Bài 2: NICOLAS DE CUSE (1401-1464)

Nicolas de Cuse, tên thật là Nicolas Krebs, sinh năm 1401 tại Cuse hay Cues, gần Trèves. Ông học tại Heidelberg, gần Padoue. Chịu chức linh mục năm 1431, ngài hoạt động nổi tiếng tại công đồng Bale (1432-1439). Ngài cũng nhiều lần làm đặc sứ của giáo hoàng trong những sứ vụ quan trọng và ngài nhập cuộc vào tất cả những công việc của Giáo Hội trong thời kỳ hỗn loạn này. Được phong chức hồng y năm 1448, làm giám mục tại Brixen, trong miền Tyrol, năm1450, tổng đại diện của tòa Thánh Roma năm 1458, ngài qua đời năm 1464. Những tác phẩm chính của ngài là: De docta ignorantia, L' Idiota, và De venatione sapientiae.

1. Tiểu Sử

Nicolas de Cuse, tên thật là Nicolas Krebs, sinh năm 1401 tại Cuse hay Cues, gần Trèves. Ông học tại Heidelberg, gần Padoue. Chịu chức linh mục năm 1431, ngài hoạt động nổi tiếng tại công đồng Bale (1432-1439). Ngài cũng nhiều lần làm đặc sứ của giáo hoàng trong những sứ vụ quan trọng và ngài nhập cuộc vào tất cả những công việc của Giáo Hội trong thời kỳ hỗn loạn này. Được phong chức hồng y năm 1448, làm giám mục tại Brixen, trong miền Tyrol, năm1450, tổng đại diện của tòa Thánh Roma năm 1458, ngài qua đời năm 1464. Những tác phẩm chính của ngài là: De docta ignorantia, L' Idiota, và De venatione sapientiae.

2. Tư Tưởng

Nói chung, triết lý của Nicolas de Cuse là một suy tư phê bình về khả năng và giá trị của lý trí. Đây là một trong số những đề tài chính của ngài :

1/ Lý trí có đối tượng là những hữu thể hữu hạn, tức các tạo vật thuộc lãnh vực kinh nghiệm. Lý trí hiểu những hữu thể đó không phải bằng cách trừu xuất yếu tính, nhưng bằng cách nối kết chúng trong một hệ thống những liên hệ toán học. Như vậy, hoạt động đầu tiên của lý trí là đo lường. Từ đó, nhờ tính toán, lý trí có được một hiểu biết càng ngày càng gần với các sự vật hơn. Đó là điều Nicolas de Cuse gọi là "conjecture" (phỏng đoán). Từ ngữ này có nghĩa là, không phải là kiến thức toán học không chắc chắn, nhưng kiến thức đó không ngang bằng, nó vẫn cần được tiến gần hơn. Quả thực, không bao giờ lý trí có thể hiểu thấu một vật nào trong các đối tượng của nó; bởi vì một cá vật, cho dù là hữu hạn, vẫn có một tính chất nào đó là vô cùng : đó là một "Infini contracté" (vô hạn được giản lược).

2/ Tất cả mọi kích thước đều giả thiết một sự duy nhất. Mỗi trật tự thực tại đều có sự duy nhất riêng biệt của nó. Nhưng sự duy nhất tuyệt đối, phổ quát, không thể là một tạo vật. Đơn Nhất là Thiên Chúa, Ngài vô hạn. Như vậy, lý trí tìm đến Thiên Chúa như nguyên lý của tất cả mọi kích thước, như là điều kiện làm cho kích thước có thể có được. Đơn nhất là nguyên lý của mọi kích thước, nhưng chính Đơn Nhất, và chỉ một mình Đơn Nhất lại thoát khỏi mọi kích thước. Nói cách khác lý trí không thể áp dụng vào Thiên Chúa những phương pháp của mình, và do đó lý trí không thể hiểu Thiên Chúa. Khi lý trí muốn thử làm điều đó, lý trí sẽ đặt ra những xác quyết mâu thuẫn mà tất cả đều đúng. Điều đó nghĩa là nói rằng lý trí bị tiêu hủy trong những đối lập không thể hòa giải được. Đó là điều Nicolas de Cuse gọi là "sự trùng hợp của những đối lập" (coincidence des opposés).

Và bởi vì, tự căn bản, lý trí không có khả năng hiểu được Thiên Chúa, nên lý trí cũng không có khả năng hiểu trọn vẹn các tạo vật: như chúng ta đã thấy, lý trí chỉ có một sự hiểu biết phỏng đoán. Thực vậy, Thiên Chúa hàm chứa, bao gồm tất cả mọi hoàn hảo trong sự duy nhất vô cùng của Ngài : Tất cả mọi sự ở nơi ngài, và Ngài là tất cả trong những sự vật ấy. Các tạo vật là những diễn tả khác nhau về Thiên Chúa, chúng "giải thích" vô hạn, mỗi vật theo cách thế riêng của mình. Như vậy, các tạo vật đồng thời vừa hữu hạn, vừa vô hạn. Do đó, khi lý trí khám phá các tạo vật từ một quan điểm siêu hình, lý trí lại gặp phải sự trùng hợp của những đối lập, và sẽ mất hút trong những đối kháng.

3/ Tuy nhiên, lý trí không phải là chức năng duy nhất của tinh thần con người. Vượt trên những lý lẽ suy luận, còn có trí hiểu là một trực giác. Trí hiểu là chính tinh thần, là gốc rễ và là điểm đạt tới của lý trí. Trí hiểu có thể chính là tinh thần được nâng cao nhờ ân sủng, được thiết lập trong Đức Tin và mở ra tới kinh nghiệm thần bí. Tuy nhiên, vai trò của trí hiểu là nhận thức Thiên Chúa, Đấng Duy Nhất, Đấng vô hạn, và nhận thức cách thế những đối lập trùng hợp nơi Ngài. Tuy nhiên, việc chiêm ngắm này không phải là một cái nhìn của Thiên Chúa. Nó còn mờ tối, nó là sự hoàn toàn không hiểu biết, vượt qua tất cả mọi ý niệm, trong bóng đêm của sự không hiểu biết, "Deus incompréhensibiliter intelligitur".

Như vậy, khôn ngoan là sự ngu dốt thông thái. Là ngu dốt, bởi vì tất cả những gì con người có thể biết và hiểu đều phát xuất từ hoạt động theo kiểu toán học của lý trí. Nhưng khôn ngoan là thông thái, trước hết, vì khôn ngoan ý thức về sự ngu dốt của mình và biết những lý do của sự ngu dốt đó; tiếp đến, theo chiều hướng này, khôn ngoan càng thực sự là thông thái vì nó nhằm đối tượng là Thiên Chúa.