Cứu độ là một câu chuyện có hậu
Các nhà luân lý thường có khuynh hướng tính toán cuộc đời như một bài toán đạo đức, nhưng các nhà văn thì sẽ nhìn thấy cuộc đời mỗi con người như một câu chuyện.
1. Bài toán hay câu chuyện ?
Các nhà luân lý thường có khuynh hướng tính toán cuộc đời như một bài toán đạo đức, nhưng các nhà văn thì sẽ nhìn thấy cuộc đời mỗi con người như một câu chuyện.
Bài toán có những dữ kiện rõ ràng, được giải quyết theo công thức hợp lý, đưa tới những kết quả dứt khoát… Cách giải quyết ấy mang lại kết quả chính xác đối với những thứ khoa học về vật chất. Câu chuyện vốn khó nhận ra hơn nhiều, vì câu chuyện mời gọi người ta dõi theo hành trình phiêu lưu của tự do. Mỗi người có những “dữ liệu” khởi đầu khác nhau, không phải chỉ là trục lượng tính nhiều hay ít, nhưng còn nhiều trục khác cắt ngang, trục phức tạp và đơn giản, trục tinh thần và vật chất, trục tâm linh và trần tục… Trên nền tảng “đa trục” giao thoa và biến hóa ấy, còn có biết bao sắc thái riêng biệt tùy vào tâm tình của mỗi con người… Những yếu tố ấy làm nên tính huyền nhiệm của người đời và đời người mà khoa học tính toán khó lòng đụng chạm tới được…
Các nhà văn, từ bao đời nay, vẫn viết nên những câu chuyện từ đủ mọi hạng người trong xã hội và người ta từng được chiêm ngắm những câu chuyện thật đẹp từ thân phận những người cùng khốn nhất. Rõ ràng là cách nhìn của các nhà văn thú vị hơn nhiều, và thiết nghĩ cách nhìn ấy cũng chân thật hơn, tôn trọng huyền nhiệm con người hơn. Đặc biệt, cách nhìn này có phần “công bằng” hơn, vì nó không đánh đồng cuộc đời mọi người như nhau, nhưng tôn trọng hoàn cảnh cụ thể, cá biệt, độc đáo của mỗi thân phận người vô cùng cao quí…
Ta mượn hình ảnh nhà văn ở đây không phải để nói chuyện văn chương, nhưng nhằm học được khả năng khám phá ý nghĩa cuộc đời thật như một câu chuyện theo cách của các văn sĩ. Các văn sĩ kể chuyện đời, nghĩa là đã trả lại chiều kích lịch sử vốn bị quên lãng khá lâu trong triết học Tây Phương. Từ cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX, triết học, và sau đó là thần học, đã khám phá lại chiều kích lịch sử như một dữ kiện nền tảng của thân phận con người, nhưng đáng tiếc là các “nhà luân lý” trong các cộng đoàn tu trì cũng như các “mục tử” trong sinh hoạt giáo xứ… còn xa lắm với lối nhìn này.
Một cách nào đó, có thể nói “bài toán” là diễn ngôn của nguyên tắc luận lý, là một chuỗi tam đoạn luận rất chắc chắn nhưng kết quả vẫn không ra khỏi được tiền đề; trong khi đó, “câu chuyện” là diễn ngôn của biện chứng, của những tương tác hướng tới một tiền đề mỗi ngày mỗi phong phú hơn. Từ cách nhìn này, ta có thể khám phá cách nhìn về bản chất đời người như một câu chuyện chính là diễn ngôn của phép biện chứng, nghĩa là con người trở nên chính mình và hoàn thành cuộc đời mình trong “đối thoại”, qua những mối tương quan qua lại của xã hội. Cách nhìn của luận lý chẳng những khó lòng diễn tả được huyền nhiệm “người-đời”, vì đã giản lược con người và những chi tiết trong con người thành những đơn vị đồng tính và phổ quát đối với mọi người; chính con người trở thành yếu tố phụ thuộc trong hệ thống cố định. Nhưng hơn nữa, cách nhìn ấy đã bỏ quên chiều kích lịch sử của “đời-người”, vốn là yếu tố làm cho huyền nhiệm của thân phận con người nhân lên bội phần.
Thật ra cách nhìn cuộc đời như một câu chuyện không phải là chuyện phụ, nhưng là đường nét lớn nhất của Kinh Thánh và cũng là đường nét căn bản của ơn cứu độ Kitô giáo. Nếu không tìm lại được ý nghĩa của chiều kích lịch sử, nếu không đổi mới được cách nhìn về huyền nhiệm con người, Giáo hội sẽ không làm sao có thể thanh lọc khỏi chủ nghĩa ưu tuyển vốn là nỗi ám ảnh nặng nề nhất của xã hội con người, Giáo hội sẽ không làm sao có thể thoát khỏi được não trạng “giáo sĩ trị” vốn đã gây ra quá nhiều hệ quả tai hại cho đời sống mục vụ trong Giáo hội.
Chính vì sự quên lãng ấy mà một đường nét lớn trong Tin Mừng Đức Giêsu còn ít được thể hiện nhất trong đời sống Giáo hội, đó là lời khẳng định về ơn cứu độ của Chúa đặc biệt dành cho người bé mọn, mối quan tâm đặc biệt của Chúa đối với tội nhân… Thực trạng “người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau yếu mới cần…” (Mt 9, 12), “nhiều kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu” (Mt 19,30); “những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông” (Mt 21-31), …vẫn còn là điều quá hiếm hoi trong đời sống Giáo hội.
Chỉ có cách nhìn cuộc đời như một câu chuyện mới có thể giúp người Kitô hữu thoát được não trạng ưu tuyển để khám phá nhiệm cục cứu độ kỳ diệu Kitô giáo, nhiệm cục kỳ diệu của tình yêu theo quan điểm Kitô giáo.
2. Linh đạo CỦA người nghèo
Cách nhìn cuộc đời như một câu chuyện có khả năng giúp người Kitô hữu tìm lại được đường nét trọng yếu trong “đề án cứu độ” của Thiên Chúa, khai mở cách nhìn đúng đắn về nhiệm cục cứu độ, đó là thứ “linh đạo của người nghèo”.
2.1 Linh đạo của người nghèo trên nền tảng tính ngôi vị
Tính ngôi vị là đóng góp lớn nhất và quan trọng nhất của Kitô giáo đối với thế giới. Ở đây ta chỉ nói tới ngôi vị trong khía cạnh tương quan ngã vị, tức là góc nhìn bộc lộ một thứ “NGHÈO (LỚN)”, cái nghèo của chính ngôi vị chứ không phải chỉ là nghèo về của cải hay về thứ gì khác. Thực sự ngôi vị chỉ tỏ lộ trong “tương quan ngôi vị”, nghĩa là chỉ tỏ lộ khi đối diện với một ngôi vị khác. Đứng trước các sự vật hay với sinh vật nào khác, ngôi vị không có giá trị gì cả.
Ngôi vị là tự do và chỉ có ngôi vị đi vào mối “tương quan ngôi vị” cách chân thật mới vượt qua được mối “tương tác thực nghiệm” của sự vật, để hiểu được tự do, để thể hiện mình trong tự do.
Tự do là điều kiện căn bản để đi vào tình yêu. Chỉ trong tương quan với một ngôi vị khác, đặc biệt trong tình yêu, ngôi vị mới trở nên viên ngọc long lanh. Trong tự do của tình yêu, ngôi vị sẽ nhận ra được tính nghèo khó nằm sâu trong hữu thể của mình, cái nghèo ở mức độ ngôi vị, để đến với người mình yêu trong sự khẩn nài. Tương quan ngôi vị là nền tảng của tình yêu theo quan niệm Kitô giáo, tình yêu giữa con người với Thiên Chúa và tình yêu đích thực giữa con người với nhau. Đây chính là nét đặc trưng của nẻo đường tâm linh của Kitô giáo.
Trong khía cạnh này, có thể nói Thiên Chúa Ba Ngôi là thực tại nghèo nhất, bởi vì các Ngôi Vị Thiên Chúa chỉ “hiện hữu” trong tương quan với chính Ngôi Vị Thiên Chúa khác, các Ngôi vị Thiên Chúa không thể độc lập hiện hữu, và cũng không thể tự túc tự cường được… Điều khẳng định về Thiên Chúa theo thần học như thế có vẻ kỳ lạ, nhưng ta sẽ thấy vẻ đẹp của chân lý ấy khi nhận ra đó chính là điều kiện để là tình yêu. Thiên Chúa nghèo trong ngã vị, vì Thiên Chúa là tình yêu tinh tuyền nhất; bởi vì tình yêu không là gì khác hơn khát vọng một ngôi vị khác, một khát vọng không thể được lập đầy bằng cái gì khác và cũng không thể giải quyết được bằng một sức mạnh nào khác, mà chỉ có thể là hai bên trao tặng ngôi vị cho nhau và lãnh nhận ngôi vị của nhau với lòng tri ân.
“Thiên Chúa là sự nghèo nàn tuyệt đối; nơi Ngài không có dấu vết của sự sở hữu. Từ đời đời, Cha nói với Con : Con là tất cả đối với Cha. Con đáp lại Cha : Cha là tất cả đối với Con. Còn Thánh Thần là sự năng động của chính sự nghèo nàn này. Chính Thiên Chúa là hữu thể nghèo nàn nhất. Nếu lý trí các bạn giao động trước viễn ảnh này, thì hãy nói : Thiên Chúa giầu có, nhưng hãy thêm ngay vào : giầu có tình yêu chứ không giàu có sở hữu. Mà giầu tình yêu và nghèo nàn, là y hệt như nhau. Thiên Chúa là một vô tận về sự nghèo nàn. Sự sở hữu là chính cái trái ngược của Thiên Chúa". ( Trích trong tác phẩm Vui Sống - Vui Tin Yêu của Lm.Francois Varillon, do Lm F. Lê Đức Quang dịch, Imprimatur do đức giám mục Nicolas Huỳnh Văn Nghi, Phan Thiết 11-4-2000, trang 36.)
Tín lý Kitô giáo khẳng định con người được sáng tạo nên “từ hư vô”, đó là cội nguồn của cái “nghèo ngã vị” để có thể đi vào hành trình trở nên “giống hình ảnh Thiên Chúa” (St 1,27). Người nào nhận ra cái nghèo của ngôi vị thì mới có thể trân trọng chính ngôi vị trần trụi nhưng vô cùng quí phái, trần truồng nhưng vô cùng linh thánh. Ngôi vị là quà tặng lớn nhất mà Thiên Chúa ban để con người có thể đi vào nẻo đường của tình yêu. Thật sự con người chỉ có thể hoàn thành được vận mạng của mình trong tình yêu, con người chỉ thỏa được khát vọng căn bản và sâu xa nhất trong tình yêu, con người chỉ có thể tìm gặp được chính mình trong tình yêu… và tình yêu chỉ có thể có được bằng cách trao tặng và lãnh nhận ngôi vị lẫn nhau với lòng tri ân.
“Điều tôi đã viết trong Thông điệp “Đấng Cứu Chuộc Con Người” (s.10) được áp dụng độc đáo và ưu tiên trước hết nơi gia đình : “Con người không thể sống mà không có tình yêu. Con người sẽ là kẻ không thể hiểu được đối với chính bản thân mình, cuộc sống con người mất ý nghĩa nếu không nhận lấy mặc khải về tình yêu, nếu không có kinh nghiệm về tình yêu và nếu không nhận lấy kinh nghiệm ấy làm của mình và hăng say dự phần vào đó” .( Trích Tông huấn Gia Đình, số 18.)
Trong đời sống xã hội cũng như trong Giáo hội, việc phục vụ người nghèo vẫn là một nét bác ái nổi bật, nhưng nếu có ai đó đã dành trọn vẹn cả cuộc đời cho việc phục vụ người nghèo thì rất có thể đó mới chỉ là thực hiện thứ “linh đạo cho người nghèo”. Thứ linh đạo này mang lại nhiều nét đẹp trên bề mặt… Chỉ khi nào một ngôi vị sống và hoàn thành vận mạng của mình bằng nẻo đường tình yêu đích thực, nghĩa là khao khát tình yêu của ngôi vị khác chứ không phải chỉ là làm từ thiện mà thôi, thì ngôi vị ấy mới đi vào “linh đạo của người nghèo” :
“Ngay giờ ấy, được Thánh Thần tác động, Đức Giê-su hớn hở vui mừng và nói: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha.” (Lc 10,21)
2.2 Linh đạo của người nghèo trong tương quan xã hội
Ngôi vị (persona) tự nó đã mang một giá trị tuyệt đối. Ngôi vị triển nở trong nhân cách (personalitas), nhưng nhân cách không thể thay thế ngôi vị. Cám dỗ muôn thuở của con người là giản lược ngôi vị vào nhân cách; và một khi lấy nhân cách làm nền tảng, người ta đương nhiên khinh thường những người không có nhân cách, đó là căn nguyên của chủ nghĩa ưu tuyển.
Đôi khi trong Giáo hội, người ta thi vị hóa người nghèo thành những người sống thanh bạch, đơn giản, cao quí… để rồi có lý do từ khước những người nghèo không có nhân cách. Nhưng thật ra, cái nghèo thường diễn ra theo qui luật “nghèo hèn sinh đạo tặc”. Người nghèo không đơn giản chỉ là một sự thiếu thốn vật chất, nhưng luôn bị giằng xé bởi muôn vàn bí bách và luôn bị xô đẩy vào thứ nghèo nàn về nhân cách.
Tinh thần Tin Mừng không phải là cách thi vị hóa người nghèo, và cũng chẳng phải chỉ là thái độ tội nghiệp đối với những người nghèo. Nếu Thiên Chúa Ba Ngôi thực sự là mẫu mực của thứ nghèo chân chính, thì tinh thần Tin Mừng cũng giới thiệu một thái độ nghèo khó trên nền tảng ngôi vị để hướng tới việc khám phá ra một thứ linh đạo của người nghèo.
Thói đời trong tương quan xã hội là người ta luôn muốn dùng thế mạnh của mình để đạt được điều mình mong muốn. Người có tiền thích dùng tiền để thực hiện chương trình của mình hoặc để giải quyết khó khăn; cũng vậy, người có quyền thì dùng thế lực của mình, người có tài năng sẽ sắp xếp một kế hoạch, trong đó yếu tố quyết định sẽ chính là tài năng của mình…
Hơn nữa, chính môi trường xã hội sẽ đòi buộc người ta phải biết chơi với nhau bằng thứ “vũ khí” nào : trong giới giang hồ ai cũng muốn mình có “tuyệt thế võ công”, trong thế giới tri thức, người nào có chất xám nhiều sẽ là người có nhiều cơ hội hơn người để thành công nhất,…; và quy luật ấy đạt đến tột đỉnh khi mà người ta đi vào “phòng thi đạo đức”, mà kết quả “điểm số đạo đức” có tính quyết định, mang lại sự kính trọng hoặc bị khinh dể, mang lại sự chắc tâm hoặc sự hụt hẫng về bản thân …
Hình ảnh ông Gia kêu có lẽ là một lời chứng rõ ràng nhất về nền linh đạo của người nghèo. Gia Kêu là người có hai thế mạnh quan trọng nhất, ông là người giầu có (tiền) và là thủ lãnh các người thu thuế (quyền). Bình thường thì Gia Kêu sẽ dùng quyền hoặc tiền để thỏa được ước muốn gặp đức Giêsu. Nhưng lạ lùng, ông đã đi vào thứ linh đạo của người nghèo, ông đến với Chúa bằng dáng dấp lùn và bằng cách thức của trẻ em, leo lên cây để xem. Chính nhờ đi vào nẻo đường linh đạo của người nghèo như thế mà ông đã được Chúa nhận lời đến nhà của mình (x. Lc 19, 1-19).
Dĩ nhiên cũng có những câu chuyện của “người giầu”, những người thích dùng thế mạnh, nhưng cách thức ấy không đưa tới tương quan ngã vị mà chỉ là những thứ “tương quan sự vật”, những thứ “tương quan qua đường”, nhằm để giải quyết một vụ việc nào đó.
Chính bản thân “người nghèo” như là một ngôi vị đã được/bị tước bỏ mọi thế mạnh, phải đưa chính con người trần trụi của mình vào cuộc. Khi đó, người ta có cơ may chân nhận ngã vị trần trụi của mình, được thôi thúc ra khỏi pháo đài của cái tôi cô lập, để khao khát được chấp nhận và đi vào tương quan ở tầng ngã vị. Không phải đương nhiên người nghèo nào cũng có thể ra khỏi cái tôi đóng kín, và không phải người giầu nào cũng chỉ biết sử dụng thế mạnh phi ngã vị của mình, nhưng cả người nghèo cũng như người giầu đều phải đi vào thứ “linh đạo của người nghèo” thì mới có thể viết nên những “câu chuyện đời” đích thực và vô cùng phong phú. Chính những người sống linh đạo của người nghèo mới biến ngã vị của mình thành câu chuyện, mới cấu tạo nên câu chuyện tình nghĩa và khai mở được câu chuyện cứu độ.
3. Khai mở lối nhìn câu chuyện
Bài toán, một cách nào đó, là thứ siêu hình học về sự vật. Nhìn con người như một bài toán thì ít nhiều cũng là cách thức đồng hóa con người với sự vật. Nhìn cuộc đời con người như một câu chuyện, trước tiên, chính là một cách trả lại tính nhân văn cho thân phận người, rồi tiếp đó cũng là trả lại ý nghĩa chân chính của lich sử ơn cứu độ.
Trong tính nhân văn, một sự kiện bé nhỏ nhất trong tính khách quan vẫn có thể hàm chứa vô cùng ý nghĩa đối với tâm hồn chủ quan của mỗi người. Do đó, để khám phá ý nghĩa câu chuyện, cần có một chủ thể đủ bản lãnh. Chuyện đời tự nó là sản phẩm của tự do, và cách khám phá câu chuyện đời cũng cần có một thứ sáng tạo của tự do.
Khi sức ép của mẫu thức bài toán trong đời sống xã hội và cộng đoàn trở nên gay gắt, người ta đánh mất quyền chủ thể của mình, sẽ chỉ còn biết định vị những tình tiết cuộc đời mình theo thang điểm xã hội, không nhận ra nét độc đáo của chính mình như một câu chuyện. Khi ấy, dĩ nhiên người ấy cũng không thể nhận ra câu chuyện của tha nhân, nhưng sẽ hùa theo đám đông, để khuôn đúc cả những tình huống éo le nhất của tha nhân vào những công thức luân lý.
Tạm nói “đời sống tâm linh”, là sự sống trong Chúa Thánh Thần, gồm có việc thể hiện những sinh hoạt đạo bên ngoài và những tâm tình, những giá trị, những cảm nghiệm bên trong. Biết bao người tín hữu vất vả với cuộc mưu sinh nhưng vẫn trung tín tuân giữ và thi hành những “sinh hoạt” đạo một cách trung tín, đó là những người thể hiện đời sống tâm linh một cách hồn nhiên, chân chất và có lẽ cũng lóng lánh ý nghĩa đức Cậy. Một đời sống đức Tin như thế có tính ổn định nhưng cũng dễ cứng nhắc và dễ rơi vào cách nhìn cuộc đời như những bài toán.
Dĩ nhiên Kitô giáo chẳng phải là thứ “đạo tại tâm”, nhưng nếu một đời sống tâm linh có được một “đời sống nội tâm” phong phú, sẽ kín múc được ý nghĩa nhân bản và siêu nhiên, cũng như biểu lộ được chiều sâu tương quan ngã vị, chẳng những trong những sinh hoạt thiêng liêng, nhưng còn thấm nhuần trọn cả cuộc sống.
Với đời sống tâm linh trong chiều kích nội tâm, người Kitô hữu sẽ biểu lộ thái độ tự chủ trong văn hóa tình nguyện, có được một bản lãnh tâm linh vững mạnh trước những thách đố về sự hàm hồ ý nghĩa trong thế giới hiện đại, không ngừng khám phá những giá trị phong phú và những ý nghĩa mới của đời sống đức Tin, diễn tả đức Tin trong sinh hoạt đức tin thường ngày với “độ sâu” của tâm hồn, có khả năng cử hành đức Tin có ý nghĩa đậm đặc ngay trong những chuyện đời thường…
Thói quen hồi tâm, thái độ đứng vững trong chủ thể tính của mình trước mọi biến động, việc thường xuyên duyệt xét cuộc đời qua việc suy niệm Lời Chúa… chính là những yếu tố giúp người Kitô hữu, nhất là các tu sĩ linh mục, có thể khai mở cách sống và cách nhìn cuộc đời như một câu chuyện.
Tạm kết
Não trạng ưu tuyển, việc tính toán cuộc đời như một bài toán, não trạng giáo sĩ trị, lối ứng xử “phú quí sinh lễ nghĩa”, lối sống “đạo đức đáng kính (sợ)”, não trạng đề cao danh giá, tinh thần “thượng đội hạ đạp”, lập trường “khẳng định mình để được chấp nhận”…v…v… tất cả những điều đó đều là nguyên nhân và hệ quả của cách nhìn cuộc đời như một bài toán. Đáng tiếc thay những điều đó vẫn là dáng dấp quen thuộc trong đời sống đức Tin Kitô giáo cho đến hiện nay.
Cuộc đời con người trong trần gian này chưa có đáp án, dù cho mọi sự đều quá rõ ràng như một bài toán. Cứu độ là một “câu chuyện có hậu”. Khi xem một bộ phim nhiều tập hay khi đọc một cuốn tiểu thuyết, ta thầm mong câu chuyện sẽ có hậu. Tâm tình ấy dễ thương biết bao ! Đừng bao giờ đánh mất tâm tình “thầm mong” ấy cho đời mình và cho anh chị em của mình. Nhất là khả năng có được một kết luận có hậu vẫn luôn là kết luận ưu tiên trong quyền năng của tình yêu Thiên Chúa, để con người có quyền hy vọng cả khi không có gì để hy vọng : “Spes non confundit” (Rm 5,5).
Nguyễn Trọng Viễn op