Nguồn mạch luân lý mới

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Trong cuộc sống con người, có nhiều sinh hoạt người ta vẫn thực hiện, nhưng thật ra chỉ là những dị vật trong quỹ đạo sinh hoạt của một con người. Những sinh hoạt ấy không gắn liền vào được “mạch máu” của cuộc đời. Để rồi khi xẩy ra tình huống khác thường, những dị vật ấy sẽ bị loại ra khỏi quỹ đạo sống. Những sinh hoạt ấy không trở thành một đời sống, nghĩa là không có một sự tăng trưởng đúng như qui luật của đời sống đích thực. Việc học hành, hoặc ngay cả một mảnh bằng tiến sĩ, nhưng không trở thành đời sống trí thức, thì chỉ là những kiến thức chết, chẳng nuôi dưỡng hoặc soi sáng gì cho những lãnh vực khác của đời sống con người ấy. Một đời sống, nghĩa là một sự sống có tiến trình tăng trưởng, có khả năng hút lấy nhựa sống và có khả năng sinh hoa trái phong phú. Một hành vi hoặc một cung cách của tôn giáo chưa hẳn là dấu hiệu của đời sống tâm linh, nhưng có thể là những sinh hoạt “dị vật” trong tâm hồn, nghĩa là ngoài những giờ sinh hoạt như thế, những nội dung của sinh hoạt tôn giáo ấy không hề dính dáng gì tới tâm hồn và liên hệ với những vấn đề khác trong đời sống của người ấy. Có thể có những người đã chu tòan rất kỹ lưỡng những sinh hoạt tôn giáo, những ngoài giờ sinh hoạt ấy, mọi suy nghĩ, tính toán, quyết định hoặc những giá trị hướng dẫn đời sống của người ấy chẳng có dính dáng gì đến đức tin, thì đó cũng chỉ là những dị vật trong cuộc sống của con người ấy. Rất nhiều người tín hữu Công giáo Việt Nam giữ đạo nhưng không sống đạo, những người ấy chu toàn những sinh hoạt của đời sống luân lý Kitô giáo như một sự đối phó đối với Chúa, Chúa buộc làm điều gì thì làm điều đó, Chúa không cho làm điều gì thì không làm điều đó.

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

__________________

1. Lối sống đối phó quanh mức trung bình cộng

Trong cuộc sống con người, có nhiều sinh hoạt người ta vẫn thực hiện, nhưng thật ra chỉ là những dị vật trong quỹ đạo sinh hoạt của một con người. Những sinh hoạt ấy không gắn liền vào được “mạch máu” của cuộc đời. Để rồi khi xẩy ra tình huống khác thường, những dị vật ấy sẽ bị loại ra khỏi quỹ đạo sống. Những sinh hoạt ấy không trở thành một đời sống, nghĩa là không có một sự tăng trưởng đúng như qui luật của đời sống đích thực. Việc học hành, hoặc ngay cả một mảnh bằng tiến sĩ, nhưng không trở thành đời sống trí thức, thì chỉ là những kiến thức chết, chẳng nuôi dưỡng hoặc soi sáng gì cho những lãnh vực khác của đời sống con người ấy. Một đời sống, nghĩa là một sự sống có tiến trình tăng trưởng, có khả năng hút lấy nhựa sống và có khả năng sinh hoa trái phong phú. Một hành vi hoặc một cung cách của tôn giáo chưa hẳn là dấu hiệu của đời sống tâm linh, nhưng có thể là những sinh hoạt “dị vật” trong tâm hồn, nghĩa là ngoài những giờ sinh hoạt như thế, những nội dung của sinh hoạt tôn giáo ấy không hề dính dáng gì tới tâm hồn và liên hệ với những vấn đề khác trong đời sống của người ấy. Có thể có những người đã chu tòan rất kỹ lưỡng những sinh hoạt tôn giáo, những ngoài giờ sinh hoạt ấy, mọi suy nghĩ, tính toán, quyết định hoặc những giá trị hướng dẫn đời sống của người ấy chẳng có dính dáng gì đến đức tin, thì đó cũng chỉ là những dị vật trong cuộc sống của con người ấy. Rất nhiều người tín hữu Công giáo Việt Nam giữ đạo nhưng không sống đạo, những người ấy chu toàn những sinh hoạt của đời sống luân lý Kitô giáo như một sự đối phó đối với Chúa, Chúa buộc làm điều gì thì làm điều đó, Chúa không cho làm điều gì thì không làm điều đó.

Nguyên nhân của lối sống đối phó với Chúa, hoặc nói chung là những sinh hoạt dị vật như thế có lẽ là vì người ta đã không bắt được mối liên hệ gặp gỡ thực sự với Chúa. Đời sống đức tin chỉ dính dáng với luật, tuân giữ những điều Chúa dạy như những sự vật. Lối sống ấy không có sự gắn bó với bản thân Chúa, nên chẳng phải là một niềm tin chân chính. Lối sống ấy càng không phải là một đời sống mới của Tân Ước, vì không có tự nguyện, không có nghĩa tình, không có mắc nợ nghĩa tình và dâng tặng… Đời sống đức tin lệch lạc như thế chỉ đưa đến một đời sống luân lý quẩn quanh trên dưới mức trung bình cộng, không thể mời gọi con người vươn lên đến tuyệt đối.

Nguyên nhân sâu xa là vì lối sống ấy chỉ so chiếu đời mình vào sự vật. Mối tương quan lệch lạc của tội tổ tông làm cho con người không còn dễ dàng thật sự dấn thân vị ai khác, nhưng luôn bị cám dỗ dấn thân vì chính mình. Khi người ta tha thiết với một điều gì đó, nhưng không phải là “ai khác”, thì đó chỉ là một sự dấn thân cho sự vật, và cuối cùng đó chính là một sống dấn thân cho chính mình; nghĩa là không ra khỏi được chính mình, không

Ta thấy được một đời sống tôn giáo có tính đối phó với Chúa, trở thành một dị vật, một phần của sự sống đã chết và chỉ còn bám vào cơ thể một cách tùy phụ; đời sống ấy dĩ nhiên chỉ có thể quẩn quanh mức độ trung bình cộng, chứ thực sự không thể sinh hoa trái.

2. Điều răn mới của Chúa Giêsu

Chúa Giêsu nhiều lần nói rằng cuộc sống các môn đệ phải trổ sinh hoa trái. Chúa Giêsu muốn đưa cuộc sống con người đi xa hơn, đúng hơn là lên cao hơn tới Chúa. Chúa Giêsu không muốn đời sống luân lý của con người cứ mãi quẩn quanh ở mức trung bình cộng.

Người ta thường toát lược đạo Kitô giáo là “mến Chúa yêu người” dựa theo đoạn văn Mt 22, 34-40 :

”Đức Giê-su đáp : "Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là : " Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Tất cả Luật Mô-sê và các sách ngôn sứ đều tuỳ thuộc vào hai điều răn ấy." (Mt 22, 37-40)

Thật ra, trong trình thuật Kinh Thánh nói trên, Chúa Giêsu chỉ mới giải thích Cựu Ước bằng cách nêu lên một ý nghĩa căn bản, ý nghĩa yêu thương. Tuy nhiên, đó chưa phải là tất cả ý nghĩa của đời sống mới trong Nước Trời. Bởi vì, hai giới răn đó vẫn mới chỉ dính dáng tới nhau trong một ý nghĩa trừu tượng theo kiểu của người Hy Lạp, nghĩa là cùng là giới răn yêu thương. Mặt khác, yêu thương tha nhân như chính mình, thì vẫn chưa phải mức độ cao nhất của tình yêu thương. Việc lý giải Cựu Ước của Chúa Giêsu trong trình thuật này mới chỉ là một bước chuẩn bị để đi đến giới răn mới. Giới răn mới của Tân Ước chính là :

“Đây là điều răn của Thầy : anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình”. Ga (15, 12-13)

Giới răn của Chúa là giới răn mới, giới răn duy nhất, nhưng đó là giới răn thu hợp và hoàn thành tất cả Cựu Ước. Trong giới răn mới của Chúa Giêsu, ta thấy có một nguồn mạch mới nối kết sống động giữa chiều dọc và chiều ngang của giới luật yêu thương : chữ “như” trong Tin Mừng ở đây diễn tả nguồn gốc mang lại sức sống cho việc giữ giới răn, đó chính là tình yêu của Chúa Giêsu tràn xuống các môn đệ. Trong giới răn mới, tình yêu thương đối với tha nhân không phải chỉ là “như chính mình”, nhưng là “chết cho bạn hữu”.

Giới răn mới của Chúa Giêsu đưa người Kitô hữu vào một nẻo đường siêu việt, nẻo đường của cái “bất khả thi” đối với sức của con người, nhưng chính điều đó lại thúc bách người Kitô cần tìm lại nguồn mạch sống đích thực của Nước Trời, đó chính là nguồn mạch tình yêu lớn lao của Thiên Chúa được bày tỏ trong cuộc tử nạn của Chúa Giêsu.

Như thế, đời sống của người Kitô hữu được đặt lại một cách rõ ràng trong mối giây “liên kết ngôi vị”, sống vì Ai khác chứ không phải sống vì sự vật, hoặc sống vì chính mình. Ai khác đây chính là Chúa Giêsu, một Chúa Giêsu dám chết cho chính mình và mời gọi mình cũng dám chết cho bạn hữu. Người Kitô hữu không còn được quyền chọn thái độ sống quanh quẩn trên dưới mức trung bình cộng. Trong ý nghĩa của điều răn mới, người Kitô hữu không còn có thể đổ lỗi cho người khác, dù là tội lỗi của người khác có lớn đến đâu. Vì đó chỉ là cách để tự bào chữa cho thái độ muốn trốn tránh, muốn giải quyết vấn đề tương quan với người khác trong mức độ giới hạn của toan tính con người.

3. Sống bằng ơn Chúa Thánh Thần

Đời sống mới trong Chúa Giêsu là điều không thể làm được nếu không có Thánh Thần của Chúa Giêsu. Việc lãnh nhận Thần Khí Nghĩa Tử không phải là một hồng ân thêm vào cho đời sống của người Kitô hữu, không phải là một thứ xa sỉ phẩm dành riêng cho một số người, nhưng chính là hồn sống, là nguyên lý sống căn bản của đời sống đức Tin Kitô giáo. Thánh Thomas đã chủ trương rằng nguyên lý của đời sống đức Tin Kito giáo là ơn Chúa Thánh Thần.

“Yếu tố chính của Luật mới là hồng ân Chúa Thánh Thần, hồng ân này được tỏ lộ trong đức tin hành động qua đức ái” (ST Ia-II, q. 108, a.67)

Tuy vậy, cách trình bày đời sống luân lý trong Giáo Hội hiện nay thì thường dựa trên bộ khung căn bản của Thập Điều. Dĩ nhiên là những sách luân lý ấy vẫn cố gắng vượt qua giới hạn của Thập Điều để hướng tới điều răn mới của Chúa Giêsu, nhưng trong thực tế của đời sống đức Tin, thực tế của đời sống đạo nơi phần lớn người Kito hữu, hoặc nơi phần lớn những giáo huấn được thông truyền trong các lớp giáo lý một thứ phẩm chất của Cựu Ước nhiều hơn là tinh thần của giới răn mới.

Cái gì là cứu cánh thì cũng là nguyên lý. Cứu cánh của đời sống Kito hữu là được đồng thừa tự với Chúa Giêsu để làm con của Chúa Cha, Cứu cánh ấy chỉ có thể đạt đến được nhờ chính sức sống mới của Thần Khía Nghĩa Tử được thông ban cho người Kitô hữu.

Thánh Thần mở ra một chân trời mới của vận mạng con người. Vận mạng con người không còn là một thái độ suy tính, do dẫm để to vẽ cho bản thân mình, nhưng là dám lao mình vào chân trời của mình yêu thương với Chúa, lao mình vào với tất cả niềm khát vọng tuyết đối, với tất cả niềm tin dám “nắm đằng lưỡi”, với giao ước bản thân và trao phó trọn vẹn đời mình trong cuộc phiêu lưu vì Nước Trời.