CHƯƠNG I: NHỮNG TRIẾT GIA ĐẶT NỀN (tt).
- Jean Guitton, Pascal et Leibniz, Aubier,1951.
Bài 8 : BLAISE PASCAL (1623-1662)
Thư Mục riêng
- Jean Guitton, Pascal et Leibniz, Aubier,1951.
- Pascal, Pensées; Texte établi et annoté par Jacques Chevalier, Livre de poche, 1962.
1 . Tiểu Sử
Blaise Pascal sinh năm 1623 tại Clermont-Ferrand, thuộc nước Pháp, trong một gia đình quí phái và khá giầu có. Thân phụ là Etienne Pascal và thân mẫu là Antoinette Bégon. Khi Blaise được 3 tuổi thì thân mẫu qua đời; ông sống cùng cha và một người chị là Gilberte, một cô em gái là Jacqueline. Năm 1652, Jacqueline vào tu viện Port-Royal, một "trung tâm" của phái Jansénisme.
Blaise có một trí thông minh đặc biệt và phát triển rất sớm. Cha ông ngạc nhiên về thiên khiếu đặc biệt của con và muốn tự mình chăm lo việc học cho đứa trẻ này. Blaise được học những môn thông thường như sinh ngữ và hai cổ ngữ (hy lạp và la tinh); nhưng phải đợi năm 12 tuổi cậu mới được học những môn khác.
Năm 12 tuổi, Blaise đã tự tìm tòi được định lý hình học thứ 32 của Euclide. Khi 13 tuổi, cậu đã đọc những tác phẩm của cộng đoàn Saint Cyran (Một đan viện, thời đó, do viện phụ Duvergier de Hauranne lãnh đạo, đây là một nhà thần học, bạn của Jansénius và là linh hướng cho đan viện xi-tô Port Royal.) và đã xác tín về những giới hạn của lý trí con người, đồng thời cũng xác tín về tính siêu việt tuyệt đối của những chân lý Đức Tin. Lên 16 tuổi, cậu đã soạn một tác phẩm khoa học : Khái Luận về Hình Nón. Để giúp cha làm viên chức tài chánh ở Rouen, cậu sáng chế tạo ra được "máy tính" và J. Chevalier kể Blaise Pascal như là người khai sáng khoa "tự điều khiển" (initiateur de la cybernétique). Cậu còn thực hiện nhiều cuộc thí nghiệm nhằm xác định thuyết "trọng lực" của không khí, sáng lập phép tính xác xuất...
Sau một thời gian sống nếp sống của một thanh niên quí tộc, năm 1654, Pascal suýt chết vì một tai nạn xe hơi trên cầu Neuilly. Trong lúc thấy cái chết gần kề, ông cảm thấy rõ sự hư vô của tất cả những thú vui trong đời sống. Sau biến cố này, ông thay đổi đời sống và dành trọn vẹn cuộc đời còn lại cho cho niềm Tin. Pascal ghi trong Nhật Ký rằng, từ đêm 23-11-1654, ông luôn mang trong áo câu : "Vui, Vui, nước mắt của niềm vui. Từ bỏ trọn vẹn và thanh thoát. Tùng phục trọn vẹn Đức Giêsu Kitô và vị linh hướng". Sau khi ông qua đời, người ta tìm thấy mảnh giấy ghi câu đó trong áo của ông.
Từ biến cố hoán cải, Pascal ước mong viết một cuốn hộ giáo. Tuy nhiên, hoàn cảnh lại đẩy hoạt động của Pascal tới một mục tiêu khác. Khi đó Roma vừa kết án 5 mệnh đề của phái Jansénisme về vấn đề ân sủng và về sự tự do chọn lựa (libre arbitre). Pascal đứng về phe Jansénisme và cho phổ biến "những bức thư Provinciales", công kích lập trường thần học luân lý của các cha dòng Tên, chống lại lập trường luân lý theo kiểu "giải nố" (casuistique) và "cái nhiên" (probabilisme). Tại Port-Royale, ông trình bày các tư tưởng chủ đạo của mình trong cuốn "Đối Thoại với De Saci về Épictète và Montaigne" ("Entretiens avec M. de Saci sur Épictète et Montaigne"; De Saci là vị linh hướng của Pascal, thuộc tu viện Port-Royal, mà ông đã nói trong câu châm ngôn nói trên.) . Pascal qua đời vào ngày 19 tháng 8 năm 1662, khi chưa đầy 40 tuổi.
Tác phẩm chính yếu của ông là cuốn "Những Tư Tưởng" (Les Pensées), được thu gom từ những mảnh giấy ghi chú rời rạc của ông và được xuất bản sau khi ông qua đời. Trong tác phẩm này, người ta thấy nhiều câu ngắn, nhưng ý tưởng độc đáo và súc tích. Ông không hình thành một hệ thống triết học, và về phương diện này, M. Bréhier nói rằng Pascal không phải là một triết gia. Giống như Kierkegaard sau này, quả thực Pascal không muốn trở một triết gia. Tuy nhiên, tư tưởng của Pascal gieo rắc nhiều hạt giống suy tư, nhất là những nhận định tinh tế về thân phận con người. Nhiều người coi Pascal, cùng với Âu Tinh, là những người tiên phong của triết học hiện sinh.
2. Tư tưởng
Pascal là một thiên tài trong nhiều lãnh vực. Người ta nhận thấy nơi con người Pascal vừa có "tinh thần hình học" (l' esprit de géométrie) và "tinh thần tinh tế" (l' esprit de finesse), theo kiểu phân biệt của chính ông (Les Pensées, s. 21, Sđd, p.23) . Tinh thần hình học khiến cho ông giống với Descartes nói riêng cũng như các nhà triết học thời đại duy lý nói chung. Tuy nhiên, "tinh thần tinh tế", đặc biệt trong lãnh vực "cái tôi", lại làm cho ông cảm nhận được sâu sắc về thân phận con người, nhận ra những lo âu hay sự gian xảo trong con người; thấm thía cuộc sống khốn cực và những bế tắc căn bản của khả năng con người. Những nhận định tinh tế như thế làm cho tầm vóc của ông vượt qua thời đại để gợi hứng cho trào lưu triết học hiện đại.
2.1. Pascal, "Cartésien một nửa"
Sống trong bầu không khí của những phát minh khoa học, ngay từ thuở bé, Pascal đã hết lòng đam mê khoa học; ông đã thực hiện nhiều khám phá quan trọng về toán học, có những đóng góp quan trọng trong lãnh vực vật lý. Đó cũng là một nét chung của các triết gia trong thời kỳ này và là nét khiến Pascal gần với Descartes.
Pascal cũng gắn bó với lý tưởng "minh bạch và sáng sủa" như Descartes. Nhiều lúc ta thấy ông còn có một tinh thần khoa học triệt để hơn cả Descartes nữa, chẳng hạn trong vấn đề "chân không". Lúc sinh thời, Pascal và Descartes có gặp nhau ở Paris, vào ngày 23 và 24 tháng 9, năm 1647, và đã tranh luận về vấn đề "chân không". Hai ông đồng ý với nhau về trọng lượng của không khí. Descartes thì cho rằng thế giới ngập đầy những "chất liệu tinh tế" ("matière subtile".) và lập trường đó gợi hứng cho Pascal để làm cuộc thí nghiệm ngày 19-9-1648. Tuy nhiên, ngay trong vấn đề này, ta đã thấy một sự khác biệt căn bản của hai tác giả. Trong khi Descartes diễn dịch kết luận về trọng lực của không khí từ hệ thống suy tư tủa mình, thì Pascal đề cao thí nghiệm, ông quả quyết rằng "thí nghiệm là nguyên tắc độc nhất của vật lý học" (...) "thí nghiệm là vị tôn sư chân chính cần phải tuân theo trong phạm vi vật lý học". Tuy nhiên, Pascal lại không nêu ra được một nguyên tắc siêu hình nào để biện hộ hay hướng dẫn những cuộc thí nghiệm khoa học như Descartes.
Thật sự, Pascal chịu ảnh hưởng của Descartes rất nhiều, và người ta nói rằng không thể hiểu được Pascal nếu không có Descartes. Pascal cũng chủ trương có một sự tách biệt hoàn toàn giữa tư tưởng con người và thiên nhiên. Thiên nhiên của Pascal cũng bị gạt bỏ hết mọi ý nghĩa, mọi mục đích cố hữu và hoàn toàn có thể giải thích theo quan điểm cơ học : Một "cây sậy biết suy tư" có giá trị hơn tất cả vật chất mù quáng, dù chúng có đè nát con người; hình ảnh con người như thế thật đúng theo kiểu mẫu con người của Descartes. Pascal nói : "Bản năng và lý trí là hai bản tính khác nhau". Hơn nữa, khi nhìn thế giới thiên nhiên (vật chất và sinh vật) theo lập trường duy cơ, Pascal chống đối lý chứng về sự hiện hữu của Thiên Chúa dựa vào mục đích tính của thiên nhiên theo kiểu Thomas : "Các bông hoa và các con chim nhỏ không chứng minh Thiên Chúa".
Tuy nhiên, nếu như Pascal loại bỏ chủ trương nhất nguyên về con người (linh hồn là mô thể của thân xác); thì Pascal cũng loại bỏ luôn cả quan niệm nhị nguyên về con người của Descartes. Ông vượt qua cả hai quan niệm đó và phân biệt ba trật tự, mỗi trật tự tách biệt nhau bằng một hố thẳm không thể nào vượt qua được: trật tự của thân xác, trật tự của trí tuệ, và ở chóp đỉnh là trật tự của Đức Ái. Lý trí vượt quá thân xác, nhưng Đức Ái còn vượt quá lý trí.
Về phương pháp, trong khi Descartes cố gắng tìm một phương pháp duy nhất để suy diễn ra tất cả mọi hệ quả, một lập trường phản ảnh quan niệm về sự duy nhất của lý trí, thì kiểu suy tư của Pascal lại cho thấy ông dựa vào nhiều "nguyên lý" cho nhiều lãnh vực khác nhau; thái độ này đã cho thấy lý trí con người không phải là hình thức duy nhất. Nói theo kiểu Pascal, Descartes có "tinh thần hình học", tinh thần đó luôn tìm cách diễn dịch một cách khít khao từ một nguyên lý rõ ràng để đạt đến những kết quả chính xác; còn Pascal, với "tinh thần tinh tế", thì lại suy tư, có thể nói, theo nhiều nguyên lý không rõ ràng, dựa vào những cảm nhận tinh tế, uyển chuyển hơn là áp dụng cách nghiêm cẩn một nguyên lý cố định. Do đó, thay vì một chuỗi lý luận chặt chẽ như Descartes, khiến nhiều khi người ta như trót "leo lên cưng cọp", không thể nhúc nhích khỏi một con đường quá hẹp, thì lý luận của Pascal lại luôn bắt nguồn từ một cảm nhận về tính chất đối nghịch, mâu thuẫn, tạo nên cho vị thế con người một sự giằng co bi đát không thể hóa giải.
Từ đó, Pascal nhận ra rằng những ý niệm minh bạch và rõ ràng không thể giúp chúng ta thâm nhập được tới cốt lõi của cái "tôi". Toán học thì sáng sủa, rõ ràng, nhưng nó lại hoàn toàn không thể giúp chúng ta nhận thức được điều mà cuối cùng chúng ta cần biết, đó là lãnh vực của "cái tôi"; bởi vì cái "tôi" thì nằm ở giữa vô cùng và hư vô, giữa Thiên Chúa trong cõi vĩnh hằng và sự vật trong thời khắc vắn vỏi : "Con người là gì trong thiên nhiên ? là hư vô đối với vô tận và là tất cả đối với hư vô" (Les Pensées, s. 84; Sđd, p 50.) .
Như thế, Pascal cảm thấy phải "viết để chống lại những người đã đào sâu quá về các khoa học, Descartes" (Les Pensées, s. 193; Sđd, p. 98.) ; và thẳng thắn nói rằng : "Tôi không thể tha thứ cho Descartes : ông ta đã muốn, qua tất cả triết lý của mình, bỏ qua được Thiên Chúa; nhưng ông lại không thể bỏ việc bắt Ngài làm một cái búng tay để chuyển động thế giới; sau đó thì không còn việc gì với Ngài nữa" (Les Pensées, s. 194; Sđd, p. 98-99.) . Do đó, khi Descartes loại bỏ mục đích tính của thiên nhiên vì nghĩ đến tương lai của khoa học kỹ thuật, và muốn nhờ đó để làm cho con người trở thành những người chủ nhân của thiên nhiên; thì Pascal, cũng loại bỏ mục đích tính của thiên nhiên, nhưng lại rút ra những kết luận về sự cô đơn của con người : "Sự im lặng vĩnh cửu của những khoảng không vô tận làm cho tôi sợ hãi" (Les Pensées, s. 91; Sđd, p. 60.) . Trong một thế giới mà "trung tâm là mọi nơi và chu vi không là gì cả" (Les Pensées, s. 84; Sđd, p. 48.) , thì thân phận con người xuất hiện như một bí ẩn và như một thảm kịch.
2.2. Pascal, con người tôn giáo
Nếu như một "Pascal thời trẻ" có nhiều điều đồng cảm với thời đại, thì "Pascal thời chín chắn" lại trở về với tâm tình của truyền thống Châu Âu Kitô Giáo.
Nếu những ý niệm "minh bạch và rõ ràng" kiểu Descartes, rất ích dụng trong phạm vi khoa học, thì cũng lại bất lực trước cái vô cùng, điều mà chúng ta lại hết sức khát khao hiểu biết. Pascal không thể bằng lòng với một Thiên Chúa như là "cái búng tay" để chuyển động một vũ trụ máy móc, đó chỉ là "Thiên Chúa của các triết gia và của các nhà bác học". Một vị Thiên Chúa đích thực phải là "Thiên Chúa của Abraham, Isaac và Giacóp", nghĩa là Thiên Chúa của Mặc Khải Kitô giáo, một Thiên Chúa để cầu khẩn, một Thiên Chúa mà con người có thể thân thưa. Trong việc nhận thức Thiên Chúa, Pascal nhấn mạnh tới niềm Tin, nghĩa là tới ân huệ của chính Thiên Chúa, Ngài cho con người khám phá ra Ngài và chỉ có Ngài đảm bảo được ơn cứu độ.
Hình như đàng sau những kiến thức chắc chắn và lạc quan của tinh thần Descartes, con người thật của Pascal vẫn là con người đầy xao xuyến, giống như tâm hồn Kierkegaard sau này. Có lẽ chính vì thế, trong lãnh vực luân lý, ông phải tìm một điểm tựa vững chắc trong quan điểm "cứng" của phái Jansénisme. Ông coi thứ luân lý của Dòng Tên cũng như cách giải quyết các vấn đề luân lý kiểu casuistique và probabilisme là tháo thứ. Ông tin là có thể và bắt buộc phải thực hiện các qui luật luân lý với tất cả sự trong sáng của nó, cho mọi người và trong mọi hoàn cảnh.
Những lý chứng "hộ giáo" của Pascal có thể cũng hữu ích cho khoa hộ giáo của Giáo Hội; nhưng những người chống đối hệ thống tổ chức duy giáo sĩ (cléricalisme) cũng sẽ tìm thấy được nhiều luận chứng nơi những tác phẩm của ông, đặc biệt trong những "lettres provinciales".
3. Tư Tưởng Triết Học
Pascal không hình thành một hệ thống triết học, nhưng những tư tưởng rời rạc của ông lại hết sức phong phú. Người ta có thể nhặt ra một số điểm quan trọng như sau :
3.1. Lý thuyết về ba Trật Tự
Tư tưởng quan trọng và mang tính "siêu hình" của Pascal có thể được tìm thấy nơi câu 829 (Les Pensées, Sđd; p. 433-434.) trong cuốn "Những Tư Tưởng" như sau:
"Khoảng cách vô cùng giữa vật chất và tinh thần phản ảnh khoảng cách vô cùng hơn nữa giữa tinh thần và Đức Ái, vì Đức Ái thuộc lãnh vực siêu nhiên.(...)
"Tất cả mọi vật thể, bầu trời, các tinh tú, trái đất và mọi vương quốc của nó không đáng giá bằng một mảnh nhỏ của tinh thần, bởi vì tinh thần biết tất cả và biết mình, còn vật thể thì không."
"Tất cả mọi vật thể và tất cả mọi tinh thần, cùng những sản phẩm của nó lại không đáng giá bằng một hoạt động nhỏ nhất của Đức Ái. Đức Ái thuộc về một trật tự vô cùng cao cả hơn".
"Từ tất cả những vật thể, người ta không thể làm ra được một tư tưởng nhỏ : điều đó không thể được, và thuộc một trật tự khác. Từ tất cả những vật thể và tinh thần, người ta không thể rút ra một hoạt động của Đức Ái đích thực; điều này không thể được và thuộc một trật tự khác, trật tự siêu nhiên".
Ta có thể thấy ở đây một mầm mống "cách mạng", nếu như chúng ta đặt mình trong bầu khí của thời đại Pascal, thời đại mà người ta đang náo nức về những thành quả của khoa học và tưởng như khoa học sẽ giải quyết được hết mọi vấn đề. Hơn nữa, tuy Descartes đã làm nổi bật lên chủ thể tính của con người trong mối tương quan với thiên nhiên, nhưng nói chung, người ta vẫn có khuynh hướng coi thiên nhiên như một thể thống nhất, ngay cả Thiên Chúa cũng là một phần trong thiên nhiên (Như chúng ta thấy ở Spinoza, Giordano Bruno và các triết gia theo chủ thuyết "tự nhiên thần luận" ở thế kỷ XVIII.) . Trong bầu không khí đó, sự phân biệt ba trật tự của Pascal giống như một hàng rào ngăn cản lòng phấn khích đang dâng trào của thời đại. Một sự phân biệt rõ ràng ba bình diện như thế quả là một sự can đảm, xuất phát từ một cảm quan tinh tế có khả năng vượt quá những nguyên tắc của não trạng thời đại. Nhận định của Pascal có thể coi như một dự báo cho con đường hiện sinh theo ba cấp bậc của Jaspers sau này.
Trong cách thức nhận định của Pascal, chúng ta nhận thấy ông khởi sự trong những phạm trù của khoa học; chẳng hạn, để giải thích điều này, ông nói :
"Người ta không làm tăng thêm độ lớn của một trật tự nào đó bằng cách thêm vào, cho dù với số lượng nào người ta muốn, bằng những độ lớn của một trật tự bên dưới; như thế, các điểm không thêm gì cho đường thẳng, đường thẳng không thêm gì cho mặt phẳng, và mặt phẳng không thêm gì cho khối".
Nhưng rồi, từ những nhận định mang tính toán học như thế, Pascal đã vươn tới lãnh vực "siêu hình" để nhận ra ba loại thực tại, thuộc về ba trật tự hoàn toàn khác nhau. Khoảng cách giữa ba thực tại này không phải do mức độ, do đó không thể nào vượt qua bằng cách gia tăng số lượng, nhưng do bản chất. Pascal còn có phần nhấn mạnh hơi quá tới sự tách biệt đó. Ông nói :
"Các thiên tài đều có vương quốc của mình, hào quang của mình, sự cao cả của mình, chiến thắng của mình, sự sang trọng của mình và không cần gì đến những vẻ lớn lao của xác thịt; vẻ lớn lao này không có quan hệ gì ở đó; họ nhìn xem không bằng mắt nhưng bằng tinh thần, thế là đủ".
"Các thánh có vương quốc của các ngài, hào quang của các ngài, chiến thắng của các ngài. sự sang trọng của các ngài, và không cần đến vẻ lớn lao của xác thịt hay tinh thần; vẻ lớn lao này không có quan hệ gì ở đó, vì nó không thêm hay bớt được gì. Các ngài nhìn xem Thiên Chúa và các thiên thần chứ không phải các thân xác hay tinh thần tò mò ; Thiên Chúa là đủ cho các ngài” (Les Pensées, c. 829; Sđd; p. 433-434)
Như thế, Pascal cho thấy sự khác biệt của một nền luân lý tự nhiên với sự thánh thiện Kitô giáo; ông coi chủ nghĩa anh hùng của những người khắc kỷ là một thứ "kiêu căng của quỉ". Tuy nhiên, thái độ của Pascal cũng rất dễ dẫn đến thái độ quan niệm niềm tin theo chủ thuyết duy tín (fidéisme).
Sau hết, qua đoạn văn này, Pascal muốn nhấn mạnh tới sự cao cả của ơn cứu độ nơi Đức Giêsu : Ngài không chinh phục các vương quốc bằng gươm giáo, cũng không bằng một phát minh khoa học nhỏ nào, nhưng ngài đến với ánh sáng thuộc trật tự của Ngài, trật tự của sự thánh thiện.