TRIẾT HỌC VÀ LÒNG THƯƠNG XÓT - PHẦN 2 (Phần cuối)

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Nếu như sứ điệp về một Thiên Chúa thương xót là nét đặc trưng của Do Thái-Kitô, thì lòng cảm thông, một khái niệm gần tương đương với lòng thương xót, đã được không ít các triết gia đề cập đến, hoặc ủng hộ hoặc chê bai, Từ Platon, Aristote, Khắc Kỷ... của thời Thượng Cổ; cho đến J.J Rouseau, Lessing, đặc biệt là Kant, Schopenhauer. Lòng thương cảm cũng được đề cập khá nhiều, cách này cách khác, trong triết học thế kỷ XX và XXI như M. Buber, các triết gia thuộc trường phái Francfort, Walter Schulz, E. Levinas.... Nói chung, không phải chỉ có Schopenhauer phản đối lại Kant, nhiều trào lưu triết học khác, đặc biệt là trào lưu hiện tượng luận cũng không chấp nhận lối nhìn duy tâm, chủ nghĩa mô hình của Kant, nên tìm một cách thức khác để giải đáp vấn đề tha nhân. Có lẽ trào lưu hiện tượng luận từ E. Husserl, M. Scheler và thánh nữ Edith Stein, học trò của Husserl, đã để lại cho triết học mối ưu tư về việc lý giải sự hiện hữu của tha nhân. E. Stein viết cuốn Le Problème de l' Empathie (vấn đề thấu cảm). "Thấu cảm", hay "tha-giác", được coi như khả năng đặt mình vào hoàn cảnh của tha nhân để có thể hiểu được tha nhân....

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

__________________

2.2 "Thấu cảm" (empathie) như nẻo đường đi vào "câu chuyện đời" của ngã vị

Nếu như sứ điệp về một Thiên Chúa thương xót là nét đặc trưng của Do Thái-Kitô, thì lòng cảm thông, một khái niệm gần tương đương với lòng thương xót, đã được không ít các triết gia đề cập đến, hoặc ủng hộ hoặc chê bai, Từ Platon, Aristote, Khắc Kỷ... của thời Thượng Cổ; cho đến J.J Rouseau, Lessing, đặc biệt là Kant, Schopenhauer. Lòng thương cảm cũng được đề cập khá nhiều, cách này cách khác, trong triết học thế kỷ XX và XXI như M. Buber, các triết gia thuộc trường phái Francfort, Walter Schulz, E. Levinas.... Nói chung, không phải chỉ có Schopenhauer phản đối lại Kant, nhiều trào lưu triết học khác, đặc biệt là trào lưu hiện tượng luận cũng không chấp nhận lối nhìn duy tâm, chủ nghĩa mô hình của Kant, nên tìm một cách thức khác để giải đáp vấn đề tha nhân. Có lẽ trào lưu hiện tượng luận từ E. Husserl, M. Scheler và thánh nữ Edith Stein, học trò của Husserl, đã để lại cho triết học mối ưu tư về việc lý giải sự hiện hữu của tha nhân. E. Stein viết cuốn Le Problème de l' Empathie (vấn đề thấu cảm). "Thấu cảm", hay "tha-giác", được coi như khả năng đặt mình vào hoàn cảnh của tha nhân để có thể hiểu được tha nhân....

Đức Hồng y W.Kasper, tóm kết phần tiếp cận triết học với nhận định :

"Để kết luận, ta có thể xác nhận rằng những phân tích hiện tượng luận mà chúng ta vừa kể ra đã đi đến điểm mà chúng ta đặt câu hỏi cần phải vượt qua. Ta có thể nói đến một tiếng "De profundis" (Từ vực thẳm). Vì những bản phác thảo này đưa ra ánh sáng một khó khăn nan giải - một vấn đề tranh cãi không giải pháp - trong đó tư tưởng bị khóa lại, và chúng chỉ ra sự cần thiết của một câu trả lời mà suy tư của con người, theo bản tính của nó, không thể một mình tìm thấy được. Thực sự lòng thương xót, theo định nghĩa, là một hành động tuyệt đối tự do, có thể tự do chấp nhận hay từ chối. Khi thực hiện nỗ lực suy tư cuối cùng, có thể buộc phải đặt ra định đề về lòng thương xót và khẳng định rằng diễn từ Kitô giáo về lòng thương xót, trong hạt nhân con người của mình, giới thiệu một câu trả lời hữu ích và đầy đủ ý nghĩa cho tình trạng con người : dù sao điều náy đáng để tranh luận"

2.3 Vài nét về lòng thương cảm Kitô giáo

* Nẻo đường chiến thắng hư vô của Sách Thánh

Quả thực, nếu ta không chấp nhận được lập trường của Schopenhauer trong căn bản, thì cũng phải công nhận rằng những ghi nhận và phân tích của ông về thế giới và con người có một phần sự thật không nhỏ. Có một sức mạnh nghiệt ngã của một thứ quy luật mù quáng, vô nghĩa, bi đát, chua cay,...một sức mạnh chỉ tuân theo một nguyên lý túc lý, một thứ nguyên lý khẳng định tính tất định của vũ trụ, sức mạnh ấy vẫn trói buộc con người, vẫn xô đẩy mạnh mẽ hành trình đời người... Đó là bóng dáng của hư vô chủ nghĩa. Quả thực, cuộc sống con người, khi không có Chúa, sẽ bị chi phối do qui luật "tự nhiên", vốn là qui luật nghiệt ngã đè bẹp con người... mà chỉ có mối tương giao ngã vị chân thực, bắt nguồn từ Ngã Vị Thiên Chúa mới có khả năng giải gỡ.

Thiên Chúa sáng tạo vũ trụ từ hư vô, đó là một tác động khởi đầu của một Ngã Vị, Ngã Vị ấy "chiến thắng" cái hư vô. Thiên Chúa sáng tạo con người giống hình ảnh Thiên Chúa, để con người có thể sống-với Chúa và nhờ đó mà sống với nhau. Vũ trụ được đặt dưới quyền "đặt tên" của con người, nghĩa là con người thống trị sự hiện hữu vô nghĩa của thế giới để đưa tất cả vào tương quan tình nghĩa. Vũ trụ không là gì khác hơn một phương tiện dành cho loài người có thân xác, để loài người sử dụng như món quà trao tặng nhau trong yêu thương.

Như thế, với mạc khải Do Thái - Kitô giáo, không phải "hư vô" chỉ được vượt qua một lần với "biến cố" sáng tạo từ hư vô của Thiên Chúa, nhưng hư vô còn bị chinh phục trên bình diện ý nghĩa, trong một vận hành mang tính lịch sử. Ở đây, tính "hư vô" được vượt qua không phải chỉ bằng một thái độ luân lý để giải quyết từng phận người, hoặc trong một vài tình huống, nhưng chính là trên bình diện "siêu hình"; không phải cách giải gỡ bằng đường lối trốn chạy, buông bỏ,...nhưng là một thái độ đối diện cách tích cực. Giải pháp Kitô giáo, ngược với Schopenhauer, làm nổi bật ngã vị của mỗi cá nhân. Con người chiến thắng quy luật vô ngã và tất định của vũ trụ khi đưa vũ trụ vào tương quan ngã vị :

"Muôn loài thọ tạo những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mặc khải vinh quang của con cái Người. Quả thế, muôn loài đã lâm vào cảnh hư ảo, không phải vì chúng muốn, nhưng là vì Thiên Chúa bắt chịu vậy ; tuy nhiên, vẫn còn niềm trông cậy là có ngày cũng sẽ được giải thoát, không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát, mà được cùng với con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang". (Rm 4, 19-21)

* Ngã vị trở nên rõ nét trong "cuộc chơi" với một Thiên Chúa Ngã Vị

Khi người mẹ cho con cái bánh, thì sự trao ban ấy không đơn thuần nằm trong cái bánh ngon hay dở, nhưng cái bánh chỉ là cách thức người mẹ tỏ bày chính bản thân mình, một bản thân đầy tình thương đối với đứa con. Tình thương của mẹ mời gọi đứa con, không phải chỉ nhận cái bánh vì cái bánh ngon mà thôi, nhưng nhận ra tấm lòng của mẹ. Đứa con nào chỉ vui thích hay buồn phiền vì cái bánh, đứa con ấy có nguy cơ không sống nên người; vì có thể, trong suốt cả cuộc đời, nó chỉ làm, chỉ học, chỉ hưởng thụ vì những thứ đồ vật, những thứ qui về cho bản thân mình. Ngược lại, nếu đưa con vui mừng vì tình thương của mẹ, đứa con đó có cơ may biết sống với ai, biết làm việc cho ai, biết vui buồn vì ai …

Cũng thế, khi Chúa ban một ơn nào cho con người, thì điều quan trọng là Chúa mặc khải tình thương của Chúa. Nhưng người nào chỉ biết đón nhận "ân sủng thụ tạo" mà không biết tìm đến nguồn mạch của ơn huệ là chính Chúa, thì người ấy bỏ mất nguồn mạch chính yếu của ân sủng, tức là đón nhận “ân sủng bất thụ tạo”.

Con người được sáng tạo trong tình thương. Phẩm chất chính yếu của con người yêu thương là có khả năng và khao khát dính dáng đến ai-khác. Ơn gọi và sứ mạng cao quý của con người là được sống trong tình yêu của Chúa và tình yêu thương với ai khác, và chính tương quan sống-với-ai ấy giúp con người càng là chính mình hơn; giống như triết thuyết của Martin Buber (1878- 1965), hoặc như cha ông ta nói : "sinh con rồi mới sinh cha, sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông". Điều đó có nghĩa là ngã vị không phải chỉ là một cá nhân đóng kín, nhưng luôn là một ngã vị như một "vai tuồng", một thế đứng trước một ngã vị khác. Ngã vị chân chính còn luôn phải vượt qua sự vật trung gian để đụng chạm được đến "cõi lòng", hay đúng hơn là đụng chạm đến "chính cái tôi" của ai khác.

3. Kiến giải về tình yêu và lòng thương xót Kitô giáo dưới góc độ ngã vị

Kitô giáo là tôn giáo của tình yêu. Tình yêu ấy không phải chỉ là một tình cảm vui buồn, thích thú hay hờn giận,... nhưng đặt nền tảng trên nền tảng siêu hình của hữu thể người, phản ảnh và thông dự vào chính tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa. Đó là thứ tình yêu vừa "bảo đảm" được tính ngôi vị , lại vừa hiệp nhất trọn vẹn trong một bản tính chung. Đóng góp đặc sắc của truyền thống Do Thái Kitô giáo chính là mối tương giao ngã vị, được thanh lọc tinh tuyền và được nâng lên tới tầm mức siêu hình. Tình yêu Kitô giáo không phải chỉ là một tình cảm trong mỗi người, hay một đức tính nhằm hoàn thiện bản thân, nhưng thiết yếu nhằm thông hiệp với ai-khác trên bình diện ngã vị, hợp nhất với ai-khác trong một cộng đồng ngôi vị.

3.1 Đạo "sống-với-ai"

Trước tiên, ta thấy ý nghĩa sống-với-ai là ý nghĩa xuyên suốt trong tinh thần Kinh Thánh và đạo lý Giáo Hội. Ta có thể tóm tắt ý nghĩa sống-với ấy trong hai đoạn văn tiêu biểu:

1) Ý nghĩa căn bản của phẩm giá con người trong Kinh Thánh : “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ”. (St 1,27)

Ý nghĩa nền tảng của đoạn Kinh Thánh này cho thấy vận mạng con người chỉ có thể hoàn thành trọn vẹn khi sống hiệp thông với Chúa và với nhau :

"Tiếp nối công trình đào sâu chủ đề "imago Dei" khởi đi từ Công đồng Vatican II, trong các trang sâu đây, Ủy Ban Thần Học Quốc Tế muốn tái xác nhận cái chân lý về việc con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa để có thể hưởng nhận việc hiệp thông cá nhân với Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, và hiệp thông với nhau trong các Ngài, cũng như để nhân danh Thiên Chúa thực thi trách nhiệm quản lý thế giới tạo vật. Trong ánh sáng chân lý này, trần gian xuất hiện không phải như một thứ gì to lớn nhưng vô nghĩa, mà là một nơi chốn được tạo dựng nhằm vào việc hiệp thông nhân vị".

2) Trong Tin Mừng Gioan, chữ “như” có nhiều ý nghĩa. Tuy nhiên, ý nghĩa căn bản, ý nghĩa thần học của từ “như” phải được hiểu, không phải chỉ là một sự tương tự trong so sánh, nhưng có nghĩa là “nền tảng”, “nguồn gốc”, “phát sinh”. Chẳng hạn :

“Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy.(…) Đây là điều răn của Thầy : anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. (Ga 15,9.12)

Ở đây, không phải là tình yêu của Chúa Giêsu đối với các môn đệ dựa theo khuôn mẫu tình yêu của Chúa Cha với Đức Giêsu; và cũng không phải là tình yêu của con môn đệ với nhau dựa theo khuôn mẫu của tình yêu Chúa Chúa Giêsu với môn đệ. Nhưng tình yêu của Chúa Cha đổ tràn trên đức Giêsu chính là “nền tảng”, “nguồn gốc”, “phát sinh” ra tình yêu của Đức Giêsu với môn đệ; và tình yêu của Chúa Giêsu với các môn đệ là “nền tảng”, “nguồn gốc”, “phát sinh” ra tình yêu của các môn đệ với nhau.

3.2 Tình yêu Kitô giáo thiết lập một "cộng đồng ngôi vị"

Một ngã vị hướng tới một ngã vị khác để thiết lập nên một cộng đồng ngôi vị. Nếu chúng ta trở về với một cộng đồng nền tảng là đời sống gia đình, một khuôn mẫu duy nhất trong các cộng đoàn nhân loại có được một phẩm tính riêng biệt : đó là một cộng đoàn các ngôi vị. Nơi gia đình, chúng ta sẽ nhận ra được bóng dáng của ơn cứu độ của Thiên Chúa. Gia đình thiết yếu là một cộng đồng ngôi vị. Tông Huấn đời sống gia đình viết :

“Gia đình, được thiết lập do tình yêu và được sinh động cũng do tình yêu, là một cộng đồng các ngôi ...”.

Ta có thể hiểu một “cộng đồng ngôi vị” là nơi mỗi thành viên không chỉ đóng góp tài năng, tiền bạc, đức độ,…nhưng là đóng góp chính “cái tôi toàn vẹn của mình”, cũng như đón nhận toàn vẹn cái tôi của ai khác. Ý nghĩa này cho ta thấy một sự khác biệt sâu xa giữa gia đình với các thứ cộng đồng hay cộng đoàn khác. Nơi xí nghiệp chẳng hạn, ta không đóng góp cái tôi toàn vẹn và người khác cũng không đón nhận toàn vẹn cái tôi của ta. Nơi đó người ta chỉ đóng góp công sức, tài năng…để nhận lại những gì lợi ích cho cái tôi riêng của mình; đó chỉ là những "cộng đồng chức năng"…

Trên trần gian này, chỉ có duy nhất gia đình mới có được phẩm tính của một “cộng đồng ngôi vị”. Khế ước hôn nhân là một khế ước mà hai người “trao thân gửi phận” cho nhau, để liên đới với nhau một cách trọn vẹn. Thật vậy, trong gia đình, các thành viên hiện diện cho nhau với toàn vẹn cái tôi của mình; được chấp nhận và chấp nhận người khác với toàn vẹn cái tôi ấy. Mối liên kết ở mức độ “cái tôi“ vừa làm cho các thành viên có được một “quê hương” để sống trọn vẹn bản thân mình, lại vừa có trách nhiệm trọn vẹn với cả điều tốt và điều xấu nơi cha mẹ, anh chị em của mình; và đây là chính là nguyên tắc của đời sống yêu thương đích thực :

“Tình yêu thương vợ chồng bao gồm một toàn thể tính trong đó có đủ mọi yêu tố cấu tạo nên ngôi vị. . .”.

Trong cộng đồng ngôi vị ấy, ý nghĩa của sự tôn trọng phẩm giá mới sáng lên rõ nét và chân thật nhất. Tôn trọng là thái độ cơ bản để thiết lập tha nhân như một nhân vị và như một chủ thể đủ tư cách để đi vào cuộc đối thoại, cuộc chơi bình đẳng trong kiếp nhân sinh. Điều quan trọng là, trong gia đình, ngã vị như một nhân vị căn bản ấy được trao tặng và được chấp nhận theo luật "cho không". Nguyên lý căn bản của cộng đồng ngôi vị là sự tặng không; vì ngôi vị là điều không thể đánh giá, nên không thể trao đổi. Thái độ tôn trọng, khả năng trao tặng và lãnh nhận cái tôi của nhau như thế chắc chắn không phải là kết quả của một bài toán đánh giá "nhân cách", mà chính là sự chân nhận thứ phẩm giá "bên dưới" nhân cách, đó là chân nhận ngã vị.

“Các tương quan giữa những phần tử trong cộng đồng gia đình được phát triển dưới sự thúc đẩy và hướng dẫn của luật “cho không” bằng cách kính trọng và vun trồng nơi mọi người cũng như nơi mỗi người cái phẩm giá con người như tước hiệu duy nhất có giá trị, trở nên sự tiếp đón nồng nhiệt, gặp gỡ và đối thoại sẵn sàng vô vị lợi, quảng đại phục vụ và tương trợ sâu xa”.

Dưới ánh sáng của tình yêu ấy, ta có thể thấy tình yêu Kitô giáo xây dựng nên một "cộng đồng ngôi vị", nơi đó mỗi cá nhân "đóng góp" vào cộng đồng chính bản thân mình và đón nhận bản thân của ai khác; nơi đó, mỗi người chấp nhận đi vào cuộc phiêu lưu sống-với ai khác trên một hành trình đầy biến động thăng trầm của lịch sử. Nói cách khác, tình yêu Kitô giáo đặt nền vững chắc trên sự thông hiệp "bản thân và cuộc đời", gần giống như một thứ “trao thân gửi phận” cho nhau (trao tặng bản thân và đồng hành trọn cả cuộc đời). Vì thế, ta có thể thấy "công thức yêu" Kitô giáo được diễn tả trong giao ước hôn nhân : tôi nhận anh/em làm chồng/vợ, và hứa giữ lòng chung thủy...".

Hơn nữa, kinh nghiệm về tha nhân trong đời sống gia đình mang những phẩm tính căn bản của vấn đề tha nhân : đó là một sự trân trọng phẩm giá của mỗi người. Sự trân trọng này làm nên cội nguồn của thái độ đối thoại, tương trợ, chia sẻ, phục vụ…theo quy luật “cho không”. Khi sinh ra, con người đi vào đời với những kinh nghiệm đầu tiên về tha nhân qua đời sống gia đình. Những kinh nghiệm đầu tiên có thể dài ngắn tùy hoàn cảnh mỗi người, nhưng cũng tạo nên được một “ánh chớp” lóe sáng soi chiếu hành trình kiếp nhân sinh. Chính kinh nghiệm về tha nhân trong đời sống gia đình trở nên mẫu mực của mọi tương quan tha-ngã trong đời sống con người. Theo ngôn ngữ của tông huấn, kinh nghiệm ấy như “việc thực tập căn bản”, như “gương mẫu và là một khích lệ” cho các tương quan xã hội :

"Như vậy, phát huy sự hiệp thông đích thực giữa những ngôi vị có trách nhiệm trong gia đình trở thành một việc thực tập căn bản và không thể thay thế được cho đời sống xã hội, một gương mẫu và là một khích lệ cho các tương quan cộng đồng mở rộng, được đánh dấu bằng các đức tính : kính trọng, cộng bằng, ý thức đối thoại, tình yêu".

Như thế, chính những ý nghĩa nhân bản trong đời sống gia đình là lý tưởng cho xã hội chứ không phải ngược lại. Người Kitô hữu không được biến gia đình thành một thứ xí nghiệp nhỏ, với quy luật trao đổi sòng phẳng; ngược lại, cần mở rộng những tương quan nhân bản của gia đình đến các tương quan xã hội mỗi ngày mỗi rộng lớn và vững chắc hơn. Cũng thế, tình yêu Kitô giáo có khả năng thanh luyện và nâng cấp tình yêu con người, và người Kitô hữu cần khám phá tình yêu của Thiên Chúa trên hành trình sống yêu thương giữa con người với nhau.

Do đó, tình yêu "sống với ai" trong tinh thần Kitô giáo nhằm xây dựng nên một "cộng đồng ngôi vị". Bí tích Rửa tội, là giao ước nền tảng của đời sống đức tin, diễn tả một thực tại nền tảng, Chúa ban Con Một của Ngài để chết/Phục Sinh cho con người, và người tín hữu thì chết đi cho con người cũ để sống cuộc đời như một con người mới. Giao ước ấy khiến cho hai bên "thuộc về nhau". Ta cũng thấy lối giải thích về "ơn cứu chuộc" hiện nay đã vượt qua lối trình bày biểu tượng của Kinh Thánh và cách lý giải "đền thay" của thánh Anselme, cũng như nền thần học Kinh viện thời Trung Cổ. Thiên Chúa cứu độ con người là "hòa giải", tái lập lại "tình thân" giữa con người với Chúa và con người với nhau, con người trở nên con của Chúa, được "đồng thừa tự với đức Kitô"... Ta có thể diễn tả thực tại cứu độ ấy là một "cộng đồng ngôi vị", trong đó các ngôi vị "thuộc về nhau".

* Tình thương Kitô giáo xây dựng nên một sự hiệp thông "móng nền" chứ không phải chỉ là sự ăn khớp "kèo cột"; tương tự như anh em với nhau, dù có khác tính tính tình, cãi vã nhau thường xuyên, nhưng vẫn còn thông hiệp trong "móng nền", một giọt máu đào hơn ao nước lã". Trong khi tình nghĩa chúng ta với bạn bè, với "người ngoài" thì thiết yếu phải xây dựng trên sự ăn khớp của tính tình, của phương thức làm việc...mà thiếu nhưng yếu tố ấy thì "cộng đồng chức năng" sẽ sụp đổ.

3.3 Ngã vị (persona) hay phẩm cách (personalitas) ?

Con người chỉ trở nên chính mình trong tương quan, và thái độ tương quan ấy làm nên phẩm cách của một con người. Con người như một ngã vị (persona) thiết yếu phải thể hiện chính mình trong nhân cách (personalitas). Bình thường, người ta nhận ra một người "có nhân cách" là người có đức độ hoặc tài năng. Thế nhưng, xét trên bình diện siêu hình, "nhân cách" hay "đức độ" hay "tài năng"... vẫn là điều con người "có" chứ không phải là điều con người "là". Tài năng, đức độ... vẫn có thể "bay đi mất" mà cái tôi trần trụi thì vẫn luôn ở lại đó. Trong khi triết học nói đến ngã vị như một cái tôi cá thể hiện hữu ấy (subsistens distinctum) thì các khoa tâm lý, xã hội lại chỉ có thể bàn đến nhân cách (personalitas) của con người. Trong đời sống xã hội, trong tương quan ngã vị của con người với nhau, người ta thường nhìn nhận một con người qua nhân cách của người ấy. Người ta kính kẻ đức độ, người ta phục người có tài năng, hoặc người ta xum xoe với người đẹp, người có tiền, có địa vị... Điều ấy nếu được đẩy xa một chút nữa thôi, người ta sẽ rớt vào tình trạng, hoặc chủ trương hoặc vô tình, nhìn nhận xã hội, hoặc nhà nước là chủ thể bạn tặng phẩm giá cho cá nhân con người...

Điều éo le của kiếp người là, trên bình diện nhân cách, ai cũng biết rằng con người không có điểm xuất phát bằng nhau, thế mà mỗi người lại cứ phải chạy đua trên cùng một đường đua, với những chuẩn mực của mức đến như nhau. Có người sinh ra đã nhận lãnh biết bao ưu thế, và có người, ngay khi sinh ra, đã chịu biết bao thiệt thòi..., mà thiệt thòi lớn nhất là chính ngã vị của họ không được tôn trọng xứng đáng.

Chúng ta có thể thấy rõ sự khác biệt giữa một nền luân lý đặt nền trên nhân cách và một nền tảng siêu hình đặt nền trên ngã vị, bằng cách so sánh hai chiều hướng khác nhau của tình yêu, tình yêu con người và tình yêu Thiên Chúa :

- Tình yêu con người khởi đi từ việc đón nhận cái hay cái tốt nơi ai khác (1). Rồi khi đã gắn bó với nhau qua một quá trình, người ta thấy rõ được "ai khác" ấy, không phải chỉ thấy những điều hay điều tốt mà còn đầy những điều xấu, những điều tệ hại, người ta được mời gọi để trung tín với tình yêu vì đã "đồng hội đồng thuyền" với nhau (2). Sau cùng, đến lúc nào đó, ngay cả khi "ai khác" ấy đã mất tất cả những phẩm tính tốt đẹp, nhân cách cũng chẳng còn gì, mà người ta vẫn đón nhận như là "của mình", thuộc về mình, thì đó mới là mức độ của tình yêu quảng đại và tốt đẹp nhất (3).

- Ngược lại, tình yêu của Thiên Chúa đối với con ngưởi lại khởi đi từ việc chấp nhận "ai khác" một cách vô điều kiện, hoặc hơn nữa là một tình yêu tha thứ. Chúa thương ta ngay khi ta còn là tội nhân (Xc. Rm 5,8) (3). Rồi Thiên Chúa sẵn sàng đồng hành, liên lụy với con người trong hành trình cuộc đời một cách "trung tín" (2). Cuối cùng, chính tình yêu tặng-không của Thiên Chúa và bề dày nghĩa tình của Chúa với ta trong dòng lịch sử mới làm nẩy sinh những điều hay điều tốt nơi bản thân ta (1).

Chính chiều hướng "ngược ngạo" của tình yêu Thiên Chúa làm nổi giận những người Do Thái ưu tuyển. Điều "ngược ngạo" là tình yêu của Thiên Chúa gắn phẩm giá một con người, với chính ngã vị (persona), trong khi tình yêu con người thì luôn nghiêng về nhân cách (personalitas). Con đường cứu độ của Thiên Chúa không phải được mở ra trên nóc nhà, và chỉ có những người ưu tuyển mới có thể leo lên được, nhưng là con đường hầm ở cũng đáy cuộc đời để ai cùng có thể "chui" qua được. Thiên Chúa cứu độ con người không phải bằng cách "nắm tóc", vì nhiều người nghèo của Chúa cũng chẳng có tóc; nhưng Thiên Chúa cứu độ con người bằng cách nâng từ chân, và cả nhưng người yếu kém nhất về nhân cách thì cũng có thể được cứu độ. Đức Gioan Phaolô II nói :

"Mặc dù người con này đã phung phí hết phần gia sản của hắn, tuy nhiên, nhân tính của hắn vẫn còn nguyên".

Trong một "cộng đồng ngôi vị", người ta không được quyền đặt điều kiện tiên quyết về nhân cách, theo kiểu con có ngoan thì mẹ mới nhận làm con; nhưng chính người mẹ chân chính phải liên đới, liên lụy với đứa con để giúp nó thăng tiến nhân cách. Tương quan vợ chồng với nhau cũng vậy, anh chị em với nhau cũng vậy..., điều chính yếu là đón nhận và trân trọng một ngã vị "đơn thuần", và chính điều ấy mới là nền tảng để giúp mỗi thành viên được sống tốt hơn. Có lẽ có khá nhiều tất xấu của con người phát xuất từ một phản ứng vô thức, do ngã vị của mình đã không được chấp nhận. Một ông cha xứ hiểu rằng mình không được con chiên quí mến, sẽ thường lấy luật lệ cứng nhắc để điều hành sinh hoạt giáo xứ......

Như thế, yêu thương chân chính là đón nhận bản thân và liên đới, hoặc liên lụy với cuộc đời của ai khác. Tình yêu của Thiên Chúa "đảm nhận" vấn đề nhân cách của người Kitô hữu chứ không phải đòi hỏi nhân cách tốt như điều kiện căn bản. Thiên Chúa xét xử công bằng không phải là một thứ chấm bài thi nhân cách của con người, nhưng là thiết yêu là làm sáng tỏ thái độ của con người đối với hồng ân được đón nhận vào cộng đồng ngôi vị của Thiên Chúa. Tình yêu thương của người tín hữu cũng vậy. Khi người Kitô hữu "yêu tha nhân vì Chúa", thì đó không phải chỉ là một mệnh lệnh luân lý mà là nhận ra một thực tại : nhờ Chúa, ta nhận ra tha nhân là người anh em của tôi. Ngược lại, thiếu nền tảng siêu hình ấy, người vô thần đương nhiên phải chọn lập trường "bạn ra bạn, thù ra thù".

3.3 Lòng thương xót Kitô giáo như một "khả năng chạm đến ngôi vị"

Trong đời sống thường ngày, con người luôn bị thúc đẩy do thái độ "ăn gian". Con người luôn sợ mình không được yêu chân thật, mình không được chấp nhận từ chính bản thân, và không được liên lụy trong cả cuộc đời. Nỗi sợ ấy khiến cho con người luôn phải "trang điểm" cho bản thân và cuộc đời mình bằng những thứ "sự vật". Con người muốn khẳng định mình bằng tài năng, bằng địa vị, bằng sắc đẹp, bằng tiền bạc và thậm chí bằng đức độ..., để có thể được người khác chấp nhận. Thái độ "ăn gian" là khi người ta lấy những "sự vật" để thay thế cho bản ngã đích thực; lấy những điều thuộc "chức năng" để làm cho "phẩm giá" của mình được ngon lành hơn... Thái độ ăn gian chính là cám dỗ có thể chinh phục được người khác bằng "sự vật", thậm chí nhằm trao đổi hoặc mua bán tình yêu bằng một thứ "sự vật" nào đó; theo kiểu "Tao đẹp trai, học giỏi, con nhà giầu... tao muốn đứa con gái nào chẳng được...". Gia kêu đã quá tuyệt vời khi không sử dụng những ưu thế của mình, thế lực và tiền bạc, để giải quyết mong ước gặp đức Giêsu, nhưng ông đến với Chúa trong một ngã vị trần trụi, một con người lùn, leo lên cây như một đức trẻ (Xc. Lc 19,1-10).

Thái độ ăn gian đưa đến những thứ tương giao giả tạo, tương giao có tính xã giao, tương giao có tính thực dụng, tương giao có tính lợi dụng hoặc tương giao có tính gây hấn đe dọa... Khi người ta chi biết tôn trọng người giầu mà khinh chê kẻ nghèo, sợ người giỏi mà coi thường kẻ dốt, khúm núm trước người có địa vị mà lại lên mặt với dân đen; khi người ta tặng quà cáp để được lợi lộc, khi người ta dùng sức mạnh của đồng tiền hay vũ lực để bắt người khác làm theo ý mình... Một điều vô cùng khó của con người, đó là khả năng chơi với nhau ở mức độ phẩm giá căn bản; mà điều này chỉ có thể có được khi người ta công nhận mọi sự đều là hồng ân. Con người đã được lãnh nhận nhưng-không chính bản thân và cuộc đời của mình. Phẩm giá của con người không do chính mình, không do xã hội cấp phát theo một số điều kiện nào đó...

"Thật vậy, nào có ai coi bạn hơn kẻ khác đâu ? Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh ? Nếu đã nhận lãnh, tại sao lại vênh vang như thể đã không nhận lãnh ?"(1Cr 4,7).

Trong thực tế lịch sử, khi nào những thứ trang điểm rơi rụng thì người ta lại có cơ may nhận ra nét "tôn nghiêm" căn cản của ngã vị con người : khi đối diện với một xác người chết, khi đối diện với một người nô lệ, khi gặp thấy một ai đó sống còn "không ra người"... Khi chạm tới một ngã vị trần trụi, người ta có cơ may tìm được thái độ tôn trọng chân thật nhất, tôn trọng tha nhân như là đối tác "ngang hàng". Hơn nữa, chạm vào một ngã vị trần trụi, con người còn có cơ may nghe được lời cầu khẩn thâm trầm nhất của một ngã vị, lời cầu khẩn "có ai chấp nhận bản thân và cuộc đời của tôi không ?" ... Ngã vị không phải là "duy ngã độc tôn" (solipsisme hoặc egotisme), nhưng luôn luôn là một ngã vị trong tương quan với một ngã vị khác, đó chính là cái nghèo-tôn nghiêm căn bản, là tiếng kêu căn bản vươn tới lòng thương xót chân thực. Lòng thương xót, ở mức độ siêu hình căn bản của phận người, có lẽ không phải chỉ là một tâm tình đối với "nỗi khổ (nhất thời) của ai đó" (lòng thương hại), nhưng là nhận ra "một ai đó chân thực qua nỗi khổ của người ấy". Lòng thương xót là khả năng đập phá tất cả những thứ "trang điểm", vượt qua lớp vỏ của cái thuộc chức năng để khám phá ra một ngã vị vốn tự bản chất là "nghèo-tôn nghiêm", để nhận ra "âm tính" của một ngã vị, vốn luôn cần được chấp nhận đơn thuần từ một ngã vị khác. Chính vì thế mà tình yêu không thể là sự trao đổi, nhưng thiết yếu phải là trao tặng. Tình yêu, là tác động như một ân ban trong tự do của một ngã vị, chính là cứu cánh của đời người; và điều gì là cứu cánh thì cũng là nguyên lý hướng dẫn hành động của con người. Trong ánh sáng mặc khải Kitô giáo, ta hiểu được nguyên lý căn bản của Kitô giáo chỉ có thể là tình yêu chân chính như là lòng thương xót. Nếu như lòng thương xót là phẩm tính cao quí nhất của Thiên Chúa, là sứ vụ chính yếu của Đức Giêsu (Lc 4, 4-22), thì lời cầu nguyện chân chính nhất chỉ có thể là lời cầu nguyện của người nghèo, lời cầu nguyện dai dẳng và lì lợm (Xc. Lc 18, 1-8...), lời cầu nguyện : "lạy Con Vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi" (Lc 18, 39...). Đức Gioan Phaolô II, trong thông điệp Thiên Chúa Giầu Lòng Từ Bi Thương Xót, nói rằng : có một danh hiệu thứ hai của Tình yêu, đó là lòng nhân hậu (từ bi thương xót).

“Vì lòng nhân từ là chiều kích không thể thiếu của tình yêu; nó như là danh hiệu thứ hai của tình yêu”.

Có phải không lòng thương xót Kitô giáo chính là nét duyên chân thật, lóng lánh, lung linh ẩn sau mọi cá tính, mọi tài năng, mọi thái độ luân lý của mỗi người ?

Tạm Kết

1. Để phát họa một cách khái quát, xin tạm dùng một hình ảnh : Một đứa bé lạc giữa chợ...

- Có người không thương gì cả : mày mang xui xẻo cho tao... đi chỗ khác đi.

- Có người tìm ataraxia : cho mày 10 ngàn mua bánh mì, rồi đi chỗ khác để tao làm ăn.

- Có người thương hại : thôi để tao đưa mày tới đồn cảnh sát, để người ta đưa mày vào viện mồ côi.

- Có người lại thấy : ôi tao cũng mồ côi như mày; mà ai chẳng mồ côi; rồi bố mẹ mày cũng có lúc phải chết như bố mẹ tao thôi. Buồn làm gì. Đó là thái độ của Schopenhauer.

- Có người thương xót : thôi về nhà tao, có cơm ăn cơm, có cháo ăn cháo...

2. Khi không nhận ra được mức độ siêu hình của tình yêu Kitô giáo, đời sống Giáo Hội vẫn không thể diễn tả được thứ "linh đạo của người nghèo", vốn là đường nét căn bản của sứ điệp Nước Trời. Đời sống của Giáo hội, nói chung, không phải là không quan tâm giúp đỡ những người nghèo, nhưng đó chỉ là "linh đạo cho người nghèo", và đó là những hoạt động bác ái mang tính luân lý thuần túy. Phải chăng vì không đụng đến mức độ siêu hình của tình yêu và lòng thương xót Kitô giáo nên, khi ra ngoài lãnh vực hoạt động bác ái, thì những nguyên lý danh giá, nguyên lý đề cao người ưu tuyển, nguyên lý luân lý thuần túy... lại chi phối cách mạnh mẽ. Chẳng hạn : trước khi ban bí tích Rửa Tội cho người lớn thì nghi thức phụng vụ đã đòi hỏi thứ điều kiện "xứng đáng" : "...vậy ông (bà,anh,chị) đã thực thi giáo huấn của Chúa, tuân giữ giới răn của Người, sống tình huynh đệ và chăm chỉ cầu nguyện để xứng đáng trở thành Kitô hữu chưa ?". Cũng thế, người ta thường đào tạo người Kitô hữu hoặc đào tạo tu sĩ bằng cách xây dựng nhân cách, mà lại quên giúp người thụ huấn hiểu ra "khả năng" đón nhận một ngã vị đơn thuần. Dù có loay hoay đạo nghĩa thế nào, người Kitô hữu, đặc biệt là các đấng bậc, vẫn cứ xử sự như người anh cả trong dụ ngôn đứa con hoang đàng : "Còn thằng con của cha đó, sau khi đã nuốt hết của cải của cha với bọn điếm, nay trở về, thì cha lại giết bê béo ăn mừng !'(Lc 15,30).

Vì thế, tính "đảo ngược" của Tin Mừng đức Giêsu lại thường bị "đảo xuôi" theo cách nghĩ và cách ứng xử quen thuộc của xã hội con người.

Nguyễn Trọng Viễn O.P

Tham Khảo

1. Gioan Phaolô II, Thông Điệp Dives in Misericordia

2. Hồng y Walter Kasper, Lòng Thương Xót, Khái niệm căn bản của Tin Mừng và chìa khóa cho đời sống Kitô hữu.

3. Phan Tấn Thành, Đời Sống Tâm Linh, tập 8.

4. Arthur Schopenhauer, Siêu Hình Tình Yêu, Siêu Hình Sự Chết, Hoàng Thiên Nguyễn dịch, Văn Học, 2006.

5. Ivan Gobry, Le Vocabulaire grec de la philosophie, ellipses, 2002

6. Alain Roger, Le Vocabulaire de Schopenhauer, Ellipses 1999

Chú thích:

[15] Thần học phân biệt “ân sủng bất thụ tạo”, tức là chính Chúa; và “ân sủng thụ tạo”, tức là những ân huệ khác với chính bản thân Chúa. Khi lãnh nhận ân sủng, dù là ân sủng thụ tạo, người tín hữu được nhắc nhở phải biết tìm trở về với ân sủng bất thụ tạo…

[16] Xc. Văn kiện Hiệp thông nhân vị và quản lý tạo vật, số 4, Uỷ Ban Thần Học Quốc Tế, 2002.

[17] Xc. Giuse Lê Minh Thông, O.P. Tình Yêu và Tình Bạn trong Ga 15,9-17, Trung Tâm Học Vấn Đa Minh, 2009, trang 129-148.

[18] Trong bài này, chữ "ngã vị" và chữ "ngôi vị" được dùng lẫn lộn, tùy theo cách nói quen thuộc trong mỗi hoàn cảnh mà thôi.

[19] J P II, Tông Huấn Gia Đình, số 18.

[20] JP II, Tông Huấn Gia Đình, số 13.

[21] JP II, Tông Huấn Gia Đình, số 43.

[22] J.P. II, Tông Huấn Gia Đình, số 43.

[23] Xc. Felippe Gomez S.J, Kitô Học phần II, Lớp Liên Dòng Mến Thánh Giá, t/p HCM, 2001, chương IX

[24] JP II, Dives in Misericordia, , n.6.

[25] T/đ Thiên Chúa giầu lòng từ bi thương xót, số 58. Một Danh Hiệu Khác Của Tình Yêu.

xem lại Phần 1