội ‘thánh thiện và bao gồm các tội nhân’, nhưng còn vì ba nhiệm vụ của các ngài không nhằm điều gì khác hơn là thành lập Giáo hội trong lý tưởng đạt đến sự thánh thiện này, lý tưởng đó đã được hình thành trước và biểu hiện trước nơi đức Maria. Như một nhà thần học hiện này đã nói : ‘Đức Maria là Nữ vương các Tông đồ’, mà không cần đến quyền bính tông đồ. Đức Maria có vai trò khác lớn hơn nhiều”.

“Chiều kích Phêrô” được biểu lộ trong vai trò của những người mục tử, tiếp nối vai trò của Đức Kitô như vị hôn phu, yêu thương và hiến mình cho Hội thánh :

“Trong Bí tích Thánh Thể, hành động cứu độ của Đức Kitô, của vị Hôn Phu đối với vị hôn thê là Hội thánh, được hiện thực cách bí tích. Điều này lại càng rõ ràng và trong sáng, khi thừa tác vụ của bi tích Thánh Thể, do vị linh mục hành động ‘nhân danh Đức Kitô – in persona Christi’, được một người đàn ông hoàn tất. Ý nghĩa này xác nhận giáo lý trong Tuyên ngôn Inter Insigniores được công bố theo lệnh đức giáo hoàng Phaolô VI, để trả lời các câu hỏi về vấn đề cho phụ nữ lãnh chức linh mục”.

Trong khi đó, tiếp nối truyền thống lâu đời, Giáo hội vốn coi đức Maria như là Evà mới. Công đồng Vatican II đã xếp chương VIII nói về đức Maria trong Hiến chế tín lý về Hội Thánh. Đức Maria chính là hình ảnh tiên trưng của Giáo hội, là thành phần của Giáo hội.

“Nhưng vì thuộc dòng dõi Ađam, nên Mẹ cũng liên kết với tất cả mọi người cần được cứu độ, hơn nữa, Mẹ “là Mẹ các chi thể (của đức Kitô) vì đã cộng tác trong đức ái để sinh ra các tín hữu trong Giáo hội là những chi thể của Đầu” (thánh Augustino, De S. Virginitate, 6 PL 40,399). Vì thế, Mẹ cũng được chào kính như chi thể trổi vượt và độc dáo nhất của Giáo hội về đức Tin và đức Ái, và Giáo Hội Công giáo, được Chúa Thánh Thần chỉ dạy, tôn kính ngài với tình con thảo như người Mẹ rất dấu yêu” (GH 53)

Giáo hội trong chiều kích Maria chính là một Giáo hội trong khía cạnh “thiếu nữ Sion”, như “hôn thê” của Ađam mới :

“Giáo hội còn được gọi là ‘Giêrusalem thượng giới’ và ‘Mẹ chúng ta” (Gl 4,26; Kh 12,17) được mô tả như hền thê tinh tuyền của Con Chiên không tì ố (Kh 19,7;21,2 và 9; 22,17)” (GH 6).

Chiều kích Phêrô vẫn luôn được nói đến nhiều, ngay trong Kinh Thánh, trong suốt lịch sử Giáo hội, và trong bầu khí Giáo hội hiện nay. Giáo hội cần những người lãnh đạo, cần những người tiếp nối vai trò của Đức Kitô như “Hôn phu”. “Bộ mặt” hữu hình của Giáo hội trần thế vẫn luôn là giáo triều, là các đấng bậc trong Giáo hội. Tuy nhiên, Giáo hội không phải chỉ là những đấng bậc. Giáo hội là Dân Thiên Chúa mà mọi người Kitô hữu đều là những thành phần trọn vẹn và tích cực. Trong mầu nhiệm Giáo hội hiệp thông, chúng ta hiểu rằng, đằng sau những hào quang luôn có những giọt mồ hôi và nước mắt; đằng sau những thành công lớn lao và những công trình vĩ đại luôn có những hy sinh âm thầm, những sự chết đi để có được một mùa gặt tốt đẹp. Đó là đóng góp của vai trò “nữ tính”.

Nơi Giáo hội Việt Nam, chúng ta thấy được rõ nét nhất nền tảng vững bền của đời sống đức tin, không phải chỉ trong các đấng bậc, nhưng đúng hơn là trong tấm lòng đơn thành của những “bà goá”. Chính từ trong lòng Giáo hội như người Mẹ ấy mà các mục tử đã được sinh ra, và chính nền tảng ấy mới thực sự nuôi dưỡng sức sống của Giáo hội Việt nam. Đó là những người chỉ có thể đóng góp được hai đồng xu nhỏ mà lại là những người đóng góp nhiều nhất :

“Ngước mắt lên nhìn, Đức Giê-su thấy những người giàu đang bỏ tiền dâng cúng của họ vào thùng tiền. Người cũng thấy một bà goá túng thiếu kia bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm. Người liền nói : "Thầy bảo thật anh em : bà goá nghèo này đã bỏ vào nhiều hơn ai hết. Quả vậy, tất cả những người kia đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ, mà bỏ vào dâng cúng ; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình, mà bỏ vào đó tất cả những gì bà có để nuôi sống mình." (Lc 21, 1-4)

Có lẽ nhiều người tín hữu vẫn ngửa mặt lên để trông chờ một quyết định, một đường hướng, một tổ chức, một phong trào, hoặc một nhân vật đặc biệt nào đó nơi các “đấng bậc”. Niềm mong chờ ấy là chính đáng, nhưng cũng không ít lần bị hụt hẫng. Điều mang lại một niềm cậy trông sâu xa hơn vào Chúa, điều mang lại sức sống cách chính yếu của Giáo hội có lẽ lại ở nơi những kitô hữu bé mọn, qua những công việc bé nhỏ, được thực hiện với tấm lòng đơn thành mộc mạc… Nhìn lại khuôn mặt Giáo hội Việt Nam trong chiều kích đức Maria để nhận ra được khuôn mặt ẩn khuất của Giáo hội, và nếu như chiều kích Phêrô và các tông đồ có phần “đuối sức” thì chính chiều kích Maria lại là nền tảng để hoá giải, để bồi bổ, để nâng đỡ cho sự sống chung của Giáo hội. Thiên Chúa vốn là Đấng từ bi thương xót, Ngài không bị vẻ bề ngoài che khuất tầm nhìn nhưng luôn nhìn xuống đời sống con người ở đáy sâu của những người bé mọn đau thương nhất; và chúng ta được thêm lòng yêu mến, trông cậy biết bao khi được cùng với Chúa để nhìn thấy mạch nguồn sức sống đức Tin vẫn ngầm chảy từ những người tín hữu âm thầm nhỏ bé trong đời sống Giáo hội.

Tuy vậy, chính những nơi có nhiều hồng phúc nhất của Giáo hội tại Việt Nam cũng là nơi diễn ra những thách đố sâu xa nhất.

2.2 Giáo hội của phẩm giá

Ở đâu cũng vậy, con người khó có thể thoát được cám dỗ thăng tiến. Thăng tiến bản thân là nhiệm vụ không thể thiếu của kiếp người. Tuy nhiên, đối với niềm tin của người Kitô hữu, dù nỗ lực thăng tiến và đạt được mức độ cao quí đến đâu, thì điều đó chỉ là trả nghĩa, chỉ là lời tạ ơn vì phẩm giá nền tảng đã được chính Chúa tặng không. Thiên Chúa đã chọn Dân Israen là Dân riêng, đó không phải là một sự lựa chọn theo kiểu chấm điểm công đức, nhưng là sự lựa chọn của lòng từ bi thương xót :

“ĐỨC CHÚA đã đem lòng quyến luyến và chọn anh em, không phải vì anh em đông hơn mọi dân, thật ra anh em là dân nhỏ nhất trong các dân.” (Dnl 7,7)

Thế mà, trong tập thể những người được chọn nhờ lòng thương xót ấy, lại luôn có những người muốn làm “kẻ chột làm vua xứ mù”, đó là điều dễ làm cho Chúa nổi giận. Thật ra, tăng tiến chỉ là một phương tiện để thực hiện một chức năng, và chức năng luôn là nhằm để phục vụ. Khi ai đó lấy chức năng để tô vẽ phẩm giá của mình hơn người khác, thì đó là kẻ ăn gian. Người Việt nam vốn quá nhậy cảm với danh giá, nên càng dễ rơi vào thái độ bỏ quên phẩm giá để ngước nhìn trong so sánh những ơn huệ thuộc chức năng. Trong cái nhìn đức tin, có lẽ thói chuộng danh giá là mối hiểm nguy lớn nhất cho đời sống đức Tin của Giáo hội Việt Nam.

Phẩm giá vốn đã là điều căn bản và cao quí nhất của con người; ơn huệ trong chức năng chỉ là một cách để con người thể hiện lòng tri ân. Qui luật chung từ ngàn đời là khi nào bị tước lột tất cả những phẩm tính thăng tiến, thì người ta lại có nhiều cơ may để nhận ra được vẻ đẹp của phẩm giá. Dù không người nào được quyền cố tình làm cho ai đó trở nên nghèo, nhưng người nghèo luôn có mặt trên đời và cái nghèo của con người lại vẫn luôn có khả năng giúp con người tìm gặp lại được sự cao quí nền tảng của phẩm giá. Phẩm giá của con người thường được tỏ lộ nơi những người nghèo khổ nhất. Cũng vậy, phẩm giá của một người Kitô hữu được tỏ lộ một cách sáng ngời và tinh tuyền nhất nơi những người Kitô bé mọn nhất, chứ không phải nơi những đấng bậc. Chiều kích đức Maria của Giáo hội chính là nơi phẩm giá căn bản của người Kitô được công nhận. Khi nào tinh thần của đức Giêsu được tỏ lộ một cách toàn vẹn trong Giáo hội, khi tinh thần quí trọng những người bé mọn nhất được lan rộng, khi mà khuôn mặt của Nước Trời được rửa sạch những vết tỳ ố của danh giá, thì khi đó quyền năng của đức Giêsu trong Thánh Thần mới được biểu lộ trọn vẹn.

2.3 Giáo hội trên nền tảng “thuộc về nhau”

Cũng giống như thách đố của thăng tiến, ta thấy một hiện tượng cũng khá “tự nhiên”, tỏ lộ rõ sự yếu đuối mà con người khó có thể tránh khỏi, đó là não trạng cục bộ. Một Kitô hữu bình thường thì rất quí trọng sự đóng góp của những người phục vụ, các ca đoàn, các quới chức trong ban phục vụ…, vì đó là những người đã góp phần giúp cho đời sống, sinh hoạt trong Giáo hội được sống động. Thế mà, khi người Kitô hữu ấy nhiệt thành hơn để dấn thân vào một đoàn thể, thì hệ quả thường xẩy ra là người ấy lại có cái nhìn không còn thiện cảm và tri ân với những đoàn thể khác, ca đoàn này đố kỵ hoặc không còn đủ thiện cảm với ca đoàn kia, hội đoàn này với hội đoàn kia. Ta có thể thấy khá rõ hiện tượng ấy nơi những “chức năng” cao hơn : người phục vụ ở xứ đạo này với xứ đạo kia; tu sĩ dòng tu này với tu sĩ dòng tu kia; các linh mục dòng với linh mục triều, giáo phận này với giáo phận kia, thậm chí đến cả việc bầu vị giáo hoàng thuộc quốc gia này hay quốc gia kia, thuộc dòng tu này hay dòng tu kia…. Một kitô hữu thuần thành chắc hẳn sẽ dễ quí trọng vị giáo hoàng một cách đơn sơ hơn là những đấng bậc trong hàng giáo phẩm của một Giáo hội địa phương nào đó…

Trong khi đó, nếu nhìn lại đời sống gia đình, ta có thể thấy một bài học vô cùng quí giá cho đời sống Giáo hội. Người mẹ trong gia đình thường là người ít có khả năng để lại một công trình nào cho hậu thế. Những công việc của người mẹ thường để lại những thành quả rất mong manh, một bữa cơm thịnh soạn chẳng mấy chốc sẽ chỉ còn là một đống chén bát dơ, căn nhà được quét tước, lau lọt sạch sẽ cũng chẳng mấy chốc trở thành một căn nhà bụi bẩn… Thế nhưng chính những công việc mau qua ấy lại có khả năng thể hiện rõ nét bản chất “làm vì ai” chứ không phải “làm cái gì”. Chính những công việc trôi qua, tan biến như thế là con đường thông thoáng nhất để đạt đến ngôi vị của ai khác và góp phần lớn để các thành viên trong gia đình giữ được ý thức thuộc về nhau hơn hết. Chính những công việc trôi qua như thế là nguồn sức sống để ai khác có thể thực hiện được những công trình to lớn, để đời. Chính vì thế mà nhân gian thường nói, đằng sau những công trình vĩ đại của người đàn ông luôn có bóng dáng của những người phụ nữ.

Một cách nào đó, ta thấy “công trình” là thôi thúc của Giáo hội trong chiều kích Phêrô, nhưng “thuộc về” lại là phẩm tính bắt nguồn từ nền tảng của Giáo hội trong chiều kích đức Maria. Khi phẩm tính đời sống đức tin trong Giáo hội càng nghiêng về Giáo hội trong chiều kích “phêrô”, thì lại càng dễ rơi vào cám dỗ của chức năng, cám dỗ của “công trình” và cám dỗ đó đưa đến thái độ cục bộ, đưa đến tình trạng chia rẽ nhau.

Mặt khác, nền tảng thuộc về nhau không phải là một thứ tập thể chủ nghĩa, nhưng phát xuất từ tính độc đáo của ngôi vị. Sự hiệp nhất chân chính của con người trong phẩm giá cao quí được Chúa ban không phải là bỏ mọi sự hổ lốn vào một bao bì chung, nhưng là làm sáng lên phẩm tính chung trong mỗi cá vị. Tập thể nói chung và cả Giáo hội hiểu theo nghĩa tập thể không bao giờ có đủ ý nghĩa tự tại nếu không tạo điều kiện để sự hoàn hảo của ngôi vị được phát triển trọn vẹn. Hiến chế Mục Vụ trong Công đồng Vatican II khẳng định :

“…trật tự và tiến bộ của xã hội phải luôn luôn nhằm lợi ich của các nhân vị, bởi vì việc sử dụng vạn vật phải tuỳ thuộc vào việc phục vụ các nhân vị chứ không phải ngược lại. Điều nay chính Chúa đã nói đến khi bảo rằng ngày nghỉ được lập ra vì con người chứ không phải con người được dựng nên vì ngày nghỉ” (MV 26,c)

Chúng ta có thể thấy khá rõ căn bệnh đoàn lũ trong thói quen sống của người Việt, cả nơi cung cách quản trị của những người lãnh đạo lẫn trong thái độ lựa chọn “xấu đều hơn tốt lỏi” của người giáo dân. Hệ quả của thái độ này là những căn bệnh như quá dễ dàng phê phán lương tâm, xầm xì, bè phái… Nguyên nhân của căn bệnh này không phải do việc tôn trọng tự do cá nhân quá đáng nhưng là vì sự lấn át của tập thể chủ nghĩa. Tập thể chủ nghĩa khiến cho cá nhân bị đè nén và phải tìm cách khẳng định mình cách lệch lạc; tập thể chủ nghĩa khiến cho cá không nhân còn nhận ra nét đẹp riêng của mình, không có được sự an hoà trong chính mình và luôn tìm cách khẳng định mình trong so sánh. Muốn tìm lại khuôn mặt trong sáng của chính mình, Giáo hội tại Việt Nam phải tìm lại trong chiều kích đức Maria, trong đó mối tương quan liên vị được trân trọng :

“Bản chất của tình mẫu tử luôn liên hệ tới một người, xác định liên hệ tuyệt đối duy nhất giữa hai con người : liên hệ giữa mẹ và con và giữa con với mẹ. Cả khi người mẹ có nhiều con, liên hệ cá nhân của bà với từng đứa con cũng diễn tả tình mẫu tử trong bản chất của mình. Thật sự mỗi đứa con được sinh ra một cách tuyệt đối duy nhất, và điều này có giá trị đối với người mẹ cũng như với người con. Mỗi đứa con được bao bọc cách đặc biệt bằng tình mẫu tử duy nhất, căn cứ vào điều này để đặt nền tảng cho việc giáo dục và trưởng thành nhân của em”.

“Liều thuốc” cho căn bệnh này có lẽ là nhận ra phẩm giá của những người bé mọn, trân trọng phẩm chất đời sống đức Tin nơi những người nhỏ bé nhất.

2.4 Giáo hội của người nghèo

Một đường nét trọng yếu của Tin Mừng đức Giêsu là một sự đảo ngược vị thế, những người rốt hết sẽ nên đầu hết và những kẻ đứng đầu phải xuống hàng chót (Xc Mt 19,30…) : người nghèo, người tội lỗi, người ngoại là những người được Chúa quan tâm hơn cả. Đức Giêsu được Chúa Cha sai đến loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn, cứu chữa các tâm hồn đau khổ (Lc 4,18), ‘tìm và cứu chữa những gì đã mất’ (Lc 19,10); Đức Giêsu vui mừng khi biết ý định của Chúa Cha muốn tỏ bày bí nhiệm cho những người bé mọn (Lc 10,21)… . Giáo hội của Chúa Kitô phải biểu lộ được đường nét ấy.

“… Giáo hội yêu thương ôm ấp tất cả những ai đáng sầu khổ trong thân phận khốn cùng của kiếp nhân sinh. Hơn nữa, Giáo hội nhận ra nơi những kẻ nghèo khó và đau khổ hình ảnh Đấng Sáng Lập nghèo khó và khổ đau của mình, cố gắng làm giảm bớt nỗi khổ của họ và nỗ lực phục vụ đức Kitô trong họ” (GH 8)

Linh đạo căn bản của đức Tin Kitô giáo luôn rõ nét là một nẻo đường mà những người “rốt hết” sẽ nên “đầu hết”; là yêu mến nhiều vì được tha thứ nhiều (Lc 7,47); là khám phá sức mạnh của Chúa khi nhận ra mình yếu đuối (2 Cr 12, 10); là được công chính khi hạ mình xuống (Lc 18,14)… Thế nhưng bộ mặt của Giáo hội hiện nay vẫn chưa biểu lộ được nhiều đường nét căn bản ấy. Cái “bị lộ” nhiều hơn lại chính là điều ngược lại. Với bài giảng Nước Trời, đức Giêsu khai mạc nước Trời không phải chỉ như một Giáo hội cho người nghèo, mà là một Giáo hội của người nghèo. Có lẽ điều còn thiếu trong đời sống Giáo hội hiện nay là chưa làm sáng lên được một nền linh đạo của người nghèo, chưa khám phá hồng phúc tặng không của Chúa cho người nghèo, chưa trân trọng nét đẹp của ơn cứu độ siêu nhiên; nên dù có nhắc đi nhắc lại giáo huấn của đức Giêsu, thế đứng của Giáo hội vẫn luôn nghiêng ngả theo chiều hướng thế gian, chiều hướng đề cao “đạo luân lý” nhiều hơn là tỏ lộ hồng phúc của “đạo cứu độ”.

Nghèo chính là cánh cửa Nước Trời. Mối phúc đầu tiên trong Bài giảng Nước Trời có thể toát lược ý nghĩa căn bản của tất cả các mối phúc khác. “Người nghèo” không phải chỉ là người không có tiền bạc, nhưng còn là người không có đủ năng lực để đi vào thế giới đổi chác. Người nghèo cũng là người tội lỗi, là người thiếu đức độ, là người thiếu uy tín, là người dễ bị người khác khinh dể… Người nghèo là người không có tiếng nói, nghĩa là lời nói của họ không được lắng nghe, không được trân trọng. Người nghèo không có tiếng nói, vì tiếng nói của họ không có được những “phương tiện” hỗ trợ, không có địa vị, không có tiền bạc, không có cả đức độ. Người nghèo không có tiếng nói, vì những cách diễn tả của họ không có được nét đẹp “văn hoá”, dĩ nhiên đây là văn hoá của xã hội trần thế…

Nếu Giáo hội không nghe được tiếng nói của người nghèo, đó là vì bầu khí của Giáo hội đã không có được “chân trời giá trị” mà chỉ có Thánh Thần mới mở ra được. Chỉ nhờ Tin Mừng của đức Giêsu, nhờ chiêm ngắm nhiệm cục cứu độ lạ lùng của người, nhờ một thứ văn hoá đức Tin mà Giáo hội mơi có thể nhận ra được tiếng nói của người nghèo.

Phẩm giá của người nghèo không thể dựa trên một nền tảng nào theo kiểu “văn hoá” của con người. Người nghèo chỉ còn lại bản thân, đòi hỏi được chấp nhận vì bản thân, đó là thứ phẩm giá được Chúa tặng không. Do đó, điều trước tiên chính là việc tôn trọng phẩm giá một con người như họ có được trước mặt Chúa. Từ sự chân nhận phẩm giá một con người, một con người “trụi lủi” về mọi giá trị thế gian, nhưng lại có đầy đủ giá trị căn bản trước mặt Chúa như thế, chúng ta mới có thể tìm lại thế giới tình thương của Chúa. Đây là thế giới của sự chấp nhận bản thân chứ không phải thế giới đổi chác những phẩm tính nào khác; và đây là thế giới của lòng thương xót.

Thật ra, người nghèo bị “bắt buộc” vượt qua qui luật đổi chác, theo kiểu tôi tốt nên tôi được quí mến; và người nghèo “đòi” được bước vào qui luật nghĩa tình, qui luật của sự trao tặng và lãnh nhận bản thân, chỉ bằng sự nài nỉ dai dẳng và lì lợm (Xc Lc 11, 5-13; Lc 18, 1-8), bằng duy nhất một lời cầu xin lòng thương xót (Xc. Lc 18, 35-43…) …

Nếu nhìn lại hình ảnh một người mẹ trong gia đình, ta sẽ thấy được trái tim người mẹ có thể bao bọc được mọi đứa con của mình; và trái tim ấy thổn thức nhiều nhất vì đứa con kém may mắn nhất, những đứa con “nghèo” nhất trong gia đình. Chỉ trong gia đình như một cộng đồng ngôi vị, trái tim người mẹ mới có thể cúi xuống đến những đứa con bé bỏng nhất mà không phải là một thứ thương hại. Giáo hội cần học được bài học yêu thương nơi trái tim của Người Mẹ Giáo hội, để có thể làm sáng lên chiều kích đức Maria trong bản chất vốn có của mình :

“Trong cuộc sống, đức Trinh nữ đã là tấm gương của tình yêu thương mang đậm tính hiền mẫu, một tình yêu cần được thể hiện cách sống động nơi tất cả những ai đang cộng tác vào sứ mệnh tông đồ của Giáo hội để tái sinh nhân loại”.

3. Giáo hội và mầu nhiệm Nước Trời

Với Công đồng Vatican II, những tranh luận về Giáo hội quyền bính và Giáo hội đoàn sủng, Giáo hội hữu hình và Giáo hội vô hình…, phần nào đã có được câu trả lời. Sau Vatican II, mầu nhiệm Giáo hội vẫn tiếp tục được đào sâu và vẫn không ngừng có những lập trường thiên lệch bên này hoặc bên kia…

Chỉ xin ghi nhận rằng Công đồng đã “định nghĩa” Giáo Hội là một mầu nhiệm, bắt nguồn và mô phỏng từ mầu nhiệm Ba Ngôi; Công đồng không đồng nhất Giáo hội Công giáo với Giáo Hội của Chúa Kitô; nhưng khẳng định mầu nhiệm Giáo Hội Phổ Quát của đức Kitô “có mặt”, “được bảo toàn” trong Giáo hội Công giáo :

“GÍAO HỘI ấy được tổ chức như một cộng đồng xã hội trên trần gian, được bảo toàn trong Hội thánh Công giáo được cai quản bởi Đấng kế vị thánh Phêrô và các giám mục hiệp thông với ngài…” (GH 8)

Điều ấy chẳng những cho phép chúng ta nhận diện những khiếm khuyết của Giáo hội trong khía cạnh hữu hình và trần thế mà không làm phương hại đến ý nghĩa của Giáo hội của Kitô. Hơn nữa sự phân biệt ấy cho phép chúng ta khám phá ngay trong Giáo hội hữu hình và trần thế này những dấu chỉ của Nước Trời qua bộ mặt Giáo hội như “hiền thê tinh tuyền”.

“Trong đức Kitô, Giáo hội như là bí tích, nghĩa là dấu chỉ và phương tiện hiệp thông mật thiết với Thiên Chúa và hợp nhất mọi người…” (GH 1).

Giáo hội trần thế là một bí tích. Một đàng, những “chất liệu” hữu hình của Giáo hội sẽ qua đi khi mà “bộ mặt thế gian này đang biến đi” (1Cr 7,31). Nhưng điều đó không có nghĩa là bản chất Giáo hội thay đổi mà là những gì cần thiết cho cuộc hành trình trần gian sẽ qua đi khi Giáo hội được nhìn thấy diện đối diện với Chúa của mình.

Mặt khác, Thiên Chúa gọi và chọn mỗi người chúng ta trong lòng Giáo hội như là bí tích ấy. Được cứu độ cũng có nghĩa là được tiếp nhận mãi mãi vào lòng Giáo Hội, một Giáo hội được Đức Kitô yêu thương và Người đã phó nộp mình vì Giáo hội. Người chuộc lại Giáo hội bằng giá máu của người. Mỗi người chúng ta được yêu thương và được cứu độ cũng chính là được thông dự vào tình yêu cứu độ ấy.

Như vậy, trong ý nghĩa Giáo hội như bí tích, một mặt người Kitô hữu hết lòng tôn trọng, liên đới và yêu thương mọi người, mọi đấng bậc trong Giáo hội; nhưng đồng thời người Kitô hữu vẫn dám nhìn thẳng vào những khuyết điểm trong bộ mặt của Giáo hội, cũng như có thể nhận ra những dấu chỉ của một Giáo hội tinh tuyền. Dĩ nhiên, không thể có một sự phân chia rạch ròi giữa những người Kitô hữu thuộc Giáo hội theo chiều kích Phêrô và những Kitô hữu thuộc Giáo hội theo chiều kích đức Maria; cũng như không thể khẳng định Thánh Thần luôn luôn thổi “từ dưới lên”. Tuy vậy, trong lòng Giáo hội tại Việt Nam, có lẽ chúng ta vẫn có thể thấy được một chiều hướng : càng gần với chiều kích Phêrô, người ta lại càng đối diện với nguy cơ nghiêng ngả về “chức năng”, về “công trình” và về những người ưu tuyển trong Giáo hội. Ngược lại, càng gần với chiều kích đức Maria, người ta lại càng có cơ may tìm được phẩm giá, tìm được thực tại “thuộc về nhau”, tìm thấy một linh đạo của người nghèo; và tìm được một thứ mạch nguồn của phẩm tính đức tin nơi niềm tin đơn thành của rất nhiều những tín hữu bé nhỏ và tầm thường; hoặc nơi biết bao người Kitô hữu “bé nhỏ”, những người đã phải chịu biết bao nhiêu nỗi đau, sự mất mát, nỗi oan kiên, cả trong xã hội cũng như trong Giáo hội.

”Người đoái nghe dân bị bóc lột kêu cầu,

chẳng khinh thường lời họ nguyện xin”. (Tv 102,18)

Nếu không thấy được Giáo hội trong chiều kích đức Maria, bộ mặt hữu hình của Giáo hội khó lòng gột rửa được những đường nét giáo sĩ trị, đường nét của một Giáo hội chức năng, một Giáo hội xa hoa, một Giáo hội bất bình đẳng… Bao nhiêu giá trị đẹp của Nước Trời được đức Giêsu loan báo vẫn còn nhiều thiếu sót hoặc chỉ là một bức tranh dở dang trong hiện tình của Giáo hội hữu hình nói chung và trong Giáo hội tại Việt Nam.

Đại hội thể thao Olympic là đại hội của những vận động viên không chuyên nghiệp, đó là phong trào để đánh giá và để khuyến khích “mặt bằng” yêu thích thể thao của người dân trong một đất nước. Đại hội Olympic khác với, nhưng luôn tương tác với các giải đấu của các câu lạc bộ chuyên nghiệp. Nếu quốc gia nào đó biến đại hội Olympic thành một thứ giải chuyên nghiệp trá hình, thì đó là kẻ gian dối. Gần giống như thế, trong một năm phụng vụ, Giáo hội giới thiệu cho người Kitô hữu nhiều mẫu gương thánh thiện của những vị thánh nổi nang như cây cao bóng cả. Tuy nhiên, ngày lễ các thánh 1-11 lại là “ngày hội Olympic” của Giáo hội, khi đó, Giáo hội mừng kính toàn thể các thánh, bao gồm cả những người quen thuộc hoặc họ hàng của mỗi người. Nhiều khi những vị thánh “bình thường” của cuộc sống hằng ngày lại thực sự là những chứng tá tỏ lộ rõ nét tình yêu và quyền năng của Chúa cho mọi người hơn là những nhân vật cao cả khiến người thường “kính nhi viễn chi”. Thật vậy, giáo huấn và gương sáng đều rất cần thiết, nhưng điều mang ý nghĩa quyết định lại là chứng tá. Giáo huấn và gương sáng mà không phải là chứng tá thì, theo một nghĩa nào đó, là thái độ ăn gian. Chỉ trong khía cạnh chứng tá thì đời sống đức tin của người Kitô hữu mới chìm sâu trong tầng ý nghĩa căn bản của ơn cứu độ, của hồng ân tặng-không trong nhiệm cục Tân ước. Sức sống của đức Tin được loan truyền bằng chứng tá, vì chứng ta làm nổi bật lên sự hiện diện của Chúa, quyền năng và tình yêu của Ngài.

Giáo hội trong chiều kính đức Maria, là “Giáo hội hiền thê”, biểu lộ hai nét mặt là “mẹ và trinh nữ”. Đó là hai giá trị loại trừ nhau trong thế giới con người, nhưng lại được kết hợp một cách hoàn hảo và sung mãn trong hiện thân của đức Maria. Cùng với đức Maria, Giáo hội là “trinh nữ” để kết hiệp trọn vẹn với Chúa Thánh Thần trong tình yêu không hề sứt mẻ; Giáo hội là mẹ để cộng tác với Chúa để sinh hạ và giáo dục người Kitô hữu. Trong khía cạnh Phêrô, Giáo hội nhận được quyền bính của Chúa để tháo cởi và cầm giữ (Xc. Mt 16,19; 18,18); nhưng trong khía cạnh Thánh mẫu, Giáo hội hoàn toàn phó thác cho sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần như một trinh nữa và tỏ bày lòng từ tâm của Chúa cho những người bé mọn như một người mẹ (Xc. Ga 2, 1-11). Chính khi đó, Giáo hội biểu lộ được khuôn mặt thánh thiện không tì ố…

“Tuy nhiên, nếu như Giáo hội đã đạt tới sự toàn thiện trong Đức Trinh Nữ diễm phúc, nhờ đó không còn vết nhơ hay nếp nhăn (X. Ep 5,27), thì các Kitô hữu vẫn còn phải cố gắng chiến thắng tội lỗi để được tăng trưởng trong đời sống thánh thiện; vì thế, họ ngước mắt lên đức Maria là mẫu gương nhân đức sáng người cho toàn thể cộng đoàn những người được chọn. Nhờ sốt sắng suy niệm và chiêm ngắm đức Maria trong ánh sáng của ngôi Lời nhập thể, Giáo hội cung kính hoà nhập cách sâu xa hơn vào mầu nhiệm nhập thể cao cả, và càng ngày càng nên giống Phu quân mình hơn…” (GH 65)

Tạm kết

Hơn lúc nào hết, Giáo hội tại Việt Nam đang trải qua những cơn sóng gió, đặc biệt là sóng gió ở những người lãnh đạo trong Giáo hội. Mặc dù khó có thể phân định đúng sai trong từng vụ việc, vì còn nhiều thứ “hồ sơ” chưa được “bạch hoá”; nhưng hệ quả trước mắt là, ít nhiều, đã có những rạn nứt trong lãnh vực quyền bính.

Mặt khác, có những hiện tượng muôn thuở trong đời sống Giáo hội, hiện tượng giáo dân nói xấu các linh mục, và linh mục nói xấu giám mục… Hiện tượng ấy cũng không phải là nhiều lắm, nhưng cũng không phải là hiếm. Rồi hiện tượng có những hoàn cảnh người giáo dân rơi vào bế tắc vì cách hành xử của linh mục; cũng như hiện tượng những linh mục, dòng tu rơi phải chịu ấm ức vì cách hành xử của giám mục… hiện tượng này cũng không nhiều lắm nhưng cũng không phải là hiếm. Những hiện tượng ấy có lẽ chỉ ở mức độ vừa đủ để đôi lúc làm dấy lên một chút ngượng ngập trong tâm hồn ai đó khi họ được/bị nghe những lời cám ơn, hoặc lời chúc mừng “bài bản” như văn phong XHCN.

Và chắc chắn còn nhiều loại hiện tượng khác nữa trong đời sống Giáo hội. Tuy nhiên, dù tình hình có thế nào đi nữa, nếu Giáo hội tại Việt Nam còn biết nhìn đến chiều kích Thánh mẫu trong mầu nhiệm Giáo hội, thì vẫn có thể được gia tăng thêm lòng tin, lòng trông cậy và lòng yêu mến đối với Giáo hội.

Ngoài việc củng cố sơ đồ quản trị, ngoài việc gia tăng nỗ lực trong việc đào tạo giáo sĩ và tu sĩ, ngoài việc phát triển có Dòng tu, ngoài việc tổ chức những sinh hoạt mục vụ…, có lẽ điều quan trọng hơn đối với Giáo hội tại Việt Nam là nhìn lại phẩm tính của đời sống đức Tin, uốn nắn và củng cố phẩm tính đức Tin, và đó chính là làm triển nở chiều kích Thánh Mẫu trong bầu không khí chung của Giáo hội.

Chú thích:

[1] X. Tông thư Phẩm Giá Phụ Nữ, s.27.

[2] Von Balthasar, Obs. Rom. 23-12-1987.

[3] Tông thư Phẩm Giá Phụ Nữ, số 26.

[4] Xc. Nguyễn Trọng Viễn OP, Phẩm giá và Chức năng trong đời sống thánh hiến, Báo Chia Sẻ, Nội san Thần học - Mục vụ - Tu đức, số 64, trang 29-30.

[5] Thông điệp Mater Redemptoris, số 45.

[6] GH 65; Xc. Thông điệp Redemtoris Mater, số 43.

[7] Công đồng thay thế động từ “est” (là) bằng động từ “subsistit” (được bảo toàn).

[8] Xc. Tông thư Phẩm giá Phụ Nữ, chương VI.