CHƯƠNG I: NHỮNG TRIẾT GIA ĐẶT NỀN (tt).
Tính cách mới mẻ của triết học Descartes tạo nên một tiếng vang rộng lớn. Descartes trở thành "triết gia thời thượng", các nhà văn cũng như các nhà triết học thời đại của ông đều ít nhiều chịu ảnh hưởng của ông.
Bài 7: CÁC TRƯỜNG PHÁI TRIẾT HỌC SAU-DESCARTES
Tính cách mới mẻ của triết học Descartes tạo nên một tiếng vang rộng lớn. Descartes trở thành "triết gia thời thượng", các nhà văn cũng như các nhà triết học thời đại của ông đều ít nhiều chịu ảnh hưởng của ông.
P. Gassendi (1592-1655), một kinh sĩ, theo thuyết duy cơ của Descartes. Cuối thế kỷ XVII, trường phái Platon ở Cambridge, với đại biểu là John Smith (1616-1652), Henry More (1614-1687), Ralph Cudworth (1617-1688), cũng theo Descartes, tuy không đồng ý với ông một số điểm. Descartes còn có một số đồ đệ nhiệt tâm như : A. Geulinck (1625-1669) đem dạy học thuyết Descartes ở đại học Louvain; Claubert (1622-1665) truyền bá học thuyết Descartes sang Đức, và K. Digby (1603-1665) truyền bá sang Anh quốc (Xc Thonnard, Sđd, trang 495-496.).
Tuy nhiên, không thiếu học giả dè dặt với Descartes như Fénélon (1651-1715) và Bossuet (1627-1704); Giám mục Daniel Huet (1630-1721) thì chống Descartes và theo thuyết Duy Tín (fidéisme). Rồi cũng có những đối thủ chống đối mạnh mẽ học thuyết Descartes, nhất là các linh mục Dòng Tên. Năm 1662, Dòng Tên đã vận động thành công việc xếp các tác phẩm của Descartes vào Index ; sau đó, Dòng Tên cũng thuyết phục được Vua Louis XIV ra lệnh cấm dạy học thuyết Descartes trong các trường đại học Paris và Angers.
Ngược lại, Descartes lại được đón nhận và triển khai mạnh mẽ trong nhóm những "kẻ thù tôn giáo" của Dòng Tên, đó là phe Jansénisme, với trung tâm là tu viện Port-Royal. Antoine Arnauld (1612-1694), một học giả theo Jansénisme, và Pierre Nicole (1625-1695) đã đưa ra một thứ luận lý của Port-Royal, triển khai phương pháp của Descartes.
Riêng Blaise Pascal (1623-1662) một nhân vật khá đặc biệt có thể kể sóng đôi với Descartes. Ông vừa chịu ảnh hưởng nhiều của Descarters, vừa cũng là một thành viên Jansénisme; vừa tin vào nhứng ý tưởng rõ ràng, sáng sủa; tuy vậy, "con Tim có lý lẽ riêng của nó".
Cách chung, bởi vì học thuyết Descartes mang tính cách nhị nguyên (Dualisme), tách biệt thế giới tinh thần và vật chất; phân cách hồn-xác, lý trí và cảm giác trong con người, nên những triết gia đi sau cùng "chia sẻ", chia cắt phần gia sản đã sẵn rạn nứt ngay từ Descartes đó, thành hai khuynh hướng hoàn toàn đối lập nhau :
* Chủ Nghĩa Duy Lý (rationalisme) đặt tất cả tin tưởng vào lý trí, quay vào trong tinh thần và tìm chân lý trong những ý tưởng sáng sủa, rõ ràng.
* Chủ nghĩa Duy Nghiệm (empirisme), và trong cùng chiều hướng ấy, còn có phái duy cảm (sensualisme), ngược lại, gạt bỏ tính cách tiên thiên (a priori) của tư tưởng, phủ nhận tri thức trừu tượng, chỉ công nhận những sự kiện đến với giác quan. Vì vậy, duy nghiệm chủ trương phải trung thành với kinh nghiệm của đời sống và đó là phương cách duy nhất để đạt tới chân lý. Chính lý trí cũng chỉ là những kết quả của kinh nghiệm mà thôi. Phái này cũng biến thành Chủ nghĩa duy kiện hay thực-chứng-thuyết (positivisme) ở thế kỷ XIX.
* * *
Trước hết, chúng ta sẽ nói đến Blaise Pascal để hiểu được phản ứng duy lý của Descartes không phải dòng chảy duy nhất từ nguồn mạch của triết học từ thời Phục Hưng. Blaise Pascal, tuy vẫn nằm trong một thời đầy tinh thần khoa học, nhưng lại khơi nguồn một tinh thần nhân văn đặc biệt, đến nỗi người ta có thể xếp ông vào số các ông tổ xa của triết học Hiện Sinh. Sau đó, chúng ta trình bày một số đại biểu của hai trào lưu Duy Lý, Duy Nghiệm.