Bài 1: THỜI PHỤC HƯNG.
Thư Mục riêng
1. Roger Verneaux, Histoire de la philosophie moderne, cours de philosophie thomiste, Beauchesne et ses Fils, édition revue et corrigée,1963.
2. Frédéric Copleston, Hist. de la Philosophie, t. III. La Renaissance.
3. Jean Thoraval..., Les Grandes Étapes de la Civilisation francaise, Bordas, Paris 1957.
4. V.P. Vôn-Ghin, Lược Khảo Lịch Sử Tư Tưởng Xã Hội Chủ nghĩa, Sự Thật 1979, trang 215-255.
5. Artuso Uslar Pietri, bài báo "Một thế giới mới và một kỷ nguyên mới trong lịch sử thế giới", Thông Tin Unesco, 03-1988.
6. Friedrich Wilhelm Graf, "Đạo Kitô, Giữa cái Tuyệt Đối và cái Tương Đối", Người Đưa tin Unesco, 03-1990.
7. Luis Filipe Barreto, "Bình Minh một kỷ nguyên mới", Thông Tin Unesco, 04-1989.
* Một số bài báo khác trong Người Đưa Tin Unesco.
1. Thời Kỳ
Từ ngữ Phục Hưng (La Renaissance), xuất hiện từ cuối thế kỷ XVII, được dùng để chỉ trào lưu tư tưởng và nghệ thuật tại Tây Âu vào thế kỷ XV và XVI, do khuynh hướng tìm về kiểu cách của văn hóa La Tinh và Hy Lạp. Lối nhìn này không chỉ nhằm xác định một thời kỳ mới nhưng còn bao hàm một sự khinh khi đối với giai đoạn đi trước. Trong hướng nhìn lịch sử, việc bỏ qua đóng góp của thời Trung Cổ quả có tính cách bất công. Tuy nhiên, thời Phục Hưng cũng thật sự tạo được một bầu khí mới, bộc lộ trong nhiều lãnh vực khác nhau. Vì thế, người ta có thể đặt một cột phân ranh cho một giai đoạn mới này so với thời Trung Cổ. Mặt khác, tuy người ta thường khởi đầu triết học cận đại với Descartes (1596-1650), nhưng có học giả cho rằng Triết Học Cận Đại (La Philosophie moderne) phải được kể là bắt đầu từ thời Phục Hưng. Thực sự, cho dù Descartes đã đưa triết học vào một nẻo đường hoàn toàn mới so với triết học Trung Cổ, thì chính Descartes cũng đã chịu ảnh hưởng của bầu không khí mới thời Phục Hưng.
Xét về mặt liên hệ tư tưởng, người ta khó có thể có một sự phân chia rõ ràng. Thời đại này đan chéo lên thời đại kia. Rất nhiều "cái mới" của thời Phục Hưng đã được ươm mầm trong các học thuyết của thế kỷ XIII rồi. Có thể nói được rằng tinh thần của thời đại này đã bắt đầu với Roger Bacon (+1294), biểu hiện qua Dante (1265-1321), Pétraque (1304-1374), rồi Léonard de Vinci (1452-1519).
Tinh thần của thời Phục Hưng, trước hết, diễn ra trong lãnh vực văn học nghệ thuật tại Ý. Vị trí địa dư và truyền thống lịch sử của nước Ý giúp họ luôn có mối liên hệ với thời Cổ Đại của văn hóa La-Hy. Các học giả và nghệ sĩ quay về thời cổ, nhằm làm sống lại những thế hệ đã qua. Tác phẩm của các nhà văn thượng cổ được sao chép và phố biến sâu rộng trong quảng đại quần chúng. Cuộc Phục Hưng Ý bộc lộ trong lãnh vực văn chương nghệ thuật, nhưng chủ yếu nhằm tới một sự đào tạo con người toàn diện về phương diện nhân bản, phương tiện chính yếu là nền văn chương cổ thời. Tiếp đến, tinh thần Phục Hưng tràn qua phía bắc Châu Âu, với những nỗ lực cải cách về phương diện luân lý, xã hội và tôn giáo, tạo nên những thay đổi quan trọng nhiều lãnh vực như tôn giáo, khoa học và triết học...
Tuy nhiên, các sử gia thường xác định thời Trung Cổ âu châu chấm dứt vào khoảng năm 1453, năm quân đội Thổ Nhĩ Kỳ chiếm thành Constantinople. Biến cố này có tác dụng làm cho các nhà trí thức bên Đông, cùng với các bản văn cổ điển vốn ngủ yên tại Constantinople được tung ra khắp nơi và tạo lên một sự dao động tư tưởng trong thế giới Tây Phương. Khoảng giữa thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XVI, Âu Châu bước sang một giai đoạn lịch sử mới, giai đoạn Phục Hưng.
2. Bầu Khí Phục Hưng
Cùng với biến cố 1453, người ta còn ghi nhận một loạt các sự kiện khác . Những sự kiện đó, thuộc nhiều lãnh vực khác nhau, làm cho giai đoạn này không còn là một diễn tiến đều đặn của lịch sử, nhưng tạo nên một bầu khí mới, "bầu khí Phục Hưng", bầu khí mà ta có thể gọi được là một sự bừng tỉnh về hình ảnh con người. Bầu khí đó được thể hiện trong hầu hết các lãnh vực của nền văn hóa Âu Châu, xin kể ra một vài nét.
2.1. Lãnh vực tôn giáo
a. Phong trào Cải Cách làm cho khối công giáo rạn nứt. Với chủ trương "tự do thể nghiệm" (hay tự do xét lại/libre examen), Luther đề cao cá nhân chủ nghĩa và tách rời hành vi đức tin với lý trí. Đây là một đường hướng thần học đối lập với truyền thống và tầm mức của nó vượt quá lãnh vực thần học :
- Việc từ chối tất cả mọi quyền bính trong vấn đề Đức Tin và luân lý dẫn tới một thứ cá nhân chủ nghĩa, và từ đó cũng manh nha một thứ duy chủ thể (subjectivisme).
- Khi chối bỏ vai trò trung gian của Giáo Hội, xác định mỗi người đều là "linh mục" và được liên kết trực tiếp với Thiên Chúa, phái Cải Cách đã nối lại truyền thống thần bí, theo đường hướng của Augustin.
- Trong lãnh vực trí thức, Đức Tin thiết yếu là một sự tín thác, nghĩa là một sự gắn bó tình cảm và ý nuốn với Thiên Chúa. Điều này không chỉ khác lạ nhưng còn được diễn tả như đối lập với lý trí.
- Đời ¬sống Đức Tin không chỉ qui chiếu vào những khuôn khổ sẵn có của các tín điều và giáo huấn Giáo Hội, điều này cũng tạo nên sự lưu tâm tới các giá trị của cuộc sống trần tục hơn.
b. Thêm vào đó, trào lưu nhân bản lại đặc biệt phản đối tinh thần Kinh Viện. Erasme, chẳng hạn, coi kinh viện như là một thứ vô đạo, vô luân, vì sự tôn trọng quá đáng đối với Aristote; vì sử dụng sứ điệp kitô giáo như một đối tượng theo cách thức của các khoa học đời; vì không còn có sự liên hệ cá vị với Đức Kitô trong một niềm tin đơn giản và tinh tuyền, thay vào đó là sự đề cao những hệ thống tư tưởng, những ý niệm trừu tượng. Tư tưởng nhân bản trách cứ triết học Kinh Viện là lạnh lùng và khô khan, nghèo nàn, vô bổ và còn có hại cho đời sống kitô hữu cách. Kinh Viện là vô đạo vì kiêu ngạo và tò mò; vì tưởng lý trí có thể giải quyết các mầu nhiệm thay vì phải để lý trí tùy thuộc và tôn kính các mầu nhiệm .
Chúng ta có thể hiểu được những trào lưu mới này khi nhìn vào lịch sử Giáo Hội vào cuối thời Trung Cổ. Khi đó Giáo Hội Công Giáo rơi vào một tình trạng khủng hoảng, đời sống tôn giáo xuống dốc, những lối suy nghĩ triết học, thần học đã trở thành sáo mòn và vô bổ. Không cần nói những lý do chính trị như sự xuất hiện các quốc gia khẳng định quyền của mình, ngay chính cơ chế Giáo Hội đã tự phá vỡ sự duy nhất của xã hội Kitô giáo (chrétienté) rồi. Cuộc lột xác tất phải xẩy ra khi mà lớp vỏ đã trở nên chật chội, không còn đủ chỗ cho sự lớn mạnh của một sức sống đang trong thời kỳ "trổ mã".
Tuy nhiên, chúng ta cũng nhận thấy, trong giới Công Giáo, có một loạt các nỗ lực đi sâu vào đời sống tâm linh và một số đông các thánh trong giai đoạn này : Têrêsa d' Avila, Gioan Thánh Giá, Ignatio,... Có phải chăng, một đàng, với những phát minh, những thành tựu, những phiêu lưu trong nhiều lãnh vực, người ta phấn chấn và tưởng rằng con người có thể tự bảo đảm cho cuộc sống của mình, tưởng như con người đang lên ngôi chủ tể trong một vương quốc mới; thì mặt khác, với những tâm hồn nhậy bén, các vị thánh lại cảm thấy trước một thứ khủng hoảng nội tâm của xã hội con người. Trên bước đường phiêu lưu rộng mở, tâm thức con người dễ cảm thấy bất an và phải tìm ra một nền tảng vững bền trong đời sống tâm linh ? Đàng khác, có lẽ những phê bình tôn giáo lại có thể đưa tới những kiểm thảo tích cực, làm cho cái nhìn về đạo được trong sáng hơn cũng như thúc đẩy những nỗ lực đi vào trong đời sống tâm linh nhiều hơn.
2.2 Lãnh vực khoa học
Trong lãnh vực khoa học, thời Phục Hưng được khích động do một loạt những khám phá, những tiến bộ khoa học làm nức lòng người. Chúng ta có thể kể một số sự việc như sau :
* Gilbert (1514-1603) với những nghiên cứu về nam châm và điện,
* Versalius (1514-1564) nghiên cứu về giải phẫu học,
* Harvey (1578-1657) nghiên cứu về sự tuần hoàn của máu,
* Khám phá máy hơi nước,
* Phát minh đồng hồ chạy bằng giây cót,
Đặc biệt có các sự kiện tạo nên nhiều ảnh hưởng nhất:
a/ Thiên văn : một quan niệm cách mạng về vũ trụ đã được phôi thai từ thế kỷ trước, được xác định dứt khoát, mở đầu một kỷ nguyên mới cho khoa thiên văn học tân thời, với ba tên tuổi: Copernic (1473-1543) Kepler (1572-1630) và Galilée (1564-1642). Nhờ phối hợp công việc quan sát và toán học, các học giả ấy đã đánh đổ quan niệm thiên văn của Ptolémé (+168). Biến cố này thường được kể như một trong 3 sự kiện làm đảo lộn vị trí của con người (cùng với thuyết Tiến Hóa và việc khám phá vô thức).
b/ Guttenberg cải tiến kỹ thuật ấn loát (1457); cùng lúc đó, giấy từ Ai Cập được chuyển đến với giá rẻ. Nhờ đó tác phẩm của các nhà văn thượng cổ được sao lại và phố biến sâu rộng, ảnh hưởng trên tâm thức quần chúng rất nhiều.
c/ Christophe Colombe đến Châu Mỹ (năm 1492), mở đầu cho một cuộc tiếp xúc sâu rộng giữa Châu Âu với các thế giới khác. Biến cố này, cùng với những giao tiếp càng ngày càng nhiều với Châu Á, làm cho người ta thấy rằng Châu Âu và văn hóa Châu Âu không phải là độc nhất. Từ đó, cái nhìn về thế giới thay đổi hoàn toàn, gây nên nhiều ảnh hưởng quan trọng trong mọi lãnh vực:
* Kinh tế tài chánh : vàng bạc, của cải, những sản phẩm lạ của Châu Mỹ tràn về, hàng hóa tràn ngập, các cơ cấu kinh tế trước đây trở nên chật hẹp; tinh thần đề cao đời sống khắc khổ bị lung lay.
* Tôn giáo: công cuộc truyền giáo trở nên rầm rộ; và dĩ nhiên, cũng gồm chứa nhiều lệnh lạc khi người ta gắn liền nó với những cuộc xâm chiếm có tính cách thực dân. Những cuộc xâm lăng có tính cách bất công của người Châu Âu đối với thổ dân, cùng với việc "nhập cảng" người Phi Châu để làm nô lệ, những điều đó làm cho cái nhìn về quyền con người được đặt ra. Trong đó, phải kể tới những cuộc đấu tranh cho quyền con người rất đặc biệt như Las Casas ....
* Sự tiếp xúc với cách sống của nhiều dân tộc làm cho Châu Âu ý thức hơn về một thế giới khác hẳn với mình; một số người muốn nhìn lại đường lối của các xã hội Âu Châu, chẳng hạn Thomas More với cuốn Không Tưởng, Campanella với cuốn Thành Phố Mặt Trời, trong đó tác giả đề ra những nguyên tắc của một xã hội cộng sản.
Những phát minh và khám phá đó lay động toàn thể xã hội Châu Âu. Nói chung, tâm thức con người hết sức lạc quan, biên giới của sự hiểu biết được mở rộng, con người cảm tưởng mình thực sự làm chủ vũ trụ thiên nhiên, làm chủ không gian, làm chủ biển cả, làm chủ thời gian và làm chủ cả các định luật trong thiên nhiên.
2.3. Lãnh vực triết học
Vào thế kỷ XIII, tư tưởng của Albert le Grand và thánh Thomas đã làm một cuộc đổi mới táo bạo; nhưng xét về mặt hiện tượng, các Ngài vẫn không tạo nên một sự cắt đứt với quá khứ. Tư tưởng Aristote chỉ thay thế tư tưởng Platon trong việc tìm một nền tảng tư tưởng cho toàn bộ cái nhìn về vũ trụ và xã hội, cả hai nền tảng đó vẫn luôn cắm rễ sâu trong Đức Tin Kitô Giáo. Ngược lại, những suy tư của thời Phục Hưng biểu lộ một sự dứt khoát với quá khứ, khao khát sáng tạo những cái mới, dựa trên một nền tảng mới : khoa học về thiên nhiên. Hơn nữa, các nhà tư tưởng của thời đại mới này không bận tâm nhiều tới việc bảo vệ sự duy nhất đề giải thích tất cả mọi vấn đề; và họ cũng không suy tư một cách "lạnh lùng", "khách quan" như thánh Thomas, nhưng muốn khẳng định nhân cách độc đáo của mình với những suy tư mang tính cách "cá tính" hơn.
Say mê với nền văn hóa cổ đại của Hy Lạp và Roma, tinh thần nhân bản của thời Phục Hưng cũng tìm về các triết thuyết cổ thời. Người ta ghi nhận những cuộc phục hưng các triết thuyết như sau ( Xc thêm : Thonnard, Sđd, trang 442-443.) :
a/ Phục hưng học thuyết Platon, hay đúng hơn Tân-Platon, ở Ý, trung tâm là trường Hàn Lâm Platon ở Florence. Nhân vật tiếng tăm nhất là Georges Gemistus Plethon (+ 1464) ( Thonnard lại ghi là : G. Gémistos Pléthon, người Byzantin, + 1450.) ; rồi Marcile Ficin (1433-1499), người đã dịch các bản văn của Platon và Plotin từ Hy Lạp sang La tinh, và đã tóm tắt học thuyết của các triết gia đó; Pic de la Mirandole (1463-1494), một tu sĩ Đa Minh, người đã giải thích Sách Sáng Thế theo nghĩa ẩn dụ (allégorique) và bị kết án. Các triết gia này không phải đều chống lại Kinh Viện, họ chỉ mong tái lập lại một thế giới Platon, với ước vọng mang lại sự thay đổi đời sống tâm linh, luân lý, văn hóa, và ít để ý tới trọng tâm học thuyết Ý Tưởng của Platon. Marsile Ficin, chẳng hạn, mong muốn lôi kéo những người vô thần và hoài nghi trở về với Chúa Kitô. Trong bài bình luận cuốn Phèdre ông nói tình yêu mà Platon nói tới đồng nhất với tình yêu theo thánh Phaolô, đó là tình yêu cái Đẹp Tuyệt Đối, là chính Thiên Chúa.
Trào lưu này còn được tiếp nối sang thế kỷ XVII với nhiều nhân vật nổi tiếng như : Telesio (1509-1588), người theo học thuyết duy hồn vũ trụ (animisme universelle); Giordano Bruno (1548-1600), người bị Tòa Thánh cầm giữ 8 năm trong tù và bị kết án hỏa thiêu như một người rối đạo. Chống đối Aristote, Bruno là một triết gia và một nhà thần bí theo khuynh hướng Tân-Platon đến mức trở thành chủ nghĩa phiếm thần : theo ông, tất cả ba Ngôi Vị (hypotases) của Thiên Chúa, gồm Trí Năng, Linh Hồn của thế giới và Vật Chất chỉ là một, đó là sự sống, đồng thời vừa duy nhất và đa dạng của vũ trụ, đó là "một sinh thể thánh thiện, được thánh hoá và đáng được tôn kính" ( "L'animal saint, sacré et vénérable"; Xc. Thonnard, Sđd, trang 442, trích lại của Bréhier...)
Campanella (1568-1639), trong tác phẩm "De sensu rerum et magia" đã chủ trương một thứ duy hồn phiếm thần (animisme panthéisme) giống như Bruno.
J. Bohme (hay J. Boehme) gây ảnh hưởng sâu xa trong giới học giả người Đức thời ấy. Ông tự cho mình là người được linh hứng, nên không có một nền tảng lý thuyết nào của riêng mình; tất cả là do nhận lãnh từ Thiên Quốc. Chính ông cũng không hiểu mình, chỉ có Thánh Linh nói điều của Ngài. Con người phải bỏ mình hoàn toàn, thụ động hoàn toàn. Khi đó, họ nhận thấy Thiên Chúa và mọi sự khác trong chính ý thức của mình. Tâm hồn chúng ta có những cánh cửa của vực thẳm thịnh nộ, và có những căn phòng của sự chết. Đồng thời tâm hồn con người cũng có những căn phòng của tình yêu thương Thiên Chúa mà chính Ngài sẽ cho ta chìa khóa để bước vào. Chỉ có ánh sáng nội tâm của Thiên Chúa mới có thể mang lại ý nghĩa cho chân lý trọn vẹn.
Nicolas de Cues, hồng y và làm đặc sứ Tòa thánh nhiều lần, tham dự Công đồng Bâle tại Thụy sĩ (1432-1439). Nicolas de Cues, trước hết, là con người của sự hiệp nhất Giáo Hội; ý tưởng về một Giáo Hội duy nhất, phổ quát, một thứ Công Giáo toàn diện luôn ám ảnh ngài. Trong lãnh vực triết học, ngài chủ trương chúng ta nhận thức sự vật bằng một kiến thức phỏng chừng, gọi là ức kiến (conjecture). Trong nhận thức Thiên Chúa, chúng ta chỉ có thể đến với Ngài bằng một thứ "dốt nát thông thái" (docta ignorantia). Dốt nát, vì kiến thức chỉ là ức kiến mà thôi; nhưng thông thái, vì con người biết và biết tại sao mình dốt, và nhất là vì con người có thể đạt tới đối tượng là Thiên Chúa.
Tất cả những khuynh hướng này mang ý nghĩa một sự phục hưng tư tưởng thần bí theo nghĩa rộng, hoặc một thứ thông thiên học (théosophie). Điều này, tuy không bao giờ thiếu trong dòng lịch sử Kitô giáo, nhưng trong giai đoạn "suy lý" của Kinh viện, nó chỉ như một giòng chảy ngầm và không có vị trí đúng mức của nó.
b/ Với học thuyết Aristote, trước hết, người ta thấy có nhiều chống đối hệ thống Aristote-Kinh Viện. Lorenzo della Valle coi luận lý của Aristote là tối tăm, giả tạo, trừu tượng và không có khả nămg diễn tả những kiến thức cụ thể. Rất nhiều từ ngữ luận lý của Aristote không diễn tả được nét đặc trưng cụ thể của sự vật. Cảm hứng từ Épicure và Khắc Kỷ, ông thấy các nhà hùng biện này bàn tới các vấn đề một cách sáng sủa, sâu sắc và sang trọng hơn nhiều. Ông chủ trương cần phải thay luận lý bẳng khoa hùng biện. Hùng biện, theo ông, không phải chỉ là nghệ thuật diễn tả các ý tưởng, càng không phải là nghệ thuật thuyết phục người khác bằng ngôn từ, nhưng là cách thức, nhờ ngôn từ, thấm nhập vào thực tại cụ thể của sự vật.
Rồi Rudolf Agricola (1443-1485); Louis Vivès (1452-1540), ông này nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc nhận xét trực tiếp các hiện tượng; Marius Nizolius (1488-1566) thì coi hùng biện là khoa học về "ý nghĩa", độc lập với các khoa siêu hình, hữu thể học; và khoa học đó giúp ta hiểu được các sự vật cùng một loại; không phải là trừu-xuất để hiểu yếu tính siêu hình của sự vật, nhưng là diễn tả kinh nghiệm trong một từ ngữ tổng quát bao gồm những cá thể cùng loại; Petrus Ramus (1515-1572) thì hình thành một thứ "luận lý tự nhiên", đi từ việc "khám phá" ra những quan điểm nào có thể giúp tâm trí giải quyết vấn đề, rồi đến "phán đoán" là cách thức áp dụng những quan điểm đó.
Các nhân vật này dựa vào lối hành văn của Cicéron để phê phán luận lý hình thức của Aristote. Tuy nhiên, hậu trường của những chống đối này vẫn là lấy tinh thần nhân bản, tức là ý thức phát triển nhân cách cá nhân của con người, để chống lại tinh thần Kinh Viện.
Nói chung, đối với học thuyết Aristote, hầu hết khuynh hướng này đều chống đối kịch liệt Kinh Viện, ta có thể tạm chia thành hai khuynh hướng :
- khuynh hướng theo Averroès, chủ trương chỉ có một lý trí chung của tất cả mọi người là bất tử thôi;
- Khuynh hướng theo Alexandre d' Aphrodise thì chối lý trí bất tử nơi con người.
Hai khuynh hường này đều chối sự bất tử của cá nhân con người, nên lại chống với phe theo Platon. Ngoài ra, còn một số học giả khác (như Pomponazzi) bàn luận những vấn đề như sự kết hợp hồn xác nơi con người thế nào, mục đích của đời sống con người ra sao... Mélanchton, một nhà nhân bản, đồ đệ và là người cộng tác với Luther, cũng chủ trương một thứ học thuyết Aristote, nhưng có vị thế riêng. Học thuyết của ông ảnh hưởng trong các đại học theo Luther. Ông cũng chủ trương khác với Aristote ở chỗ có những ý niệm bẩm sinh, đó là những nguyên lý, nhất là những nguyên lý luân lý và ý tưởng về Thiên Chúa.
Nói chung các khuynh hướng quanh Aristote, trừ Mélanchton, mang lại một quan niệm có tính cách tự nhiên thuyết.
c/ Phục hưng chủ nghĩa Khắc Kỷ với Juste Lipse (1547-1606) ở Louvain và Guillaume de Vair (1556-1621) ở Paris.
d/ Phục hưng chủ nghĩa hoài nghi với Montaigne (1563-1592).
Đồng thời, người ta cũng thấy một số đột phá vào những đường hướng triết học mới như :
e/ Môn chính trị triết học được Machiavel (1467-1527) khởi xướng, chủ trương các quốc vương có một quyền chuyên chế.
g/ Hugo Grotius (Hòa Lan) phổ biến môn luật pháp triết học (philosophie du droit); ở đây, lần đầu tiên người ta thấy quan niệm về chủ quyền nhân dân (souveraineté du peuple) và về xã ước (contrat social).
3. Triết Học thời Phục Hưng
3.1. Chối Từ Quá Khứ
Như thế, vào thời kỳ gọi là Phục Hưng, người ta thấy rõ ràng có một sự biến đổi thực sự, với một loạt các khuynh hướng, những hoạt động thuộc một trật tự mới, chứ không phải chỉ là canh tân một số đường nét. Tất cả những điều đó cho chúng ta thấy một bầu không khí mới, trong đó, tôn giáo, nhất là một thứ tôn giáo mang tính cách "suy lý", không còn bao trùm, bao cấp cuộc sống con người được nữa. Nét chung của hầu hết các khuynh hướng trong thời này là thái độ phản kháng lại sự thống trị tinh thần của các giá trị tôn giáo, chống lại Kinh Viện và Giáo Hội, nếu không muốn nói là chống lại Kitô giáo và mọi hình thức tôn giáo. Con người như bước ra khỏi "quyền giám hộ" của tôn giáo để bước vào vũ trụ bằng đôi chân, tài năng và lòng kiêu hãnh của mình.
Trước sự cáo chung của truyền thống Kinh Viện, ngôi nhà Châu Âu như được mở tung cửa, ánh sáng rọi vào khắp nơi, sự gì dưới ánh sáng mặt trời cũng trở nên khác. Một số người chói mắt kêu gọi đóng cửa lại, nhưng làm sao những tiếng kêu đó có thể át được một nỗi tò mò lớn lao của con người đã một lần được nhìn thấy cuộc đời dưới một góc độ khác.
a/ Người ta thường kể tới nguyên do chính tạo nên thời kỳ Phục Hưng này, về phương diện triết học, là sự thiếu vắng tư tưởng siêu hình trong thời Kinh Viện suy tàn. Kinh Viện đã lên tới tột đỉnh của nó, và không có một thời đại hoàng kim nào mà không phải trả giá, trả giá trước để hình thành, và trả giá sau để chịu nhận những hậu quả. Học thuyết thánh Thomas, như là cao điểm của Kinh viện, lại trở nên như trái núi không vượt qua được. Những môn đệ "trung thành" thì chỉ còn việc nhắc đi nhắc lại. Những người mang tâm trạng chống đối thì làm sao có đủ sáng suốt để nhận ra những điểm quan trọng, hơn là tìm tòi những khác biệt "lẻ tẻ". Thời đó, các giáo sư đại học tranh cãi nhau không phải vì một thao thức siêu hình, với những lý chứng tư tưởng căn bản mà chỉ là những khẳng định học phái của mình mà thôi. Dấu hiệu của một sự yếu kém tinh thần được bộc lộ trước tiên trong chính mức độ tư tưởng, chứ không phải ở đâu khác.
b/ Các nhà viết lịch sử triết học cũng cho rằng, trong thời kỳ này, Kinh Viện đã hiểu lầm về các khoa học tân thời. Những phát kiến khoa học mới có vẻ như không có gì chung với những đề tài truyền thống. Sự ham thích tìm tòi vũ trụ vật chất của các nhà thông thái, cùng với những phương tiện quan sát, tạo nên những thành công rõ rệt; điều này khiến các nhà kinh viện lo lắng, và thay vì củng cố nền tảng siêu hình làm điểm tựa cho các khoa học mới, họ lại muốn bảo vệ kiểu "vơ đũa cả nắm" đối với gia sản của cha ông, rồi loại trừ kiểu "vơ đũa cả nắm" đối với trào lưu mới.
3.2. Lạc Quan về khả năng con người
Đối lập với một thời kỳ dài, trong đó tư tưởng tôn giáo làm bá chủ tất cả, thời kỳ Phục Hưng mang nét đặc trưng là tinh thần "Nhân Bản". Đây không phải chỉ là một trào lưu trí thức nhưng là cả một "kiểu sống", một tâm thức, một thứ "gu" của thời đại, bao gồm nhiều lãnh vực. Nói cách khác, đây là thái độ phản kháng tâm thức "tôn giáo" vốn quá nhấn mạnh đến "vũng lầy nước mắt"; để đặt mối quan tâm vào con người. Con người của thời kỳ này là con người tự nhiên, có những nét đẹp của mình, có quyền ăn, quyền sống, quyền vui hưởng thế giới. Môt số nhà văn Phục Hưng còn phản kháng lại thái độ khắc kỷ của Thời Trung Cổ bằng cách đề cao những thú vui xác thịt; con người có những khát vọng chính đáng và có khả năng to lớn để chinh phục thiên nhiên kỳ diệu.
Với những trào lưu phong phú trong nhiều lãnh vực của thời Phục Hưng, chúng ta có thể cảm nhận thấy một bầu không khí náo nức về khả năng của con người. Francois Bacon (1561-1626) nói : "...Sự kiện những chiếc tầu nhỏ như những thiên thể được dong buồn quanh khắp địa cầu, chính là niềm hạnh phúc của thời đại chúng ta. Bây giờ chính là lúc ta sử dụng từ ngữ "Plus ultra", nơi mà những người xưa dùng từ ngữ "non plus ultra" (một câu gắn ở cửa biển Gilbrata, Địa Trung Hải).
Hay như Shakespeare (1564-1616) nói :
"Kỳ diệu thay là con người !
"Con người cao quý làm sao về lý trí, vô tận làm sao về năng khiếu. Về hình dung và dáng vóc, nó đẹp tựa thiên thần; về trí tuệ, nó có thể sánh tài Thượng Đế ! Thật là vẻ đẹp của thế gian, kiểu mẫu của muôn loài !” ( Ham-lét, Hồi II, cảnh 2; Trích lại trong Lương Duy Trung và các đồng tác giả, Văn Học Tây Phương, Tập I, Giáo Dục 1990 trang ...)
3.3 Con Người Làm Chủ Thiên Nhiên
Thời Trung Cổ, người ta đã thực hiện được một bước tiến về quyền làm chủ của con người trên thiên nhiên, so với thời kỳ triết học Hy lạp. Con người trong tinh thần Do Thái-Kitô giáo không còn coi thiên nhiên như thần thánh nữa. Nhưng khởi từ tinh thần của Francis Bacon, những phát minh khoa học đã làm cho con người ý thức vị thế cao cả này của con người nhiều hơn. Thiên nhiên trong thời Trung Cổ là một thiên nhiên được xác định, với những hiểu biết, phân chia sắp xếp bằng những kiến thức trừu tượng và giản lược; thiên nhiên đó cũng được chìm ngập trong ánh sáng Mặc Khải mà con người chỉ có việc đón nhận một cách khiêm tốn. Trái lại, thiên nhiên của thời Phục Hưng là một thế giới bao la còn nhiều điều bí ẩn mà con người chưa hiểu biết được, còn nhiều điều tươi đẹp mà con người khao khát chiêm ngắm, còn nhiều thách đố mà con người phải vượt qua.
Quan niệm của thời Phục Hưng cho rằng con người cũng là một thành phần của thiên nhiên, là một "tiểu vũ trụ" (microcosme), giữ vai trò trung gian giữa Thiên Chúa "đại vũ trụ" (macrocosme); con người là phản ảnh của vũ trụ; tìm hiểu con người cũng là tìm hiểu vũ trụ, và ngược lại. Như thế, thiên nhiên, trong chính cơ cấu của nó, mang tính cách duy nhất, khác với thái độ đối lập có mầu sắc nhị nguyên giữa thần thiêng và thế tục trong thời Trung Cổ.
Các thành phần trong thiên nhiên liên kết mật thiết với nhau, theo một hòa điệu tuyệt vời. Thiên nhiên là tươi đẹp. Trong thời kỳ này, các nhà tư tưởng, thường cũng là những nhà thơ hoặc diễn tả vũ trụ với các hình ảnh mang tính cách thẩm mỹ. G.Bruno cảm thấy niềm vui của trí tưởng tượng cũng ngang bằng như niềm vui hiểu biết; trong hình ảnh Kepler, người ta thấy bóng dáng của một nghệ sĩ...Thật là vẻ đẹp của thế gian, kiểu mẫu của muôn loài !" .
Thiên nhiên đó còn như một lời kêu mời mà con người, không phải chỉ đứng ngoài để giải thích như trước đây nữa, nhưng cảm thấy thúc bách phải lao vào nghiên cứu, mở rộng sự hiểu biết; gia tăng quyền lực và thống trị thiên nhiên. Người ta không còn thỏa mãn với những định nghĩa về vũ trụ, nhưng muốn làm chủ thiên nhiên; người ta không còn chỉ chờ đợi nơi thiên nhiên, nhưng muốn điều khiển thiên nhiên để sử dụng cho lợi ích con người. Cả ảnh hưởng của Christophe Colomb, cũng như ý tưởng vũ trụ vô tận của Giordano Bruno đều là gia tăng lòng khát khao đi vào thế giới thiên nhiên của con người. Vũ trụ vô tận của thời kỳ này mời gọi lòng khao khát khám phá thiên nhiên, bộc lộ bản chất của con người vốn khao khát tuyệt đối và đưa ta đến gần với Thiên Chúa.
Kết
1/ Nhìn chung, trong bầu không khí phấn khởi của thời đại triết học Phục Hưng, có nhiều khuynh hướng "mới lạ", nhưng có vẻ hỗn độn. Trong thời kỳ này có quá nhiều học thuyết khác biệt hoặc chống đối nhau. Đó cũng là một điều dễ hiểu. Bầu không khí đó như một vụ nổ, bùng lên rồi lắng dịu dần để chờ đợi sự xuất hiện của một "nhân vật chính". Đầu thế kỷ XVII, triết học Tây Phương như được dọn đường, có người gọi là một sự phá sản (banqueroute) ( Xc. Thonnard,Sđd, trang 444.) , tạo nên một khoảng trống để tư tưởng của Francois Bacon và Descartes dễ dàng đặt nền cho một thời đại mới nữa : Thời Cận Đại.
2/ Thử nhìn lại tất cả những sự kiện đó, ta thấy sự náo nức này là "hợp lý", và cũng dễ hiểu cho những bước đi quá khích. Nhưng điều quan trọng hơn là phải biết khám phá tại sao lại có hiện tượng "mở cửa" như thế và rồi những náo nức của thời mở cửa đó sẽ đi đến đâu; nghĩa là cần đặt giai đoạn này vào trong dòng lịch sử của tiến trình hình thành toàn bộ tư tưởng Tây Phương .
Tinh thần lạc quan của thời đại này là một yếu tố mở bung các tài năng còn tiềm tàng trong con người, nhưng nó cũng mang dấu vết của một thời "thành niên" trong tâm thức con người. Tiến trình này khởi đầu từ thời kỳ Phục Hưng kéo mãi đến cuối thế kỷ XIX, khi mà những chiếc bong bóng muôn mầu của tuổi mới lớn, những chiếc bong bóng của tinh thần lạc quan duy khoa học, duy lý sẽ phải bị vỡ trước "gai góc" trên đường đời. Điều này cũng cho thấy rằng sự thành công của thời Trung Cổ trong việc tiếp nhận những ảnh hưởng "ngoại giáo" để biến thành công cụ giải thích Đức Tin, thành công đó đã không được tái lập ở đây.
3/ Tuy nhiên, nếu đặt thời đại này vào trong toàn bộ lịch sử của tiến trình "Lịch Sử Cứu độ đang trở nên trọn vẹn", ta có thể thấy sự xuất hiện của thời Phục Hưng có một ý nghĩa đặc biệt; nó đánh dấu một bước tiến triển mới trong trào lưu "tục hóa" hiểu theo nghĩa rộng nhất và có thể là căn bản nhất. Theo hướng chọn lựa làm việc đã nói trên, chúng ta có thể nhìn lại, trong toàn bộ lịch sử văn minh Tây Phương, một tiến trình của trào lưu tục hóa, đồng thời cũng là tiến trình thể hiện công trình nhập thể của Thực Tại Cứu Độ. Mỗi bước đi trong tiến trình này tương tự như giai đoạn "phân-hóa" trong tiến trình thành nhân của một con người, để đi tới giai đoạn "hội nhập"; các thực tại phong phú của vũ trụ này "cần" phải được trải qua một cơn "khủng hoảng" của trào lưu trần tục hóa, để rồi được tìm lại một cách tinh tuyền và trọn vẹn hơn trong Nhiệm Cục Cứu Độ của Thiên Chúa.
Lối nhìn Sémite mang tính cách thống nhất toàn bộ của dân Israel đã biến lịch sử dân tộc thành lịch sử ơn cứu độ. Lối nhìn đó dù rất hay, nhưng không tránh khỏi những khẳng định "thô sơ", nhiều khi gán cho Thiên Chúa những hành vi vô luân. Ta có thể tạm gọi đó là lối nhìn thế giới trong lăng kính "tôn giáo thuần túy". Ngược lại, người Hy Lạp muốn khám phá ra sự khôn ngoan của thần minh bằng suy tư lý trí. Lối nhìn này cũng tuyệt, nhưng nó chỉ giúp tìm thấy một "Thượng Đế của triết gia". Việc hòa trộn hai lối nhìn trong dòng lịch sử tây phương, một có tính tôn giáo và một có tính đời, hình như đang dần dần tạo thành một cái nhìn tôn giáo tinh tế, và cũng là một cái nhìn trần tục sâu xa, nghĩa là hứa hẹn một sự gặp gỡ trọn vẹn mà khoa thần học công giáo nhìn thấy như là ơn cứu độ mang tầm mức vũ trụ (Xc. Rm 8,19-24). Chúng ta thấy được khá nhiều nét minh họa cho lối nhìn này trong dòng lịch sử Ơn Cứu Độ, Lịch sử Giáo Hội, và cả trong lịch sử triết học ( Xc. Công Đồng Vatican II, MV. 36; TĐ. 7.) .
4/ Tuy nhiên, không phải vì thế mà ta không dám thẳng thắn nhìn nhận rằng, trong thời "hoàng Kim" của Giáo Hội, Kitô giáo chưa phải là sức mạnh giải phóng con người toàn diện, nếu không phải là ngược lại. Những tòa tra (Inquisition) là một thí dụ điển hình. Chúng không lạ gì, nhưng cũng phải thấy đau lòng khi mà tinh thần của thời Phục Hưng muốn tìm lại tính cách gọi là "nhân bản" đã phải thể hiện trong thế đối lập với tôn giáo. Tinh thần này bộc lộ ra trong khuynh hướng tự do và khuynh hướng duy nhiên. Những yếu tố này không phải là xa lạ với Kitô giáo, nhưng người ta lại chưa tìm thấy được chúng giữa lòng xã hội Kitô giáo... Ngày nay người ta còn muốn tách biệt tôn giáo với Đức Tin. Những điều đó luôn là những tín hiệu của một bước "phân hóa" mà chúng phải tìm ra được ngõ mở để đưa đến tiền trình "hội nhập". Tuy nhiên, cũng phải nhận thực là để Kitô giáo, xét như những biểu hiện trong dòng lịch sử, hoàn toàn ủng hộ con người thì còn phải chờ đến ngày Cánh Chung.
Một lần nữa, chúng ta có thể nhắc lại bài học của Vatican II về chủ nghĩa vô thần nhân bản ở đây : "Giáo Hội cho rằng nhìn nhận Thiên Chúa không có gì nghịch với phẩm giá con người, vì phẩm giá ấy đặt nền tảng và nên hoàn hảo trong chính Thiên Chúa" (MV 21,c).