Bài 4: TRIẾT HỌC THỜI CẬN ĐẠI

Những trào lưu phong phú của thời Phục Hưng đã phá vỡ thế giới yên tĩnh và đóng kín của thời Trung Cổ. Nhưng thời đại Phục Hưng cũng lại phải chịu thay thế bằng một thời đại khác, theo đúng qui luật của lịch sử. Từ thế kỷ XVII, chúng ta bước sang một thế giới mới ( Theo Ernest d' Aster, Sđd, trang 181.) , thế giới "tân thời" hay thời Cận Đại. Để bước vào nẻo đường mới này, chúng ta lại phải nhanh chóng thay đổi lối nhìn; xin tạm xác định một vài nét chung của triết học trong giai đoạn này.

I. Một số nét chung ( Xc. Ernest d' Aster,Sđd, pp 181 tt; 286 .)

Những trào lưu phong phú của thời Phục Hưng đã phá vỡ thế giới yên tĩnh và đóng kín của thời Trung Cổ. Nhưng thời đại Phục Hưng cũng lại phải chịu thay thế bằng một thời đại khác, theo đúng qui luật của lịch sử. Từ thế kỷ XVII, chúng ta bước sang một thế giới mới ( Theo Ernest d' Aster, Sđd, trang 181.) , thế giới "tân thời" hay thời Cận Đại. Để bước vào nẻo đường mới này, chúng ta lại phải nhanh chóng thay đổi lối nhìn; xin tạm xác định một vài nét chung của triết học trong giai đoạn này.

1. Triết học kiểu khoa học

Nếu triết hoc của thời Trung Cổ luôn trung thành với mạc khải và đóng đúng vai trò của "cô nữ tì của thần học" thì triết học Cận Đại lại mang dáng dấp "nữ tì của khoa học". Trong khi các triết thuyết của thời đại Phục Hưng có vẻ độc đáo nhưng hỗn độn, thì những phát kiến khoa học trong giai đoạn này lại không ngừng phát triển. Khoa học đưa đến những kết quả phong phú, sự tăng triển liên tục, tính chính xác khách quan. Những thành quả đó không ai có thể chối cãi được. Khoa vật lý là một khoa học độc lập đầu tiên của thời đại này; khoa hình học có một hệ thống chặt chẽ, với những ý niệm rõ ràng và những định đề không thể chối cãi; cách thức cấu tạo nên một chứng minh thật là chắc chắn... Như thế, vai trò của khoa học, đặc biệt là các khoa học về thiên nhiên, cũng dần dần trở thành yếu tố căn bản cho tất cả mọi lãnh vực khác.

Sự phát triển của khoa học đặt ra cho triết học nhiều vấn đề về thế giới. Các nhà triết học Kinh Viện đã không trả lời được các vấn đề này cho thỏa đáng. Giờ đây, chính những triết gia của "thời đại mới" này sẽ làm công việc đó. Và trong bầu không khí say mê khoa học như thế, triết học của giai đoạn này cũng khao khát một sự chính xác, cũng được tiến hành theo kiểu phân tích và tổng hợp, cũng xoay sở để đáp ứng các đòi hỏi của một não trạng khoa học. Người ta nhận thấy rằng, hầu hết những triết gia trong thời kỳ này đều xuất thân từ môi trường khoa học vật lý và khoa hoc tự nhiên. Những đại biểu chính yếu của thời kỳ này, như Descartes, Pascal ... cũng là những nhà toán học danh tiếng.

2. Viễn Tượng của Triết Học

Với bao nhiêu phát kiến về thế giới của khoa học, sự hiển hiện của thế giới bên ngoài trở thành điều mà không ai có thể nhắm mắt làm ngơ. Sự hiển hiện của thế giới bên ngoài như thế cũng làm cho viễn tượng của triết học phải xoay hướng, thế giới thiên nhiên trở thành vấn đề cho triết học.

Chúng ta biết rằng, đối với triết học Cổ Đại, ý niệm linh hồn đi liền với ý niệm sự sống, linh hồn là nguyên lý làm cho thân xác trở thành sống động, khác với thế giới sự vật bất động; sự đối lập giữa linh hồn với thân xác chính là sự đối lập giữa bản tính hữu cơ (nature organique) và bản tính vô cơ (nature inorganique). Như thế, các chức năng như hô hấp, dinh dưỡng, cũng giống như ý muốn và tư tưởng, đều thuộc về linh hồn.

Lối nhìn đó, ít nhiều, đã bỏ quên hình ảnh của thế giới. Linh hồn con người chưa được giao phó trọng trách đối với thế giới. Thánh Augustin đã nhìn thấy linh hồn như một cái "tôi", cái tôi ý thức, suy tưởng và ước muốn. Nhưng cho đến triết học cận đại người ta mới áp dụng được tư tưởng này một cách phong phú. Với thách đố của vũ trụ đối với triết học, vai trò của linh hồn cũng "đổi khác"; sự đối lập giữa linh hồn và thân xác nhường chỗ cho sự đối lập giữa ý thức (conscience) về các sự vật bên trong và ý thức về các sự vật bên ngoài. Mối tương quan giữa linh hồn và thế giới vật thể phải được xác định theo cách thức cái tôi tư tưởng về thế giới bên ngoài. Như thế vấn để siêu hình về mối tương quan giữa linh hồn và thân xác nhất thiết trở thành vấn đề nhận thức : Làm sao chúng ta có thể nhận thức được thế giới ở bên ngoài ý thức ?

Descartes đã đặt ra một vấn đề mà triết học cận đại không còn có thể bỏ qua được nữa : vấn đề "ý thức". Vấn đề này, để cho cách thức lý luận được trọn vẹn hơn, lại bắt người ta phải lùi lại để đặt vấn đề về chính nó. Thế là vấn đề "phê bình" (critique, khoa phê bình để duyệt chính khả năng nhận thức của tư tưởng) được đặt ra để làm sáng tỏ những nền tảng của tri thức. Khám phá này rất có ý nghĩa trong dòng lịch sử triết học; nhưng phải chăng nó cũng "góp phần" làm cho người ta quên mất vấn đề hữu thể, như Heiddegger đã tố cáo ? ( Heidegger tố cáo cả triết học Trung Cổ lẫn triết học Cận Đại.)

3. Tầm Quan Trọng của Phương Pháp

Để tìm hiểu thế giới, trước hết người ta phải khởi đi từ việc tìm hiểu về khả năng của con người, về ý thức của con người; và người ta ước muốn vạch ra một con đường từ lý trí hiểu biết đến các sự vật của thế giới. Mặt khác, đối diện với khoa học về thiên nhiên, và đối diện với một tinh thần suy phục như thế, người ta cũng phải "chơi phong cách của khoa học". Điều đó đã dần dần hình thành nên một phong cách của nền triết học cận đại : chú trọng đến phương pháp. Đây là một điểm đặc trưng của triết học cận đại, từ Descartes cho đến Kant. Các triết gia thời kỳ này cho rằng mình khác với các triết gia đi trước và vượt cao hơn họ chính là nhờ phương pháp.

Phong cách của khoa học trở thành "khuôn vàng thước ngọc" cho mọi khoa khác. Trong triết học người ta cũng muốn tìm một phương pháp đạt đến tri thức có giá trị mọi nơi mọi lúc. Phương pháp của khoa học bấy giờ chính là phương pháp của khoa vật lý và toán học.

Khoa hình học bấy giờ là một khuôn mẫu lý tưởng. Các chứng minh của khoa hình học được nối kết từng bước với nhau cách chặt chẽ. Như thế, vấn đề chính yếu của phương pháp là phải khám phá ra những "nguyên lý vững chắc" và nhứng "ý niệm rõ ràng". Nếu tìm được những nguyên lý và những ý niệm căn bản, chúng ta sẽ đạt được một hình ảnh rõ ràng và phân minh (nette et distincte) về các vấn đề của triết học. "Rõ ràng" và "sáng sủa" (clarté et netteté), đó là tiêu chuẩn của chân lý, người ta tin như thế; và sai lầm chính là sự hàm hồ và tối tăm, là do một quan niệm hàm hồ và những nguyên tắc không chắc chắn. Tìm được những ý niệm và nguyên lý như thế, người ta cũng có thể diễn dịch để hiểu được độ thực tại.

Từ đó, người ta dễ đi đến chỗ áp dụng những phương pháp của khoa Vật Lý, của Toán Học vào cả những lãnh vực, theo nghĩa hẹp, không thuộc về "thiên nhiên".

4. Bản chất của thế giới tinh thần là tư tưởng

Mục tiêu của triết học là tìm một hình ảnh rõ ràng và sáng sủa về thực tại. Điều đó, trong thế giới vật chất, đã được thực hiện bằng khoa học; còn đối với triết học, vũ trụ thực tại không chỉ là vật chất mà còn bao gồm thế giới tinh thần, bao gồm linh hồn và Thiên Chúa nữa. Như thế, cần phải tìm một yếu tố, dựa vào các ý niệm rõ ràng và sáng sủa, để giải thích mối tương quan giữa linh hồn và Thiên Chúa cũng như mối tương quan giữa linh hồn với thân xác. Yếu tố căn bản của thực tại này được các triết gia thời đại này đặt tên là "bản chất" (substances; res). Đây là một thứ nguyên chất sơ bản của các sự vật trong vũ trụ. Cũng như đối với thế giới vật chất và dựa theo những phương pháp khoa học cũng như so sánh với thế giới vật chất, người ta cũng khám phá ra bản chất của thế giới tinh thần chính là "tư tưởng" (la pensée); tư tưởng là bản chất của linh hồn giống như một sự vật trong thế giới vật thể.

5. Ý Niệm Nguyên Nhân

Những các bản chất này không chỉ hiện hiện mà còn tác động nữa. Hình ảnh toàn thể thực tại không phải là một hình ảnh tĩnh mà là một thực tại đang chuyển mình. Do đó, người ta thấy rằng các bản chất, và trong mối tương quan của các bản chất đó với nhau, còn là nguyên nhân của các hoạt động nữa. "Nguyên nhân" (cause) và "hiệu quả" (effet) trong hoạt động của linh hồn cũng hoạt động tương tự như trong thế giới vật thể vậy. Nếu chúng ta biết được các bản chất nguyên sơ nhất, thì chúng ta cũng biết mối tương quan giữa chúng với nhau, và do đó, biết cách thức chúng tác động lẫn nhau.

Hai ý niệm căn bản được sử dụng thừơng xuyên và khắp nơi trong các triết học của thế kỷ XVII và XVIII là "bản chất" và "nguyên nhân" (substance et cause; hoặc substantialité et causalité).

Việc đi tìm nguyên chất sơ bản của sự vật dẫn đến thái độ phân tách (analyse); nhưng để hiểu được sự vật trong tính cách duy nhất của chúng, ta lại phải đi đến tinh thần tổng hợp (synthèse). Những điều này hoạt động tương tác với thái độ đề cao phương pháp làm cho triết học của thời đại này lại càng trở nên giống với khoa học hơn, nếu không muốn nói là phụ thuộc vào khoa học.

6. Thiên Chúa vô hạn

Thiên Chúa không còn là siêu việt hay huyền nhiệm, nhưng được diễn tả bằng những khái niệm của tâm trí con người. Thiên Chúa khác với thế giới vũ trụ, tinh thần và vật thể ở chỗ Ngài là Vô Cùng; các sự vật khác thì hữu hạn. Trong thời Phục Hưng, các triết gia đã nhận ra khái niệm vô cùng có một vai trò quan trọng, nhưng các triết gia Phục Hưng chỉ mới "cảm" thấy điều đó và cố gắng có một quan niệm vô cùng dựa theo sự so sánh, thì ở đây, ý niệm này được đặt trong mảnh đất của những "ý niệm rõ ràng và phân minh".

II. Những giai đoạn chính

Lịch sử triết học cận đại có thể được đánh dấu bằng những chặng đường chính, gắn liền với những khuôn mặt lớn : Descartes, Kant, Hegel và Marx. Sự xuất hiện của những nhân vật này đánh dấu một bước chuyển mình của lịch sử triết học.

1. R. Descartes [1596-1650]

Trước Descartes, nỗ lực của triết học, nói chung còn bận tâm đi tìm bản tính vĩnh cửu, vững bền của muôn vật. Người ta còn bận tâm để tìm hiểu vũ trụ hơn là làm chủ nó; khoa vật lý chẳng hạn chỉ là một thứ siêu hình về vũ trụ. Những kiến thức như thế không phải là sai hoặc không quan trọng; nhưng dù sao chúng chưa làm thỏa mãn khả năng còn rất phong phú của con người.

Descartes xuất hiện với chủ trương hết sức táo bạo : vũ trụ chỉ là trương độ và chuyển động. Điều đó mở đường cho khoa vật lý mới, mở đường cho những khám phá quan trọng của Newton, mở đường cho những tiến bộ kỹ thuật giúp cải thiện đời sống con người.

2. E. Kant [1724-1804]

Kant thì lại thực hiện được một "cuộc cách mạng Corpernic", do việc đưa trung tâm của tri thức vào trong con người chứ không còn phải là một thứ "duy nhiên" nữa. Với Kant, người ta thấy giới hạn của tri thức siêu hình theo kiểu "giáo điều", và cũng thấy được hết tầm quan trọng của những "khả năng" riêng biệt của con người : những phạm trù, phán đoán, tự do, .....

3. F. Hégel [1770-1813]

Tuy thế, cho đến lúc này, thế giới vẫn là một thế giới tĩnh; thế giới đó tuy không còn mang một bản chất siêu hình ngàn đời như triết học trước Descartes; nhưng nó vẫn còn có những cơ cấu cố định. Hégel đã trình bầy thế giới theo một quá trình biện chứng, với những đề, phản đề và hợp đề liên tiếp nhau. Nói cách khác, thế giới và con người từ nay được đặt trong diễn tiến của một quá trình lịch sử. Cách nhìn đó chắc chắn làm thay đổi bộ mặt của thế giới rất nhiều.

Tiếp nối công trình của Hégel, Marx [1818-1883] cho thấy một thế giới không ngừng vận động, nó đang hình thành trong thời gian, trôi đi cùng với thời gian. Con người trong thế giới này, từ đây, là những con người cụ thể, nhập cuộc, làm chủ vận mệnh của mình nhờ bắt tay cải tạo thế giới. Con người hiện diện trong dòng lịch sử và góp phần của mình để tạo nên lịch sử. [Công trình của Marx sẽ được nói đến trong phần triết học hiện đại].

Kết

Làm sao và nhờ phương tiện nào chúng ta đạt đến được chân lý ? Câu hỏi đó là câu hỏi chảy ngầm trong suốt dòng lịch sử triết học cận đại, để hình thành nên những giải đáp đối lập nhau : duy lý, duy nghiệm, duy tâm [ở đây là duy tâm nhận thức luận hay “duy tâm chủ quan”]. Rồi những “phương tiện” khác nhau như thế lại đưa đến những kết quả khác hết sức khác biệt nhau : duy vật và duy tâm (ở đây là duy tâm hữu thể luận hay “duy tâm khách quan”)...

Những điều đó đã tạo nên những ấn dấu lịch sử mà những nền triết học đi sau không thể nào bỏ qua.

Tất cả những đặc tính chung của nền triết học cận đại, chúng ta đều thấy có mặt trong học thuyết của Descartes, người đã hình thành một phương pháp toán học trong triết học, đề cao tầm quan trọng của ý thức, xác định bản chất của linh hồn cũng như bản chất của thế giới vật thể... Ông được coi là người sáng lập ra nền triết học mới vậy. Tuy nhiên, công trình này không phải của riêng Descartes. Còn một nhân vật nữa cũng góp phần quay hướng triết học, thay vì để phục vụ tôn giáo, nhằm để phục vụ đời sống con người, đó là Francois Bacon. Các sử gia đã tranh luận không biết phương pháp diễn dịch của Descartes hay phương pháp qui nạp của Bacon đã ảnh hưởng nhiều hơn tới thời cận đại này.

Nói chung, chúng ta có thể công nhận rằng, trong khi Descartes canh tân tinh thần siêu hình, thì Bacon đã mang lại niềm hứng khởi cho trào lưu thực nghiệm mang tính chất Anh Quốc. Trước khi nói tới Descartes, chúng ta cũng cần nói về Francois Bacon đã.