Nhận diện cuộc chiến Thiện – Ác
Kitô giáo cho thấy sự hiện hữu của Xa-tan, nghĩa là khẳng định có tầng thứ tư trong nền tảng của sự dữ. Tác động của Xa-tan cho thấy bản chất sự ác lớn hơn năng lực của con người; và điều đó đòi buộc con người tìm đến quyền năng của Thiên Chúa.
1. Thế giới vẫn là và đang là một cuộc chiến nóng bỏng
* Ở tầng vĩ mô, ta thấy những cuộc chiến của quốc gia này với quốc gia kia trên thế giới, ta thấy việc chạy đua vũ trang chưa bao giờ rầm rộ và tốn kém như tình trạng hiện nay.
Có quan Lương Nông Thế Giới (FAO) đã từng có kế hoạch diệt trừ nạn đói trên thế giới. Trên nguyên tắc thì kế hoạch này con người có thể làm được. Nhưng trên thực tế, kế hoạch ấy đã thất bại thảm thương… vì nói chung con người không muốn làm…
- Điều trớ trêu là cho đến hiện nay, mỗi ngày quốc khánh, các vẫn chỉ biết đưa vũ khí ra khoe với thiên hạ chứ không phải đưa ra trình làng những giá trị văn hóa và nhân bản… Điều trớ trêu là “nghề đánh nhau” (nghề làm lính) vẫn là một thứ kỳ cục nhất nhưng con người lại không thể bỏ đi được…biết bao giờ người ta mới “biến gươm đao thành cuốc thành cày; rèn giáo mác nên liềm nên hái” (Is 2,…). Điều trớ trêu là mọi quốc gia vẫn phải chọn lập trường : “muốn hòa bình thì phải chuẩn bị chiến tranh”…
* Ở tầng vi mô, người ta có thể thấy cuộc sống trong mọi ngõ ngách, từ tận hang cùng ngõ hẻm, cho đến cuộc sống ở những nơi xa hoa giầu có nhất, những nơi kiến thức và học vị cao nhất… vẫn đầy dẫy nhưng tranh chấp, cãi vã, đấu đá, lừa đảo, chơi bẩn …cho đến cả những cách xử lý tàn bạo nhất, mất nhân tính nhất…
- Mỗi người đều có thể thành tâm để thấy rõ cuộc chiến thiện-ác vẫn đang diễn ra trong lòng mình giữa ước muốn xấu và ước muốn tốt; có khi ngay với những người thân trong gia đình, trong cơ quan xí nghiệp, và ngay trong các cộng đoàn tu trì cũng như trong các tổ chức của Giáo hội…
Thế giới vẫn còn đó những cuộc chiến tranh tàn khốc, những cuộc chiến lôi kéo hàng triệu người vào cuộc, xô đẩy hàng triệu người vào tình trạng cùng khốn; thế giới vẫn còn đó những hệ quả muôn mặt của sự dữ như thể đang cười nhạo vào những nỗ lực gầy dựng sự thiện của cả nhân loại…
Bóng dáng của sự ác như một tấm bạt dầy đặc bao trùm tất cả thế giới con người; còn bóng dáng của sự thiện chỉ là những ngọn đèn nhỏ xa xôi, lập lòe bên lề dòng chảy của thế sự …
2. Hệ quả của cuộc chiến thiện-ác
* Vô tình hay hữu ý, có lẽ phản ứng chung của con người là ngầm thú nhận sự bất lực của con người. Chính vì bất lực nên người ta mặc nhiên chấp nhận cuộc chiến cách này hay cách khác. Vì bất lực, có khi người ta hợp pháp hóa nguyên tắc chiến tranh; vì bất lực, có khi người ta chọn thái độ phòng thủ để chỉ tìm sự an toàn cho bản thân mình; vì bất lực có khi người ta chọn cách lý giải “minh triết” theo kiểu “đời là thế đó”; vì bất lực, có khi người ta vô tình rơi vào chủ trương nhị nguyên của học thuyết Manichéisme; vì bất lực người ta chọn thái độ tôn giáo như là một phương thức giải thoát cá nhân…
* Thái độ vô cảm là biểu lộ của sự bất lực, chủ trương tương đối là phản ứng do từ sự bất lực, bệnh xầm xì hay thái độ im lặng …thật ra cũng có căn nguyên từ sự bất lực…
* Nói chung, một cách minh nhiên hoặc mặc nhiên, người ta chấp nhận học thuyết Nhị Nguyên của Manichéisme, cho rằng thế giới có hai vị thần như hai nguyên lý tuyệt đối là thần thiện và thần ác. Thế giới chỉ có thể nghiêng ngả khi thì sự thiện thắng thế khi thì sự ác thắng thế, nhưng không bao giờ có thể có một chung cuộc thuần thiện.
Đặc biệt là từ khi thiên đường cộng sản sụp đổ vào năm 1989, thì chủ trương tương đối trở nên như một lẽ đương nhiên của gần như mọi người…
3. Phân tích sự ác
* Ta có thể thấy bốn tầng của sự ác :
- Sự ác trên bề mặt là những “sự kiện”, những sự kiện lẻ tẻ của một cá nhân nào đó, diễn ra hằng ngày ở mọi nơi, như ta đọc thấy trong các “nhật báo”.
- Ở tầng sâu hơn một chút, ta có thể tìm ra những “vấn đề”, những vấn đề của một giới, trong một hoàn cảnh không gian vào thời gian nào đó, như ta đọc được trong những tạp chí nghiên cứu khoa học. Đây là cách tiếp cận của tâm lý học hay xã hội học.
- Sâu hơn nữa, qua những “sự kiện” và những “vấn đề”, người ta còn có thể thấy những “thách đố muôn thuở của phận người”. Ở đây không còn chỉ là những vấn đề tâm lý hay xã hội nhưng là, theo cách tiếp cận của triết học, đưa đến những giải pháp nhân học. Một lập trường nhân học sai lầm hoặc thiếu tính toàn diện có thể đẩy đưa thành những vấn đề và là nguồn gốc của những sự kiện.
- Cuối cùng, theo cách tiếp cận của tôn giáo, ta còn có thể thấy ở tầng đáy của sự ác, một thế lực vô hình đen tối, sự tác động xúi xiểm của xa-tan. Tôn giáo thật ra chính là một cách đối diện với cuộc chiến thiện-ác ở tầng căn bản.
* Người ta chỉ có thể dùng ý chí đạo đức để tránh làm một sự kiện ác, nhưng cần phải có khoa học để khám phá được những vấn đề chi phối phổ quát hơn, và cần phải có minh triết để tìm được một sự ánh sáng xuyên suốt cho hành trình làm người. Cuối cùng, trong cuộc chiến thiện-ác, người nào thành tâm sẽ phải nhận ra rằng năng lực của con người không thể chống lại sự ác một cách toàn diện. Tôn giáo là một phương thức giải thoát, là một giải pháp cứu độ…
* Trong nhãn quan tôn giáo, ta còn có thể khám phá cội nguồn của sự ác luôn bắt nguồn ít nhiều ở tầng “cội rễ xa tan”. Căn nguyên sâu xa của sự dữ chính là ma quỉ. Cho nên nếu chúng ta chỉ chiến đấu với sự dữ đơn thuần, chúng ta chỉ mới lo giải quyết phần ngọn; và hết sự dữ này sẽ lại có sự dữ khác, có khi còn lớn hơn nữa.
Cần nhận diện căn nguyên của sự dữ là ma quỉ và tài năng lớn nhất của ma quỉ là lừa dối. Tin Mừng Gioan nói:
“Cha các ông là ma qủi, và các ông muốn làm những gì cha các ông ham thích. Ngay từ đầu, nó đã không đứng về phía sự thật, vì sự thật không ở trong nó. Khi nó nói dối là nó theo bản tính của nó, bởi vì nó là kẻ nói dối và là cha sự gian dối”. (Ga 8,44)
Xa-tan là cha của sự gian dối, ngành chuyên môn của xa tan là dối trá, tài năng đặc trưng nhất của xa-tan là lừa dối, chiến lược căn bản nhất của xa-tan là đánh lừa con người.
* Như thế, ta có thể kể ra được ba thứ quỉ vẫn đang tung hoành trong thế giới con người
- “Quỉ con” nhằm cám dỗ tính yếu đuối của con người. Người ta biết cần phải làm điều thiện, tránh điều xấu, nhưng không đủ sức chống lại được cám dỗ của điều ác.
- “Quỉ bố” bộc lộ năng lực lớn nhất của nó là tài năng lừa dối. Quỉ bố là kẻ cám dỗ chuyên nghiệp, nó thường đưa ra những điều vô cùng độc ác, nhưng lại được bao bọc trong lớp vỏ ngọt ngào, đó thường là một lập trường triết học nguy hiểm, mượn danh nghĩa của điều thiện để ngấm ngầm đưa ra một giải pháp như “thuộc độc bọc đường”. Phương thức của quỉ bố không chỉ nhằm vào tính yếu đuối của người này người kia, trong từng trường hợp lẻ tẻ, nhưng lợi dụng được cả những đức tính tốt để qui hướng về một sự thiện giả danh. Cách thức này có thể lối kéo được rất nhiều người thiện chí và sử dụng tài năng của biết bao người để qui hướng tất cả về những mục tiêu độc ác.
- “Quỉ mẹ” bộc lộ năng lực lừa dối một cách tinh vị, đó là sự lừa dối chính lương tâm của mỗi người. Một khi đi theo quỉ bố, thường người ta sẽ nghe thấy có tiếng lương tâm nhắc nhủ, người ta thấy có chút gì áy náy về công việc của mình… Thì chính lúc này đây, quỉ mẹ sẽ trổ tài lừa dối lương tâm. Quỉ mẹ thầm thì một sự tự bào chữa cho điều ác mình làm, tự an ủi mình như đó là phương cách hiệu nghiệm nhất để mang lại kết quả tốt đẹp… Nghề chuyên môn của quỉ mẹ có lẽ là thứ tinh vi bậc thầy của xa-tan.
* Chẳng có thứ quỉ nào mà không nguy hiểm, quỉ con có thể làm cho nhiều “lỗ mọt”có thể “chìm thuyền”. Quỉ bố là một quả bom có thể phá hủy cả một dân tộc hay một thành phố… Quỉ mẹ âm thầm nhưng vô cùng nguy hiểm, nó khiến cho người ta “mất cảm thức về tội” và mở đường cho mọi thứ tội ác nguy hiểm nhất…
* Có lẽ “nghề tư tưởng” là nghề nguy hiểm nhất trong thế giới loài người, vì người dấn thân vào nghề ấy có thể trở thành tay sai của quỉ bố, trở thành kẻ bị lú lẫn do quỉ mẹ. Tuy vậy, lãnh vực tư tưởng cũng là chiến trường mà con người cần dấn thân, nếu muốn loại trừ được sự dữ từ nơi nền tảng sâu xa hơn
4. Tìm lại lý thuyết về sự ác
* Cái ác có khả năng lây lan, cái ác cũng thường liên kết với nhau, tác động tương tác để trở nên dữ dội hơn, tinh vi hơn, không khác gì một đế chế xã hội đen như con bạch tuột vươn vòi đến mọi sự.
Cái ác có thể "tu luyện" để biến hóa đến độ không còn mang dáng dấp của ác nữa. Người ta có thể tìm thấy nhiều khuôn mặt mới của cái ác, cái ác có thể nhân danh cái thiện, cái ác mê hoặc như một phương cách thực tế, cái ác có được miệng lưỡi đầy lý lẽ…
* Đức Gioan Phaolô II, trong bản di chúc tinh thần mang tên "Ký Ức và Căn Tính", đã phân tích một cách rõ ràng, cho ta thấy những căn nguyên và hệ quả của cuộc khủng hoảng thế giới hiện đại, theo đó, một khi đánh mất chiều kích siêu việt thì con người đánh mất quan điểm triết học đúng đắn về hữu thể, và do đó mà đánh mất triết lý về sự ác...
"Ở thời kỳ trước Descartes, triết học, và cogito, hay đúng hơn cognosco (tôi biết), bị tùy thuộc vào esse (hữu thể), nó được xem như cái gì đó trên hết. Đối với Descartes, trái lại, esse - hiện hữu - tỏ ra là thứ yếu, trong khi ông đánh giá cogito mới ở hàng đầu. Như thế, không chỉ người ta thực hiện sự thay đổi chiều hướng trong cách thức làm triết học, nhưng người ta còn kiên quyết bỏ đi cái mà triết học đã là cho đến lúc đó, cách riêng triết học của thánh Tôma Aquinô: Triết học về hữu thể – esse. Trước đây, mọi sự được diễn dịch trong viễn tượng của esse và ta tìm kiếm sự giải thích của mọi sự theo viễn tượng này. […] Sau Descartes, triết học trở thành một khoa học của tư tưởng thuần túy (science de la pure pensée) : tất cả cái gì là esse – thế giới được tạo thành này cũng như Đấng Tạo dựng – đều định vị trên trường của cogito, với tư cách là nội dung của ý thức con người. Triết học nắm giữ các hữu thể như những nội dung của ý thức, và không phải như những hiện hữu bên ngoài nó." .
Khi mà ý nghĩa căn bản của hữu thể, tức bản chất thật sự của thế giới, của mỗi sự vật trong thế giới này không còn được tôn trọng, hoặc bị hiểu cách sai lạc, thì tất cả những gì tỏ lộ của hữu thể cũng bị lầm lạc. Đúng ra “sự ác” chỉ có thể được hiểu trong mối tương quan với “sự thiện”. Giáo huấn Kitô giáo, từ Âu Tinh cho đến Tô-ma đều cho rằng sự ác không phải là một hữu thể đúng nghĩa, nhưng là “khuyết phạp”, là “thiếu sự thiện phải có”.
Một khi không nhìn sự ác trong tương quan với sự thiện, thì người ta cũng đánh mất "địa tầng chân thiện mỹ" nơi mỗi sự vật. Có lẽ điều nguy hiểm nhất của con người trong cuộc chiến thiện-ác hiện nay chính là con người mất cảm thức về sự thiện.
* Kitô giáo cho thấy sự hiện hữu của Xa-tan, nghĩa là khẳng định có tầng thứ tư trong nền tảng của sự dữ. Tác động của Xa-tan cho thấy bản chất sự ác lớn hơn năng lực của con người; và điều đó đòi buộc con người tìm đến quyền năng của Thiên Chúa.
Trong trình thuật đức Giêsu chịu cám dỗ trong sa mạc chẳng hạn, chúng ta thấy sự quỉ quái của xatan. Xatan không cám dỗ bằng những điều tội lỗi xấu xa, nhưng khởi đầu bằng những điều nhỏ bé và những gì có vẻ "tự nhiên".
Một khi con người không còn điểm quy chiếu vào Thiên Chúa là cội nguồn Sự Thiện, khi đó con người chỉ còn mối tương quan "tay đôi", con người với nhau và con người với thế giới, ma quỉ có đủ sức đánh bại con người.
“Bởi các ngươi bảo Ta nhờ Bêelgiêbút mà trừ quỷ, vậy nếu Ta nhờ Bêelgiêbút mà trừ quỷ, thì con cái các ngươi nhờ ai mà trừ? Bởi đó chính con cái các ngươi sẽ xét xử các ngươi. Nhưng nếu Ta nhờ ngón tay Thiên Chúa mà trừ quỷ, ắt là nước Thiên Chúa đã đến giữa các ngươi rồi”. (Lc 11, 18-19).
5. Chiến lược nào chống lại sự dữ ?
* Điều nguy hiểm nhất có lẽ là não trạng “bất lực”, dẫn đến thái độ chấp nhận cái ác như một lẽ đương nhiên, hoặc là hợp pháp hóa cái ác. Sự ác quá mênh mông đến độ, trong tâm thức con người tự nhiên, lý tưởng về một thế giới hoàn hảo trở nên như một ảo tưởng ngây thơ. Từ một não trạng bình dân nhất vốn chỉ có thể tìm cách né tránh sự ác một cách vô vọng, cho đến những nhà trí thức có cái nhìn minh triết cũng rất thường chủ trương thiện ác hay tử sinh là lẽ thường của cuộc sống nhân sinh.
Thế giới vẫn còn đó những cuộc chiến tranh tàn khốc, những cuộc chiến lôi kéo hàng triệu người vào cuộc, xô đẩy hàng triệu người vào tình trạng cùng khốn. Sự dữ như một kẻ thù hùng mạnh và đầy sách lược, nhưng con người ngày nay hình như chỉ chống trả một cách manh mún, chỉ biết phòng vệ cho cá nhân. Như thế, cuộc chiến thiện ác biến chất, không còn là cuộc chiến sinh tử cho thân phận con người nói chung, nhưng trở thành một thứ khôn vặt, chạy chọt thần linh, loay hoay tính toán vụn vặt về nghiệp hay phúc, cân đong đo đếm tội phúc... cho từng cá nhân mỗi người
Những hệ quả muôn mặt của sự dữ vẫn không ngừng bùng phát, trong khi mà tầm nhìn cánh chung Kitô giáo còn khá mờ mịt, ngay cả đối với người Kitô hữu. Nói chung, người Kitô hữu có quá ít lòng mơ ước về một thế giới của Nước Trời đã bắt đầu ngay từ cuộc sống này. Cuộc sống trần thế mất giá trị tự tại, trở thành “phương tiện thuần túy” để đánh đổi lấy cuộc sống mai sau.
Cách nhìn này cũng làm mất đi ý nghĩa của Nước Thiên Chúa mà đức Giêsu đã loan báo, mất đi tính cách độc đáo của ơn cứu độ Kitô giáo, một ơn cứu độ chính yếu nhằm tới sự thành toàn của cái toàn thể.
Do đó, điều quan trọng là chống lại chủ nghĩa nhị nguyên, không chỉ trong lý thuyết, nhưng nhất là trong thực hành. Người Kitô hữu phải gia tăng lòng mơ ước Nước Thiên Chúa, và nhận ra những dấu chỉ của Vương quốc ấy đã bắt đầu.
* Tạm nói một cách khái quát rằng cuộc chiến ở tầng luân lý, đó là cuộc chiến chống lại “quỉ con”; cuộc chiến ở tầng triết học, đó là cuộc chiến chống lại quỷ bố; cuộc chiến ở tầng sâu nhất của triết học, tầng “nguyên lý”, hay cũng có thể nói ở tầng tôn giáo, đó là cuộc chiến chống lại “quỉ mẹ”.
Có lẽ lâu nay hầu hết người Kitô hữu chỉ thấy mặt trận ở tầng luân lý, một cuộc chiến với “quỉ con”. Dĩ nhiên, những lỗ mọt có thể làm chìm thuyền, nhưng những tội ác ghê rợn nhất của xa-tan chính là những vấn đề ở tầm vĩ mô, tức là cuộc chiến với quỉ bố và quỉ mẹ. Giáo hội vẫn nỗ lực chống lại quỉ bố bằng những học thuyết xã hội và bằng những nỗ lực liên kết con người vì hòa bình. Tuy nhiên, hình như mặt trận bị bỏ quên và là mặt trận nguy hiểm ngầm lại chính là cuộc chiến với quỉ mẹ; và xa-tan như thể đang cười nhạo vào những nỗ lực gầy dựng sự thiện của cả nhân loại…
Trong các sinh hoạt xã hội, vẫn có không ít những người vì tham lợi trước mắt cho mình mà sẵn sàng lừa đảo và xô đẩy bao người vào con đường cùng khốn. Tuy nhiên, ở tầm mức lớn hơn, có lẽ không có mấy những người làm ác vì thích điều ác, trừ ra những người có tâm bệnh. Trên thế giới vẫn còn đầy những người nhân danh sự thiện một cách nào đó để gây chiến, để giết chóc, để đàn áp, để phát triển vũ khí,… Có phải vì mặt trận chống lại quỉ mẹ đã bị bỏ quên ?
* Chúng ta có thể thấy, nói chung, những nền văn minh nào từ chối, hoặc giảm nhẹ, hoặc giản lược mối tương quan sống động với Thượng Đế sẽ khó lòng tìm được một nền tảng hợp lý và vững chắc giúp con người đứng vững trên lương tâm ngay thẳng. Trong thế giới con người có muôn vàn tình huống éo le, tâm hồn con người có muôn vàn trạng thái phức tạp,… mà nếu lương tri nơi mỗi cá nhân con người chỉ đặt nền tảng trên sự đồng thuận của xã hội, hoặc chỉ dựa và một chút danh dự theo văn hóa, hoặc được đẩy lên thành chủ nghĩa anh hùng,… sẽ không thể nào tạo được một đối trọng tương ứng với cám dỗ muôn mặt của sự ác.
Thật sự trong cuộc chiến chống quỉ mẹ thời nay, nếu lương tri con người chỉ đặt trên một thứ có bản chất tương đối nào đó, thì khó lòng tạo nên được một nền tảng siêu hình để có thể chống lại những cám dỗ muôn mặt của quỉ mẹ. Sự dữ trở nên phức tạp vô tận thì sự thiện cũng chỉ có thể đứng vững trên nền tảng siêu hình bất biến.
Thực tế, ta thấy Khổng giáo và trào lưu vô thần rất dễ trở nên mảnh đất tốt cho những toan tính giảm nhẹ phẩm tính luân lý để thực hiện được hệ quả lịch sử. Văn hóa Á Châu nói chung và người Trung Hoa nói riêng, vốn xử lý mọi việc theo “văn hóa dịch lý” chứ không phải “văn hóa chân lý”. Do đó, Trung Hoa có câu “Tiểu lượng phi quân tử; vô độc bất trượng phu" . Chủ trương vô thần thì không có gì đủ sức để cấm cản người ta lấy mục đích biện minh cho phương tiện. Không có Thượng đế, con người phải tự mình gồng lên chống lại sự dữ như một chủ nghĩa anh hùng, anh hùng luân lý hoặc anh hùng chính trị… Tuy nhiên, trong cuộc chiến “tay đôi này”, người ta luôn có nguy cơ bỏ qua, coi nhẹ một nền tảng nhân bản toàn vẹn để chọn giải pháp thích nghi. Người ta tính toán để hy sinh những "chuyện nhỏ" hầu đạt được thành công trong chuyện lớn; người ta chọn "cái lý" bằng sự hy sinh "cái tình" hoặc ngược lại; người ta chọn điều nào gắn liền với hiệu quả, với hiệu năng, với thành công trước mắt nên đành coi nhẹ phẩm tính chân thật của mỗi hành vi… Trong thế giới ấy chiều kích chính trị lấn át chiều kích luân lý, hoặc có khi người ta còn liều lĩnh giản lược chiều kích luân lý vào chiều kích chính trị thuần túy.
Đối diện với hiện tình của thế giới, có lẽ điều tréo ngoe ngay trong Kitô giáo đó là tình trạng một đàng chúng ta tha thiết cầu xin hòa bình, nhưng nhiều kiểu cách của người Kitô hữu lại góp phần cộng tác vào nguyên lý tạo ra chiến tranh. Tay phải chúng ta đấu tranh cho sự thiện, nhưng tay trái chúng ta lại bắt tay với sự dữ trong những thái độ giảm nhẹ nguyên lý.
Có một sự bùng phát của sự dữ, như là giai đoạn “công phạt” của vi trùng Hansen, ở Việt Nam và Trung Quốc. Trong xã hội ấy, cuộc chiến giữa lương tri và gian dối trở nên một cuộc chiến sinh tử, nghĩa là nếu chọn lương tri, ta sẽ không thể nào sống được; ngược lại, để sống còn mà thôi, người ta cũng buộc lòng phải bào mòn chính lương tri của mình. Bầu khí chính trị và kinh tế đã khiến cho gần như tất cả mọi người đều phải ít nhiều bịt tai trước tiếng nói của lương tri. Không mấy ai dám nói thật điều mình suy nghĩ; cả những người dân chân chất nhất cũng phải chọn lập trường “rau hai luống, lợn hai chuồng”. Trong xã hội ấy, người Kitô hữu, thậm chí cả những đấng bậc, cũng buộc phải lựa chọn thái độ thỏa thuận ít nhiều với sự dữ. Trong tương quan với nhà nước, có những đấng bậc sẵn sàng chọn những phương án lo lót, hoặc im lặng trước bất công, để được dễ dàng hoạt động; có khi các bề trên hoặc cha xứ chọn cách thức lo lót để hợp thức hóa đất đai, xây nhà thờ; trong hoàn cảnh quá khó khăn, ta xem nhẹ những đòi hỏi công bằng về quyền sở hữu trí tuệ; để tránh phiền hà, ta sẵn sàng chịu “phạt nóng” để được giải quyết lỗi vi phạm luật giao thông… Những cách xử lý tình huống như thế vô tình bào mòn sự tinh tế của lương tri nơi tâm thức của mọi người dân trong xã hội cũng như nơi tâm thức của người Kitô hữu.
Chiến tranh không đương nhiên nẩy sinh ra, hoặc hiếm khi chỉ phát xuất từ sự “gian ác minh nhiên” của cá nhân ai đó. Người phát động chiến tranh đã châm ngòi nổ, nhưng chính thùng thuốc nổ lại do tâm thức của cả tập thể xã hội tạo ra. Sự bào mòn lương tri chính là nguyên do sâu xa tạo nên sự bùng phát của sự dữ.
* Cách đối diện với sự ác của con người ngày nay là việuc chống lại sự ác này bằng một sự ác khác; hoặc tốt hơn một chút là chống lại sự ác bằng điều không-ác.
Trở lại với học thuyết, sự ác là khuyết phạp sự thiện phải có, ta hiểu rằng điều chính yếu trong cuộc chiến thiện-ác chính là điều thiện, là gia tăng điều thiện. Về phương diện tiêu cực, Giáo hội cảnh báo một sự “mất cảm thức về tội”. Tuy nhiên, trong chiều hướng tích cực và ở thế “tấn công” đối với sự ác, có lẽ cần nhận diện tình trạng “mất cảm thức về sự thiện”.
Để chống lại thế lực sự ác, người Kitô hữu cần dám sống thật và nói thật, biết tôn trọng phẩm tính của sự việc chứ không bị cám dỗ về hiệu năng. “Sự thật mất lòng”, dám tôn trọng sự thật dù bị rắc rối về hiệu năng, đó là cách thức thể hiện lòng trông Cậy vào quyền năng Chúa; vì chính Chúa mới làm cho sự thiện phát triển để chống lại sự ác, chứ không phải thái độ khôn vặt của con người.
* Sự thiện, cho dù nhỏ bé, cũng góp phần làm cho “thể trạng” của nhân loại mạnh mẽ hơn để chống lại “bệnh tật”. Hơn nữa, trong niềm tin, mọi sự thiện đều có thể hiệp thông với cuộc chiến thắng của đức Giêsu.
Ở đây, ta có thể gặp thấy một nét độc đáo khác của Kitô giáo, đó là tính bí tích hay tính “thần bí Kitô giáo”.
Đức Giêsu đã từng nói : "Ai tiếp đón một em nhỏ như thế này vì danh Thầy, là tiếp đón Thầy; và ai tiếp đón Thầy, không phải tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy." (Mc 9,37); hoặc : “Đức Vua sẽ đáp lại rằng: ‘Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.” (Mt 25,40).
Thần Bí kitô giáo không nhất thiết phải bay bổng ra khỏi trần thế này, nhưng được tỏ hiện một cách rất cụ thể, bình thường và trong những hành vi nhỏ nhặt nhất.
Tạm kết
* Lời kinh Lạy Cha chúng ta đọc hằng ngày không phải bị giản lược thành một thái độ khoanh tay chờ Chúa, nhưng mời gọi chúng ta đi vào cuộc chiến thiện ác trong thế giới này. Đây không phải một thứ “thiêng liêng” chống lại “thế tục”, nhưng là “Thần Khí” chống lại “xác thịt”, là tình yêu chống lại hận thù, là sự thật chống lại gian dối, là ánh sáng chống lại bóng tối… Người Kitô hữu không được quyền ẩn nấp trong cõi thiêng liêng để chấp nhận hiện trạng của cuộc chiến thiện-ác, và dĩ nhiên càng không được thỏa hiệp với sự ác, để thực hiện một thứ sứ vụ thiêng liêng nào đó. Người Kitô hữu mừng lễ Chúa Phục Sinh, lễ của Sự Sống chiến thắng Thần Chết theo nghĩa phổ quát nhất, bao hàm tất cả mọi thực tại. Ánh sáng Sự Sống Phục Sinh phải thực sự và cụ thể đang đánh tan bóng tối của tử thần trong chính thực tại thế giới này.
* Trong cuộc chiến này, cần phải “khôn ngoan” và “đơn sơ”. Đức Giêsu nói :
“…Này, Thầy sai anh em đi như chiên đi vào giữa bầy sói. Vậy anh em phải khôn như rắn và đơn sơ như bồ câu”. (Mt 10, 16-17)
Quả thật, để chiến thắng sự dữ, cần sự khôn ngoan để đánh được quỉ bố, nhưng cần hơn là phải đơn sơ, chân thật trong lương tri, để có thể đánh được quỉ mẹ. Cho tới nay, Giáo hội Việt Nam chưa có chiến lược nào trong cuộc chiến với quỉ mẹ, chưa nhận ra tầm quan trọng của việc đào tạo lương tâm và chưa dám trả lại quyền thích đáng của lương tâm mỗi người trong đời sống đức Tin.
* Việc còn lại là mỗi người Kitô hữu phải bắt đầu “hành động”. Hành động trên nền tảng thế-tất-thắng của Sự Sống, hành động như xuất phát từ cội nguồn của sự Thiện, và hành động trong sự hiệp thông với sức mạnh của Chúa để dám sống ngay thật từ những điều nhỏ nhặt nhất và sẵn sàng thực hiện những việc thiện bình thường nhất để gia tăng “thể trạng” cho sự sống nhân loại trong cuộc chiến gay gắt này.