Sự Sống Mới Trong Đức Kitô - Phần 4 (Phần cuối)

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Thế giới chúng ta đang sống có một sự sa sút rất nhiều về ý nghĩa của đời sống, và cụ thể là sa sút về đời sống luân lý. Để giải quyết tình trạng này, người ta tìm đến những biện pháp của luật pháp, hoặc giáo dục kỹ năng sống, giá trị sống… Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa của tình trạng này chính là một sự trệch hướng căn bản trong nguyên lý của xã hội văn minh : - Xã hội mất căn tính : chẳng hạn trước đây, một người thợ, làm ra một sản phẩm như cách thể hiện chính bản thân mình. Người thợ có một thứ lương tâm nghề nghiệp, nên không thể nào chấp nhận một sản phẩm sai lỗi. Niềm tự hào về bản thân mình như là người thợ, đó là một ý thức lớn hơn, quan trọng nên hiệu năng của sản phẩm để đổi lấy đồng tiền. Chính niềm tự hào đó giúp người thợ tìm được một căn bản nào đó cho ý nghĩa cuộc đời của mình. Trong bầu khí đó, việc làm là một cách thể hiện bản thân, người ta làm việc và người ta khẳng định được bản thân mình một cách nào đó.

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

__________________

IV. Dấn thân

10. Ơn gọi và sứ mệnh

10.1 Bầu khí xã hội hiện nay

Thế giới chúng ta đang sống có một sự sa sút rất nhiều về ý nghĩa của đời sống, và cụ thể là sa sút về đời sống luân lý. Để giải quyết tình trạng này, người ta tìm đến những biện pháp của luật pháp, hoặc giáo dục kỹ năng sống, giá trị sống…

Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa của tình trạng này chính là một sự trệch hướng căn bản trong nguyên lý của xã hội văn minh :

- Xã hội mất căn tính : chẳng hạn trước đây, một người thợ, làm ra một sản phẩm như cách thể hiện chính bản thân mình. Người thợ có một thứ lương tâm nghề nghiệp, nên không thể nào chấp nhận một sản phẩm sai lỗi. Niềm tự hào về bản thân mình như là người thợ, đó là một ý thức lớn hơn, quan trọng nên hiệu năng của sản phẩm để đổi lấy đồng tiền. Chính niềm tự hào đó giúp người thợ tìm được một căn bản nào đó cho ý nghĩa cuộc đời của mình. Trong bầu khí đó, việc làm là một cách thể hiện bản thân, người ta làm việc và người ta khẳng định được bản thân mình một cách nào đó.

Trong xã hội hiện nay, người ta thấy mối liên hệ khắng khít giữa người thợ và sản phẩm của mình không còn nữa. Người thợ hiện nay làm ra sản phẩm chỉ là để đổi lấy đồng tiền, và mục đích chính yếu là để mua sắm các sản phẩm khác. Hàng hóa trong xã hội thị trường ngày hôm nay quá nhiều, quá phong phú, điều đó khiến cho tâm quan trọng của việc khẳng định bản thân mình bằng những sản phẩm đúng phẩm chất không còn quan trọng nữa. Việc khẳng định bản thân giờ đây tùy thuộc vào những sản phẩm mà con người mua được, sắm sửa được xung quanh mình : nhà cửa, máy mọc, quần áo, xe cộ…. Giá trị của một con người được đánh đồng trong thang giá trị chung, giá trị của đồng tiền mà mình có được, giá trị của hàng hóa xa xỉ mà mình trang bị được cho đời sống của mình…

Ngoài ra, người ta cũng thấy có nhiều hiện tượng gắn liền với hiện tượng xã hội mất căn tính : xã hội duy hiệu năng, xã hội chuẩn hóa… Kết quả đưa đến là ý nghĩa của mỗi con người trở nên quá nhỏ. Mỗi cá nhân chỉ còn là một chi tiết nhỏ trong bộ máy khổng lồ của kinh tế.

Điều này đưa dẫn đến một hiện tượng khác, ở một bình diện sâu xa hơn : con người hôm nay đánh mất ý nghĩa của “ơn gọi cá nhân”, và cũng đánh mất sự thôi thúc của sứ mạng trong hành trình cuộc đời. Trước đây, có nhiều người lựa chọn một ngành nghề như một “ơn gọi”, nghĩa là nhận ra ý nghĩa đời mình trong nghề nghiệp. Người thầy giáo tha thiết với sự nghiệp giáo dục, điều đó làm nên ý nghĩa cuộc đời của người thầy. Việc dạy học không phải chỉ thuần túy là phương thức kiếm tiền, nhưng là cách thức thể hiện tâm huyết của mình với xã hội. Người thầy sống với tâm huyết như thế sẽ xoay sở, tìm tòi mọi cách tốt nhất để đạo tạo nên những con người giỏi dang, những người công dân tốt… Như thế, nghề nghiệp nâng lên đến tầm mức của ơn gọi, làm nên ý nghĩa của cuộc đời; chứ không phải nghề nghiệp bị giản lược thành một phương thức kiếm sống. Đó là một xã hội góp phần nhân bản hóa thế giới bằng việc thể hiện phẩm giá cao quý của con người. Ngược lại, vận hành của xã hội hiện nay, trong thực chất, là một vận hành sự vật hóa bản thân con người. Con người bị đánh giá theo sự vật, theo mức độ xa hoa hoặc hữu dụng của sự vật. Đây là căn nguyên của biết bao nhiêu tai họa trong xã hội hiện nay.

Để phân biệt được rõ hơn giữa ơn gọi và nghề nghiệp, ta có thể nói một cách khái quát : nghề nghiệp thì có “nghỉ hè”, vì nghề nghiệp chỉ còn là phương cách đối phó với đòi hỏi của xã hội. Ơn gọi thì không có “nghỉ hè”, vì ơn gọi là cách thức thể hiện chính ý nghĩa của bản thân mình. Nhưng gì mang tính cách của một ơn gọi, như đi tu, làm cha/mẹ… thì không thể có “nghỉ hè tu”, hoặc “nghỉ hè làm cha/mẹ”.

10.2 Phẩm giá của người Kitô hữu : được kêu gọi

Khi Sách Sáng Thế nói con người được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa, thì điều đó không chỉ có nghĩa là con người có lý trí, hoặc có tình yêu giống như Thiên Chúa; nhưng có một ý nghĩa trọng yếu : con người chỉ có thể hoàn thành hành trình hiện hữu của mình khi sống với Chúa, sống tương giao cụ thể với Chúa và với anh chị em của mình. Nếu vận mạng của bản chất người là “sống với”, thì phẩm giá của con người được thể hiện trọn vẹn trong ý nghĩa của “ơn gọi”. Do đó, trên bình diện đức tin, người Kitô hữu có được một phẩm giá căn bản : được Chúa kêu gọi.

Được kêu gọi, nghĩa là được tách mình ra khỏi đám đông vô danh, được chấp nhận tầm quan trọng của bản thân, và được chờ đợi câu trả lời một cách trân trọng. Thế là một con đường của tương giao ngôi vị, của sống-với được mở ra. Người Kitô hữu được Chúa kêu gọi, đó không phải là việc tuyển lựa một công nhân để đảm nhận một công việc còn trống chỗ, nhưng được công nhận ý nghĩa tuyệt đối, không thể thay thế của chính bản thân.

Dân Israen được Chúa gọi và chọn làm Dân riêng của Ngài. Nhưng ý nghĩa trọn vẹn của phẩm giá cá nhân mỗi người chỉ được thực hiện trọn vẹn trong Tân Ước. Người Kitô hữu có được những điều mà người dân Israen không có được : giao ước bản thân, cá nhân được lãnh nhận Thánh Thần, Cá nhân được Chúa tôn trọng, nhìn đến, biết đến, tính đến trong “cuộc chơi” của vận mạng con người. Ta có thể tóm lại : cá nhân mỗi người Kitô hữu được có ơn gọi của Thiên Chúa.

Chúa Giêsu kêu gọi người Kitô hữu, trước tiên là để sống-với, chứ không phải để trám vào chỗ trống của một công việc. Thiên Chúa gọi tôi bằng chính tên tôi, Thiên Chúa “biết” tôi, nghĩa là thân quen với tôi :

“Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi, như Chúa Cha biết tôi, và tôi biết Chúa Cha, và tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên”.(Ga 10 14-15)

Tin Mừng cho thấy Chúa Giêsu gọi các môn đệ, và các ông đã đến “ở với Người” :

“Người bảo họ : "Đến mà xem." Họ đã đến xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy. Lúc đó vào khoảng giờ thứ mười.” (Ga 1,39)

Chúa Giêsu cũng cho thấy Thiên Chúa trân trọng một con người, cho dù đó là một con chiên lạc. Ngài bỏ 99 con ở đó để quyết chí đi tìm con chiên bị lạc mất….

Tất cả những điều đó trở thành ý nghĩa hết sức quan trọng cho hành trình cuộc đời con người. Điều đó lại càng trở nên đặc biệt quan trọng hơn nữa trong bầu không khí của xã hội mất căn tính hiện nay, nghĩa là trong bầu không khí mà người ta không tính đến bản thân mỗi người cho bằng đánh giá mỗi người qua những gì họ chiếm hữu.

10.3 Sứ mạng : hành trình khởi từ trái tim

Trong nhiều chuyện “có thời hạn” thì đôi khi ta cũng có thể ép buộc người khác một cách nào đó : ép đứa con phải học bài, ép người kia phải ăn món này món kia. Nhưng trong những lãnh vực liên quan đến ý nghĩa của cả cuộc đời thì không ai có quyền ép buộc cả. “ép dầu ép mỡ, ai nỡ ép duyên”. Không ai được quyền ép người khác lập gia đình với người mà họ không yêu, không ai được quyền ép người nào đó đi theo đời sống thánh hiến, không ai được ép uổng người khác phải chấp nhận theo đạo mà lương tâm của học không chấp nhận…

Điều đó cho thấy, hành trình chính yếu của đời người phải được phát khởi từ bên trong. Chính chủ thể phải có quyền quyết định về cuộc đời mình. Hành trình liên quan đến vận mạng con người phải được phát khởi từ chính trái tim.

Hơn nữa, ở tầng sâu nhất của vận mạng con người, con người lại chỉ có thể hoàn thành cuộc đời mình khi ra khỏi được chính bản thân mình. Chính vì thế, Vatican II cho thấy con người chỉ có thể tìm được ý nghĩa của đời mình khi “thành thật hiến dâng” (X. MV 24).

Trái tim là cửa ngõ duy nhất để con người có thể ra khỏi bản thân. Trước tiên, từ trái tim, người ta có thể di chuyển trọng tâm đến người khác. Khi người mẹ không còn thấy việc quan trọng nhất của mình là sự thành đạt cho bản thân mình, nhưng là sự thành công của đứa con, thì trọng tâm của bản thân người mẹ đã được di chuyển ra ngoài, đặt ở nơi bản thân của đứa con.

Quả thật, phẩm giá của con người thể hiện ở chỗ khả năng ra khỏi bản thân trong tình yêu. Như thế, nỗi đau đúng với phẩm giá con người, niềm vui đúng với phẩm giá con người, sự thành công đúng với phẩm giá con người… chính là nỗi đau vì người khác đau, vui vì người khác vui, nhận thấy mình thành công vì sự thành công của người khác.

Trong đời sống đức tin, vận hành ra khỏi bản thân được bắt đầu bằng mối liên hệ thân tình với Chúa Giêsu. Hoặc nói cách khác, khởi đầu bằng một đời sống thân mật với Chúa Giêsu. Có lẽ xã hội duy hiệu năng ngày nay còn có một sai sót khác nữa là đánh mất chiều kích của sự thân mật trong tương giao hằng ngày. Đời sống đức tin mời gọi người Kitô hữu đi vào đời sống thân mật với Chúa Giêsu, đó chính là bước khởi đầu của hành trình sống ơn gọi và sứ vụ

Con người chỉ có thể hoàn thành cuộc đời mình khi vét hết cuộc đời mình để trao tặng, nghĩa là khi đạt được ý nghĩa của sứ mệnh. Sứ mệnh cũng khác với công tác. Công tác là trách nhiệm ta lãnh nhận từ phía bên ngoài; ta chu toàn công tác trong những điều kiện tương đối của hoàn cảnh có được. Sứ mệnh thì xuất phát từ sự thúc bách của ơn gọi. Do đó, người mang lấy sứ mạng thì không bao giờ có thể tự thoả mãn với những gì mình đã làm được. Người mang sứ mệnh là người không ngừng nhận ra sự thôi thúc phải làm nữa và làm nữa; và nhất là không thể rút lui như một sự chào thua…

Vận mạng của con người không phải là chiến đấu trong một cuộc chiến thảm hại để sống còn; nhưng là lao mình đến sát “biên cương” của tuyệt đối trong phẩm chất của sự sống. Vận mạng của con người không phải tính toán lặt vặt, để đạt được một vài thành công chóng qua, để “thi đậu” trong một cuộc khảo hạch dựa theo mức “trung bình cộng”, nhưng là dám đánh đổi tất cả cuộc đời mình để đạt đến được một ai khác. Ta có thể thấy một cách cụ thể rằng cuộc đời một ai đó không đạt đến tầm mức “có sứ mạng”, thì cuộc sống ấy là cuộc sống làng nhàng, vất vưởng. Thiên Chúa đã sáng tạo con người, để một cách phổ biến nhất (không phải là một cách tầm thường nhất), người ta được mang lấy sứ mạng làm cha, làm mẹ.

Cuộc sống tu trì thường được đánh giá (não trạng trước-Vatican II vẫn còn đó) là một cuộc sống ở bậc cao hơn. Thật ra, phẩm chất thực sự của đời sống tu trì nằm ở chỗ dám buông bỏ tất cả để chọn lấy sứ mạng Nước Trời. Nếu một tu sĩ mà không đạt tới mức độ có một sứ mạng, thì trong thực chất, đó chỉ là đi tìm một thứ danh giá xã hội, chứ không thể hiện được một sức sống nội tại đáp ứng được khát vọng tuyệt đối.

* Tạm Kết

Đối với con người, ý nghĩa hay phẩm chất cuộc sống quan trọng hơn chính cuộc sống. Ta có dám chọn phẩm chất của sự sống hơn là chính sự sống không ? Ta có dám đáp lại sự thôi thúc của Thánh Thần, để thực sự dám buông đời mình theo một sứ vụ như ý nghĩa thiêng liêng quý báu nhất của đời mình không?

11. Sống Mầu nhiệm hiệp thông trong Giáo Hội

11.1 Liên đới trong tội lụy và Hiệp thông trong ơn phúc

Để hiểu mầu nhiệm hiệp thông trong Giáo Hội, có lẽ phải khởi đầu tự gốc gác của tội lỗi. Tội tổ tông để lại hậu quả cho mọi người, điều đó có lẽ là cách thức Thiên Chúa muốn mời gọi con người đi vào mầu nhiệm hiệp thông cao quý trong mầu nhiệm các thánh cùng thông công.

Một người con không thể nào có thể đòi thông chia những lợi lộc của gia đình, của cha mẹ, nếu như trong những lúc gian khổ, anh ta không chấp nhập cùng đồng lao cộng khổ với gia đình. Cùng thế, mầu nhiệm các thánh cùng thông công được khởi đi từ việc cùng liên lụy với nhau trong tội.

Trong đời sống của con người tội lỗi, có một sự dính dáng sâu xa, rắc rối, tinh vi giữa người này với người kia. Sự dính dáng ấy không phải chỉ là với những người đang sống chung quanh mình một cách trực tiếp, nhưng ăn rễ sâu trong bề dầy của thời gian và trong bề rộng của không gian.

Quả thực đời sống con người là một biển bất công, mà những nỗ lực đấu tranh cho công bằng theo kiểu luật pháp chỉ là một chút bọt bèo mỏng mảnh trên đầu ngọn sóng. Những bất công của người này với người kia, của gia đình này với gia đình kia, của làng xóm này với làng kia, và của quốc gia này với quốc gia kia… đã chẳng bao giờ được giải quyết hoàn toàn công bằng. Sự bất công ấy truyền lại cho con cái, cháu chắt mãi mãi mà chẳng bao giờ người ta có thể giải quyết một cách rốt ráo được….

Như thế, sinh ra làm người, ai cũng mang lấy bất công trong bản thân mình, mỗi người đều là nạn nhân vừa là bị cáo; mỗi người đều đã hưởng thụ cuộc đời trong sự bất công, và rồi cũng lại gây thêm bao nhiêu bất công khác trong cuộc đời.

Như thế, thái độ chân chính của một con người là nhìn nhận sự bất công và phải sống thế nào để trả nợ đời. Không ai có quyền chọn cho một một nếp sống an ổn trong một đời sống quen gọi là “lành mạnh”, không trộm cắp của ai.

Tội tổ tông không phải chỉ là một chân lý thuần túy thiêng liêng nhưng là một thực tế hết sức gay gắt của cuộc sống thường ngày.

Thế nhưng, từ sự liên lụy với nhau trong tội, con người được mời gọi để đi vào mầu nhiệm cao cả của ơn cứu độ, mầu nhiệm Các Thánh Cùng Thông Công. Trong mầu nhiệm này, tất cả những hồng ân Chúa ban bao giờ cũng hàm ý nghĩa Chúa ban ơn cho người khác, qua sự sự trung gian của một ai đó. Đức Mẹ Maria, các thánh, các chức vụ trong Giáo Hội đều là những hồng ân của Thiên Chúa dành cho Giáo Hội, dành cho cộng đoàn.

Con người được mời gọi đón nhận sự liên luỵ với nhau trong tội lỗi, để có thể hướng tới một sự hiệp thông cao quý trong mầu nhiệm Hiệp Thông Các Thánh.

11.2 Lãnh trách nhiệm với nhau

Con người có một tật xấu là hay ghen tỵ với nhau : những đứa con gần bằng tuổi nhau, những lớp học kế cận nhau… vẫn thường có những cuộc cãi vã tranh giành hơn thua. Nhưng nếu có một người đàn anh/chị lớn, giúp cha mẹ đảm nhận trách nhiệm về đời sống gia đình, thì người anh/chị đó sẽ trở nên hình ảnh của cha mẹ một cách nào đó, họ sẽ nhận ra trách nhiệm chăm sóc và biết hy sinh cho các em.

Đường lối của Thiên Chúa thường không phải là một sự ăn đồng chia đều, cào bằng, nhưng là tạo nên một ý thức trách nhiệm lẫn nhau. Trong ý nghĩa đó, Chúa thường gọi, thường chọn những người cần thiết cho chương trình của Ngài, sống thân thiết với những người ấy; nhưng Chúa chọn là để trao trách nhiệm để đến với những người khác. Nếu người được chọn không chịu mở rộng, không đón nhận trách nhiệm, thì họ lại có nguy cơ tự loại mình ra khỏi chương trình cứu độ của Thiên Chúa.

Chúa chọn Dân riêng là như vậy, Chúa chọn các tông đồ, Chúa chọn Đức Maria, Chúa chọn các giạmc hay linh mục….tất cả đều hướng tới một sự hiệp thông, để người này có trách nhiệm với người kia…

11.3 Sống chiều kích Cánh Chung

Đối với Vatican II, cánh chung là một nét căn bản của mọi suy tư thần học, mọi sinh hoạt trong đời sống Giáo Hội. Tất cả mọi khía cạnh của đời sống Giáo Hội đều chỉ được sáng ra trong chiều hướng cánh chung, nghĩa là đặt vào trong dòng thời gian, trong niềm tin vững chắc vào mầu nhiệm Nước Trời nhe men, như hạt, đồng thời luôn trông chờ ngày quang lâm của Chúa.

Sống chiều kích cánh chung nghĩa là luôn nhận ra những dấu chỉ của Nước Trời, và luôn tha thiết mong chờ ngày Chúa hoàn tất trong ngày Quang Lâm. Sống cánh chung trong nghĩa cạnh hiệp thông, nghĩa là xác tín tất cả những giới hạn sai sót sẽ được trở nên đẹp, sẽ được hoàn tất trong nhiệm cục Nước Trời. Trong ý nghĩa đó, tất cả những đóng góp, những chia sẻ, những nỗ lực của ta không bị tan biến vào hư vô; nét đẹp ta đưa vào thế giới không trở thành vô nghĩa. Tất cả đều là những nét phác họa mầu nhiệm Nước Trời đang trên hành trình đi đến hoàn tất tốt đẹp.

Điều chính yếu trong ý thức cánh chung, đó là mọi sự đều được dính vào, kết nối vào, ướm vào mầu nhiệm Đức Giêsu Kito.

* Tạm Kết

Cuộc đời con người ta cần có mơ ước. Mơ ước khác với mơ mộng. Mơ mộng là mơ rồi để đó. Mơ ước là lao mình vào, hết lòng, thiết tha để thực hiện mơ ước. Trong đời sống đức Tin Kitô giáo, dám tin vào Thánh Thần Chúa, tức là dám buông mình theo sự thôi thúc của Thánh Thần. Đó là dám mơ ước những điểu mà tự sức con người không thể làm được, nhưng vân cứ lao vào cuộc trong niềm tin vào quyền năng và tình yêu của Thiên Chúa. Thánh Thần mở ra cho ta một chân trời bao la trong khát vọng của con người, ta có dám tin và dám dấn thân không ?

12. Cộng đoàn đức Tin

12.1 Nguyên lý xác thịt và nguyên lý Nước Trời

Chúa Giêsu rao giảng Nước Trời và Ngài thấy rằng nguyên lý của xác thịt không còn đủ sức để xây dựng một thế giới “tứ hải giai huynh đệ” nữa. Bởi đó Chúa Giêsu mời gọi các người theo Ngài phải vượt lên nguyên lý của xác thịt để tìm tới nguyên lý của đức tin :

“Bấy giờ ông Phê-rô lên tiếng thưa Người : "Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy. Vậy chúng con sẽ được gì ?" Đức Giê-su đáp : "Thầy bảo thật anh em : anh em là những người đã theo Thầy, thì đến thời tái sinh, khi Con Người ngự toà vinh hiển, anh em cũng sẽ được ngự trên mười hai toà mà xét xử mười hai chi tộc Ít-ra-en. Và phàm ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái hay ruộng đất, vì danh Thầy, thì sẽ được gấp bội và còn được sự sống vĩnh cửu làm gia nghiệp”.(Mt 19, 27-29)

Nguyên lý đức tin, theo nguyên tắc, thì cao hơn, trọn vẹn hơn, hoàn hảo hơn nguyên lý tự nhiên. Nguyên ý đức tin là sức sống của nhiệm cục mới trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Chỉ có nguyên lý mới ấy, đưa chúng ta vào trong thuộc về nhau trong gia đình của Thiên Chúa và trong tình bằng hữu, tình thầy trò với đức Giêsu, mới có thể thông ban một tinh thần mới, là nguồn mạch nuôi dưỡng đời sống trong Giáo Hội cũng như đời sống cộng đoàn tu trì.

Tuy nhiên, điều không thể chối cãi được là, trong thực tế, với nguyên lý đức Tin, có lẽ là một một đức Tin chưa được mạnh mẽ, chúng ta chẳng cưu mang được anh em trong cộng đoàn một cách thân tình như những người anh em ruột thịt; chúng ta chẳng hy sinh cho những người được trao ban cho mình trong sứ vụ với tất cả lòng tha thiết như chúng ta có đối với những người thuộc về mình trong mối giây liên hệ của nguyên lý máu huyết. Chính vì thế mà chúng ta dễ rơi vào thái độ tính toán cách đối xử với nhau “cho phải phép” hơn là “cho thật tình”, chúng ta dễ rơi vào thái độ làm “công tác” tông đồ hơn là thể hiện một sự thôi thúc trách nhiệm của những người thuộc về nhau; và cũng chính vì thế, đời sống huynh đệ cộng đoàn cũng như sứ vụ tông đồ của chúng ta cũng luôn có nguy cơ rơi vào chủ nghĩa anh hùng hoặc một sự tính toán để thi hành sứ vụ cách nửa mùa.

Nói cách khác, nếu đời sống tu trì không thực sự được xây dựng trên một tâm thức “thuộc về nhau” trong đức Tin; và sứ vụ tông đồ của người tu sĩ nếu không thường xuyên được kín múc sức mạnh từ thực tại “thuộc về nhau” trong đức Tin, thì đời sống cộng đoàn và sứ vụ tông đồ ấy vẫn chỉ là một sự thể hiện của đòi hỏi luân lý chứ không bắt nguồn được trong thực tại cứu độ; và người tu sĩ sống bằng sức mạnh của nguyên lý luân lý thì nó vẫn cứ luôn là thái độ của một người nô lệ chứ chưa phải là thái độ tự do của con cái trong nhà.

Với sự trệch hướng ấy, chúng ta sẽ đi vào những con đường cụt của nguyên lý hòa hợp tự nhiên hoặc nguyên lý máu huyết; rồi cứ mãi loay hoay, vá víu trong sự bế tắc mà không tìm thấy một niềm vui thênh thang của nẻo đường cứu độ. Sống trong cộng đoàn đức Tin, nhưng chúng ta vẫn tìm bạn, tìm đồng minh và nhận định về nhau theo nguyên lý tự nhiên.

Tình yêu thương chân chính không phải là chủ nghĩa anh hùng mà cũng không phải là thái độ nửa mùa; tình yêu thương chân chính là được mời gọi, là dấn thân, là sống trong một thực tại lớn : chúng ta thuộc về nhau. Ơn cứu độ không đòi buộc chúng ta như một chủ nghĩa anh hùng, ơn cứu độ ban cho chúng ta sức sống mới khi chúng ta được thuộc về nhau trong Đức Giêsu Kitô.

Như thế, chính trong lãnh vực đời sống tu trì, chúng ta gặp lại vấn đề đức tin và cũng phải “giải quyết” vấn đề đời sống tu trì trên lãnh vực của đời sống đức tin. Đức Tin ở đây dĩ nhiên không phải là một số chân lý lý thuyết nhưng chính là một nguyên lý sống, nguyên lý cứu độ, nguyên lý mang lại sức mạnh cho cuộc sống.

Cộng đoàn sống ý nghĩa Cánh chung trong mầu nhiệm Nước Trời của Chúa, nghĩa là một cộng đoàn luôn mở rộng chân trời của ngày cánh chung để không ngừng sám hối, để không ngừng ướm thực tại cuộc sống vẫn luôn có những giới hạn, những sai sót, ướm vào mầu nhiệm vượt qua của Đức Kito.

12.2 Chiêm ngắm huyền nhiệm nơi anh chị em

Nước Trời của Chúa không ở dây hay ở kia, một cách lù lù để người ta có thể dễ dàng nhìn thấy. Một thái độ tỉnh thức giúp người Kito hữu luôn có thể nhận ra những dấu chỉ của sự hiện diện Nước Trời.

Trong đời sống cộng đoàn, nếu chúng ta biết ngừng thái độ so sánh, thái độ đoán xét, thái độ xầm xì… và mặc lấy thái độ chiêm ngắm nhiều hơn, thì ta sẽ có thể khám phá ra hành trình Nước Trời đang bắt đầu nơi anh chị em của mình.

Con người là một huyền nhiệm mà ta phải chiêm ngắm chứ không phải là một vấn đề để giải quyết, đó là điều triết gia G. Marcel đã nói. Ý nghĩa ấy sẽ trở nên thật trọn vẹn nếu chúng ta biết chiêm ngắm hành trình đức tin của anh chị em như một huyền nhiệm của lịch sử ơn cứu độ.

12.3 Nước Trời trong cộng đoàn trần gian

Nước Trời trên thiên quốc là một sự ăn khớp trọn vẹn của người này với người kia. Nhưng Nưóc Trời hiện nay ở trần gian chính là chấp nhận sự trục trặc trong tình yêu, biết tha thứ để bắt đầu lại.

Trần gian chưa phải là thiên đàng, nhưng chính sự hiện diện của Giáo Hội trở nên như bi tích Nước Trời. Cũng thế, Nước Trời trong cộng đoàn chỉ có thể có được trong khả năng, nhờ Đức Tin, chấp nhận những giới hạn của nhau và cùng giúp nhau trên hành trình đi về quê trời.

“Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế, anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hoà và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau. Trên hết mọi đức tính, anh em phải có lòng bác ái : đó là mối dây liên kết tuyệt hảo. Ước gì ơn bình an của Đức Ki-tô điều khiển tâm hồn anh em, vì trong một thân thể duy nhất, anh em đã được kêu gọi đến hưởng ơn bình an đó. Bởi vậy, anh em hãy hết dạ tri ân.” (Cl 3, 12-15)

Sống ý nghĩa cánh chung cũng có nghĩa là sống niềm hy vọng, đúng hơn là lòng trông cậy vào sự chiến thắng của Nước Trời. Lòng trông cậy Kitô giáo là sự gắn bó với Chúa Giêsu đã chết và đã phục sinh. Thiếu lòng trông Cậy vào quyền năng cứu độ của Chúa, người ta sẽ dễ rơi lại trở về nguyên lý của xác thịt và lại làm cho cộng đoàn trở thành “bãi xử tử” những người tội phạm.

Nguyễn Trọng Viễn O.P

Tháng 7-2011

xem lại Phần 1

xem lại Phần 2

xem lại Phần 3