Sự Sống Mới Trong Đức Kitô - Phần 3
Sống trong cuộc đời, người ta luôn có cảm tưởng rằng, khi mình có trình độ cao, mình sẽ được một sự bảo đảm cho cuộc đời của mình. Khi ta có một bằng cấp cao, một tay nghề cao, một khả năng giỏi trong một lãnh vực nào đó, ta thấy tự tin và vững bước trên đường đời. Đó là điều qua rõ ràng và người ta có thể kiểm nghiệm sự đúng đắn của nẻo đường này một cách thực tế. Tuy nhiên, cũng có một thực tế trở thành gần như quy luật, đó là khi người ta càng tự tin vào mình, khi người ta càng thăng tiến về trình độ, khi người ta càng có khả năng giải quyết nhiều chuyện trong cuộc đời của mình, thì người ta lại càng ít cảm thấy cần tới người khác, hoặc chỉ cần tới người khác như một sự chiếm hữu, thống trị, chứ không phải như một sự cần thiết của sự truy nhận tầm quan trọng thiết yếu của một người mình yêu thương.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
__________________
II. Hành trình trung tín
7. Trung tín và trình độ
7.2 Cám dỗ của trình độ
Sống trong cuộc đời, người ta luôn có cảm tưởng rằng, khi mình có trình độ cao, mình sẽ được một sự bảo đảm cho cuộc đời của mình. Khi ta có một bằng cấp cao, một tay nghề cao, một khả năng giỏi trong một lãnh vực nào đó, ta thấy tự tin và vững bước trên đường đời. Đó là điều qua rõ ràng và người ta có thể kiểm nghiệm sự đúng đắn của nẻo đường này một cách thực tế.
Tuy nhiên, cũng có một thực tế trở thành gần như quy luật, đó là khi người ta càng tự tin vào mình, khi người ta càng thăng tiến về trình độ, khi người ta càng có khả năng giải quyết nhiều chuyện trong cuộc đời của mình, thì người ta lại càng ít cảm thấy cần tới người khác, hoặc chỉ cần tới người khác như một sự chiếm hữu, thống trị, chứ không phải như một sự cần thiết của sự truy nhận tầm quan trọng thiết yếu của một người mình yêu thương.
Mặt khác, một người ưu tư quá về "trình độ" thực sự là người ướm đời mình vào một thang điểm chứ không phải là người thể hiện cuộc đời mình trong tương quan nghĩa tình. Vì thang điểm là một thứ chuẩn mực chung, nên người như thế thường có mối quan tâm so sánh, nhìn người này để tự tôn và nhìn người kia rồi tự ty. Người ưu tư về trình độ, thật ra là người ưu tư về bản thân mình, sống vì mình, cho mình, chứ không phải sống vì ai khác. Cuối cùng, con đường thăng tiến trong trình độ là con đường của những người ưu tuyển, con đường lọc lựa để gạt ra bên ngoài những gì thấp kém… và con đường đó cũng dẫn đến việc loại ra ngoài cả những người thấp kém… Xã hội thiếu nghĩa tình luôn là một cuộc thi gắt gao mà những người bé mọn dĩ nhiên là những kẻ bị loại trừ.
Con đường của thăng tiến trình độ là con đường của những người muốn khẳng định chính mình, khẳng định chính mình bằng năng lực của mình, bằng sự vun đắp cá nhân mình. Trong khi đó, con đường trung tín là con đường của tình thương chân chính, là con đường người này có thể chấp nhận được người kia trên suốt hành trình dài của cuộc đời, để làm nên một bề dày nghĩa tình…
Mặt khác, ta có thế thấy một sự khác biệt giữa trung tín và trình độ trong mối tương quan riêng biệt của mỗi khía cạnh : thăng tiến trong trình độ là thái độ sống với Thiên Chúa như một người thầy; trong khi đó, trung tìn là thái độ sống với Thiên Chúa như một người cha.
Người thầy là người dạy cho học trò những kiến thức cần thiết trong chương trình học. Người thầy sau khi đã làm đầy đủ bổn phận, thì có thể an tâm đối với trách nhiệm của mình. Khi học trò đi thi, người thầy không thể là người làm bài thay cho học trò. Có thể người thầy cũng buồn khi thấy ngươì học trò của mình thi rớt, những điều ấy cũng không đến nỗi chi phối, hoặc có những ảnh hưởng quan trọng đến cuộc đời của thầy. Ngược lại, người cha là người gắn bó cả cuộc đời với con. Người cha không thể nghĩ rằng mình đã hoàn thành trách vụ làm cha khi dạy cho con một bài học hay, nhưng người cha được thôi thúc để tiếp tục dính dáng vào cuộc đời của con, tiếp tục thực hiện mãi tất cả những gì có thể để đứa con của mình được thành công trong cuộc đời.
Việc học của học trò được chuẩn hóa theo một chương trình, được đánh giá theo một thang điểm để xác định trình độ cao thấp và người thầy phải áp dụng thang điểm ấy để đánh giá học trò. Trách nhiệm chính yếu của người cha thì không phải là đánh giá khả năng, đức tính của con trong một chương trình huấn luyện nào đó, nhưng là người đồng hành với con trong suốt cuộc đời của mình. Cuộc đời là một hành trình có rất nhiều bất ngờ, có rất nhiều tình huống không thể áp dụng đơn giản một phương cách giải quyết nào; chính vì thế, cuộc đời con người cần có người cha. Có khi đứa con rơi vào tình trạng mất hết tất cả những gì là tốt đẹp của một con người, đứa con tội phạm, hoặc đứa con mang căn bệnh thời đại, đứa con vô ân bội nghĩa… thì người cha lại là người có khả năng liên lụy với đứa con trong những lúc khó khăn nhất, những lúc bi đát nhất, những trường hợp đau thương nhất.
Ta cũng có thể thấy sự khác biệt giữa trung tín và trình độ trong tương quan với môi trường sống chung quanh. Nơi thế giới ngoài đường, người ta đòi hỏi con người phải có trình độ để có thể chơi với đời, trình độ về năng lực cũng như trình độ về đạo đức. Trong cuộc sống xã hội, người ta không chấp nhận cho một người không có năng lực đảm nhận một vị trí quan trọng, người ta không chấp nhận thu nhận một công nhân không có tay nghề, và người ta cũng không chấp nhận một người không có đức độ. Đó cũng là điều hết sức bình thường trong qui luật sống của xã hội. Tuy nhiên, thế giới ngoài đường là thế giới đón nhận một con người trong một giai đoạn của tài năng, trong một "nhiệm kỳ" của chức vụ. Khi một ai đó không còn năng lực, thế giới ngoài đường sẽ loại bỏ anh ta như một quy luật bình thường của cuộc sống.
Trong đời sống gia đình, người ta có thể thấy một qui luật trái ngược. Cha mẹ, anh chị em ruột thì, theo quy luật bình thường, là những người biết đón nhận trọn vẹn bản thân của nhau. Do đó, người sống trong gia đình mới tìm được một sự an hòa sâu xa trong tâm hồn. Trong nhà, chính những đứa con kém nhất lại là những đứa con được cha mẹ chăm sóc riêng và được yêu thương nhiều hơn hết. Cha mẹ không đánh giá đứa con mình theo trình độ, trừ khi người ta bị chi phối của cuộc sống xã hội và chơi theo quy luật của xã hội. Những khi cha mẹ biết mình sắp qua đi, thì lời trăn trối có lẽ bao giờ cũng là những lời trăn trối làm sao để những đứa con có điều kiện thuận lợi biết chăm lo cho những đứa con kém may mắn nhất.
Thế giới ngoài đường là thế giới của "trình độ", thế giới trong nhà là thế giới của lòng "trung tín".
Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu nhiều lần khẳng định một sự đảo ngược kỳ lạ : "Và kìa có những kẻ đứng chót sẽ lên hàng đầu, và có những kẻ đứng đầu sẽ xuống hàng chót." (Lc 13,20). Đó không phải là một ý định kỳ cục nhằm khẳng định một Thiên Chúa toàn năng muốn làm gì thì làm, nhưng điều đó, có thể nói, diễn tả một quy luật của tình thương, khác với quy luật của sự thăng tiến trong trình độ. Chính những người Biệt phái là bằng chứng rõ ràng nhất của một thứ "cám dỗ của trình độ"
7.3 Hai ý nghĩa của trung tín
Thái độ trung tín diễn tả một thứ tình yêu được thể hiện trong dòng đời, vượt qua những thăng trầm của thời cuộc và đón nhận được toàn vẹn bản thân một ai khác. Con người chỉ trọn vẹn là mình trong dòng đời. Trong dòng cuộc sống thực và cuộc sống lâu dài, con người mới thể hiện chân chính bản thân mình và mới thực sự biết mình là ai. Do đó, cũng chỉ trong dòng cuộc đời thật, tình yêu thương của một người này với người kia mới thực sự được chứng nghiệm một cách đúng đắn. Trung tín chính là thước đo của tình yêu thương đích thực.
Tuy nhiên, trung tín cũng có hai ý nghĩa, hoặc là hai chiều kích : trung tín như một phẩm chất, nghĩa là không có vướng vào một chút bất trung nào; và trung tín như một tiến trình, nghĩa là một khả năng bắt đầu lại mỗi khi rơi vào tình trạng bất trung.
Về phía Thiên Chúa, ta dễ dàng thấy được một sự trung tín trọn vẹn. Thiên Chúa trung tín chẳng bao giở từ bỏ giao ước Ngài đã ký kết với con người; nhưng sự trung tín của Thiên Chúa còn trọn vẹn hơn ở chỗ ngay cả khi con người bất trung, thì sự trung tín của Ngài vẫn trải dài một cách kiên bền để có thể đón nhận được sự bắt đầu lại của con người; bởi vì chính “bản chất” của Thiên Chúa là tình yêu, và trung tín là một khía cạnh thiếu yếu của tình yêu :
“Nếu ta không trung tín, Người vẫn một lòng trung tín, vì Người không thể nào chối bỏ chính mình”. (2Tm 2,13)
Con người được mời gọi sống trung tín, nhưng con người lại sống trong tình trạng tội lỗi. Do đó, con người khó có thể sống sự trung tín như một phẩm chất tinh tuyền. Con người chỉ có thể trung tín như một khả năng bắt đầu lại. Chính sự trung tín của Thiên Chúa, sự trung tín có khả năng đón nhận sự bắt đầu lại của con người, chính sự trung tín ấy mở đường để con người có thể sống tín trung với Chúa, trước tiên và một cách căn bản, như một hành trình của đức Cậy, nghĩa là khẳ năng bắt đầu lại.
Con người sống trong quy chế thời gian, con người chỉ là mình trong giòng lịch sử. Khi Thiên Chúa quyết định dấn thân vào việc cứu độ con người, thì Thiên Chúa chấp nhận nương theo quy chế hiện hữu của con người. Thiên Chúa chấp nhận con người cách toàn vẹn, nghĩa là chấp nhận con người không phải như tình trạng trong sạch của con người ở đây và lúc này mà thôi, nhưng Thiên Chúa còn có khả năng đón nhận con người trong bước thăng trầm của lịch sử. Thiên Chúa trung tín, nghĩa là Thiên Chúa tỏ bày sự kiên trì của Ngài để giúp con người thực hiện vận mệnh của mình trong dòng lịch sử. Ngài đã dấn thân vào thời gian, đồng hành và liên lụy với con người trong dòng lịch sử, thì Ngài cũng không thể chỉ khăng khăng cân đo công đức của con người như một phẩm chất, nhưng Ngài đã thể hiện một sự dấn thân trọn vẹn bằng cách thể hiện một sự trung tín có khả năng đồng hành với cuộc đời thăng trầm, trầy trật của con người trên bước đường đời.
7.3 Trung tín là phẩm chất căn bản của tình yêu
Con người vốn đã là một huyền nhiệm, nghĩa là chẳng ai có thể hiểu thấu được. Từ thế kỷ XX, người ta đã không còn muốn định nghĩa con người như là một "động vật có lý trí" hay bất cứ một định nghĩa minh bạch nào khác. Bây giờ, người ta thích điều mà thánh Âu Tinh nói : Con người, ôi bao la sâu thẳm dường bao.
Hơn nữa, con người trong dòng cuộc sống lại là một điều không một học thuyết triết học nào có thể minh giải một cách trọn vẹn. Con người đi vào cuộc đời, đó là một bài toán chưa có lời giải. Cuộc sống con người cứ như một chân trời mở ra mà không ai biết trước được một cách chắc chắn điều gì sẽ xẩy ra, điều gì sẽ hoàn thành. Có những con người tưởng chừng như chắc chắn sẽ thành công nhưng đáp số cuối cùng lại là một sự thất bại lớn; và ngược lại cũng thế. Chúng ta có thể thấy được điều đó bằng vô số thí dụ xẩy ra hằng ngày trong cuộc sống.
Những ai có một chút kinh nghiệm trong cuộc sống thì hiểu ra được rằng… cuộc đời không phải là một con đường bằng phẳng… Hơn nữa, cuộc sống con người, trong bản chất sâu xa, luôn dính dáng đến những "giới hạn căn bản" của kiếp sống con người. Sinh lão bệnh tử là những điều mà bất cứ ai cũng không thể tránh được. Nhân vô thập toàn, hay "con người là sinh vật có bệnh"… đó là những điều không phải chỉ xuất hiện ở cuối đường đời, nhưng là những ấn dấu ghi khắc trên mọi chặng của cuộc đời.
Như thế, con người chỉ là mình trọn vẹn trong một cuộc đời. Chấp nhận một con người trọn vẹn cũng có nghĩa là chấp nhận một con người và một cuộc đời. khi Thiên Chúa giao ước với con người bằng một giao ước bản thân, khi Thiên Chúa đã chấp nhận yêu thương đến cùng, thì Ngài cũng thể tình yêu ấy trong một lòng trung tín có khả năng đi dài theo hành trình của con người. Tình yêu Thiên Chúa chắc chắn không phải chỉ là một chút hứng khởi của tình cảm, không phải chỉ là một sự đánh giá nhau trong mức độ thăng tiến, mà là một sự đón nhận trọn vẹn bản thân của một con người trên hành trình phức tạp của cuộc đời.
Tình yêu thương Kitô giáo không phải chỉ là một chút hứng khởi kiểu Eros (một thứ điên loạn xuất thần), nhưng là một tình yêu hướng tới lý tưởng "Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình." (Ga 15,13).
Cũng thế, tình yêu theo tinh thần Kitô giáo không phải chỉ là một chút hứng khởi, không phải chỉ là một sự thăng hoa để thêm vào cho cuộc sống thêm mặn mà; nhưng tình yêu là điều thực sự cần thiết để con người có thể sống trọn kiếp người. Con người cần sống tình yêu để có thể hướng đến một sự sống lý tưởng của hạt lúa "thối đi" và trổ sinh những bông hạt khác, lý tưởng "hy sinh tính mạng vì bạn hữu"; cũng như con người cần được yêu thương, một thứ tình yêu dám liên lụy trọn vẹn cuộc đời với người mình yêu, để có thể giúp nhau vượt qua được những thử thách bất ngờ của một đời người. Tình yêu thương Kitô giáo mang một ý nghĩa căn bản là "tính chất cứu độ". Chính vì con người cần được liên lụy trong suốt hành trình cuộc đời, mà Chúa cho con người, bình thường, được có cha có mẹ…. Và tình yêu vợ chồng cũng không đi ra ngoài qui luật chung của tình yêu, nghĩa là đón nhận nhau " khi thinh vượng cũng như lúc gian nan, khi ốm đau cũng như lúc mạnh khoẻ…"… Người Kitô hữu không được quyền nói như người ta vẫn nói : hôn nhân giết chết tình yêu. Người Kitô hữu, sống theo lý tưởng tình yêu Agapê, cần đón nhận đời sống hôn nhânnhư một hành trình yêu thương hướng tới lý tưởng hy sinh mạng sống cho nhau, nơi đó không còn những hứng khởi thăng hoa, nhưng lại đầy tràn những liên lụy trong những khó khăn của cuộc sống thật.
Thật sự ra, trong tình tự của tình yêu Kitô giáo, sự thăng tiến trong chiều dọc của trình độ có lẽ không quan trọng cho bằng một sự “thăng tiến” trong chiều ngang của trung tín, đúng hơn, đó là “chuyện của Chúa” chứ không phải chuyện của ta. “chuyện của ta”, đó là trung tín, trung tín theo ý nghĩa lịch sử, nghĩa là ngã thì trỗi dậy, có vấy bùn cũng không bỏ mất niềm trông cậy vào Chúa; và điều đạt được ở đây chưa hẳn là trình độ thánh thiện cao vời cho bằng là một thứ bề dày nghĩa tình.
* Tạm Kết
Đức Gioan phaolô II nói rằng tình yêu Thiên Chúa là tình yêu vô điều kiện. Những Đức Bênêdictô XVI lại nói tình yêu Thiên Chúa còn lớn hơn tình yêu vô điều kiện, đó là tình-yêu-tha-thứ”. Chính trong ý nghĩa của tình yêu tha thứ ấy, chúng ta được mời gọi để trung tín, trung tín đến cùng, trung tín bất chấp một lỗi lầm, trung tín bất chấp mọi yếu đuối…
Ta có dám tin vào phẩm chất tình yêu tha thứ của Thiên Chúa không ?
8. Cái mới của Tin Mừng
8.1 Con người và lịch sử
Niềm Tin Do Thái Kitô giáo luôn luôn xác tín về tác động của Thiên Chúa trong dòng lịch sử, đó là một Thiên Chúa của lịch sử cứu độ. Thiên Chúa đã dính dáng vào lịch sử của một Dân để qua đó, đi vào lịch sử của cả nhân loại. Thiên Chúa đã can thiệp vào diễn tiến lịch sử của Dân Chúa và lịch sử nhân loại bằng quyền năng và tình yêu lớn lao của Ngài, được soi dẫn bằng những “dấu chỉ” trong dòng lịch sử ấy. Nẻo đường chân chính đưa con người tiếp xúc với Thiên Chúa không phải là xuất thần, nhưng là một sự trung tín từng ngày với những dấu chỉ của Thiên Chúa được biểu lộ trong dòng cuộc sống. Đời sống đức Tin như thế trở nên một lịch sử nghĩa tình và có khả năng dẫn dắt người tín hữu đi vào nhiệm cục cứu độ của Thiên Chúa.
Khởi từ Vatican II, có một nỗ lực triển khai trong chiều hướng thần học lịch sử và cụ thể để đưa Giáo Hội thoát khỏi một lối nhìn siêu lịch sử và suy diễn mọi sự từ một nguyên lý trừu tượng; để mở ra cho Giáo Hội sự hiểu biết đa dạng, xuyên qua không gian và thời gian, qua những nền văn hoá và văn minh. Cuộc gặp gỡ lịch sử giữa con người và Thiên Chúa, dưới ánh sáng đức Tin, là ý nghĩa đích thực của tất cả lịch sử và do đó, trở nên “lịch sử cứu độ” hay “nhiệm cục cứu độ”. Chân lý cứu độ không còn là một hệ thống các ý tưởng soi sáng chúng ta từ trên cao, nhưng là một lịch sử hướng tới tương lai đầy tràn ý nghĩa mà con người không ngừng khám phá, xây dựng, thông hiểu và tác tạo nên.
Chắc chắn rằng Nước Trời, trong sự hoàn hảo của nó, là một thực tại đang đến. Nhưng với Chúa Kitô, Nước Trời cũng là một thực tại đã đến rồi. Và khi đó, mầu nhiệm đức Kitô đang thể hiện trong chính thời gian. Lịch sử trở thành thành phần toàn vẹn của Vương Quốc.
“Vương Quốc ấy đã hiện diện cách mầu nhiệm ở trần gian này và sẽ được kiện toàn khi Chúa đến” (MV 39)
Từ lâu trong Giáo Hội, vẫn có một não trạng “siêu lịch sử” chi phối suy tư thần học và cung cách sống đạo. Khuynh hướng ấy giả thuyết rằng việc gặp gỡ Thiên Chúa và đạt được ơn cứu độ của Ngài diễn ra hoàn toàn trong một nơi huyền nhiệm nào đó của tâm hồn, một tầm hồn không bị nhiễm bẩn do những thực tại của không gian và thời gian. Do đó, người ta nỗ lực thoát khỏi những biến động của thời cuộc, nhìn những biến cố lịch sử xung quanh mình như một thế giới đi song song hoặc bên ngoài đời sống thiêng liêng. Suy tư thần học trong những thập niên cuối thế kỷ XX, nhờ vào các nhà thần học như Newmann, Teilhard de Chardin, Congar, Chenu, Danielou, Rahner, de Lubac, Schillebeeckx ..., luôn ý thức rằng chiều kích thời gian thấm sâu vào đời sống tinh thần của con người và tạo nên tính chất thiết yếu của mọi kinh nghiệm nhân sinh cũng như kinh nghiệm đức Tin. Kinh nghiệm đức Tin chính là nhận ra “nơi chốn” thực hiện nhiệm cục cứu độ, kinh nghiệm ấy được thực hiện trong chính lịch sử. Theo nghĩa này, không có đức Tin, không có ơn cứu độ, không có thần học nào ở ngoài lịch sử; bởi vì đức Tin là sự trả lời đối với một biến cố, ơn cứu độ cũng chính là một biến cố và thần học chỉ có thể hiện hữu khi dựa vào những sự kiện, từ Abraham cho đến đức Giêsu Kitô, và đến Giáo Hội, một Giáo Hội vốn sống trong không gian và thời gian. Làm thần học không phải chỉ là mở cuốn Denzinger, nhưng còn là suy tư một cách chân chính trên những chất liệu cuộc sống, dựa trên ánh sáng của mạc khải.
Thần học nẩy sinh trong lịch sử, được đọc trong lịch sử và hướng về lịch sử, bởi vì Thiên Chúa đã trở nên Lời và nên một biến cố lịch sử. Kitô giáo không phải là một hệ thống các tư tưởng, nhưng là “nhiệm cục cứu độ”. Chúng ta không thể hiểu được thế giới nếu loại bỏ thời gian và những đặc tính riêng biệt, cụ thể của thế giới. Chính đường nét ấy thể hiện tính mới mẻ riêng biệt của mặc khải Do Thái – Kitô giáo, so với những quan niệm Đông phương cũng như Hy Lạp.
Cuộc sống trong dòng lịch sử không phải là những chướng ngại cho sự hiểu biết chân lý, nhưng đó là nơi chốn duy nhất của mạc khải và là nơi thực hiện chân lý mạc khải. Theo nghĩa này, mạc khải Thánh Kinh dẫn dắt người tín hữu vượt qua mọi quan niệm siêu-lịch-sử, cũng như mọi quan niệm về lịch sử như một chu kỳ tuần hoàn, có tính cách định mệnh và đóng kín.
8.2 Tích cách hiện sinh của đời sống đức Tin
Sự can thiệp và dẫn dắt của Thiên Chúa đối với dòng lịch sử không phải là một sự cưỡng chế mà bằng một “lời mời gọi” Ngài không luôn bẻ quặt chiều hướng lịch sử nhưng muốn được nhìn nhận và được đón nhận một cách tự do trong lòng tin. Chính vì thế, Ngài ban những dấu chỉ và chính bản thân Ngài trở thành “Dấu chỉ” mời gọi lời đáp trả của nhân loại.
Do đó, vận mạng của con người không phải được đúc khuôn từ trong ý định của Thiên Chúa, nhưng chính là hành trình đáp lại một ơn ban, là thể hiện mình như được Thiên Chúa mời gọi để tiến vào sự hiệp nhất trong tình yêu với chính Ngài. Hồng ân tuyệt diệu của Thiên Chúa sẽ trở thành “vô nghĩa” đối với con người, nếu con người từ chối chính ý nghĩa của niềm Tin.
Như thế, cùng với Thiên Chúa, con người cũng được coi như kẻ tác tạo nên lịch sử đích thực, chứ không phải chỉ là một dụng cụ thuần túy trong tay một số phận vô ngã từ trên cao, cũng không phải là một trò chơi may rủi như một sự “tổng hoà của những mối quan hệ” trong xã hội loài người.
Đời sống đức tin thiết yếu là một sự lựa chọn trên hành trình cuộc đời, một sự lựa chọn trong thái độ căn bản của niềm tin, nghĩa là một sự lựa chọn như lời đáp trả đối với ánh sáng, đối với lời mời gọi của đức tin. Như thế chúng ta hiểu ra được ý nghĩa hết sức quan trọng của sự trung tín. Trung tín không phải chỉ là nhắm mắt thực hiện cho đúng những giới luật đã có sẵn; nhưng sâu xa hơn, đó là một cuộc đối thoại thường xuyên trên hành trình cuộc đời, đó là một sự từ bỏ thường xuyên trong những quyết định của cuộc đời, đó là một sự dâng tặng thường xuyên trong những hy sinh, và hy sinh cả cuộc đời của mình, để cùng với Chúa tác tạo nên lịch sử của ơn cứu độ, nơi chính lịch sử của đời mình và trong dòng lịch sử của thế giới chung quanh mình.
Sự lập lại các bí tích Kitô giáo như là một sự triển khai nền tảng bí tích Rửa tội cũng cho thấy tính cách hiện sinh trong giao ước của Thiên Chúa với con người. Trong các bí tích, Thiên Chúa lại tái hiện lại sự chết và Phục Sinh của Đức Giêsu Kitô, để khẳng định một cách hiện sinh lòng trung tín của Thiên Chúa. Con người đón nhận các bí tích như là một lời nhắc lại giao ước bản thân của bí tích Rửa Tội, đồng thời kết hiệp vào đó dòng đời của mình, những sự kiện xẩy ra trên dòng đời của mình.
8.3 Trong Chúa Kitô, con người tìm được khả năng bắt đầu lại
Đời sống con người được đặt vào trong sự biến chuyển tuần hoàn của vũ trụ. Ngày, tháng, năm… của vũ trụ dành cho con người biểu lộ một sự mới mẻ nào đó là điều hết sức cần thiết. Cần có ngày mới, tháng mới, năm mới để con người có thể bắt đầu lại hành trình lịch sử của mình.
Tuy nhiên, trong khi sự xoay vần của vũ trụ là một chu kỳ tuần hoàn khép kín của thiên nhiên, thì con người lại nương vào vòng chu kỳ ấy để thể hiện lịch sử đời mình như “một vòng xoắn ốc”, nghĩa là một sự vươn lên, một sự đổi mói thật sự trở nên khác, chứ không phải chỉ là vòng tuần hoàn lặp đi lặp lại. Con người thể hiện đời mình trong dòng lịch sử cần cái những khởi đầu mới.
Thực sự, con người là huyền nhiệm không dễ gì toát lược được. Thân xác con người thôi, đó đã là một điều gì quá huyển diệu; rồi linh hồn con người… lại càng có biết bao điều huyền diệu mà đến nay người ta hiểu ra rằng không một học thuyết nào có thể toát lược được toàn vẹn bản chất của con người. Tuy nhiên, điều làm nên những bất ngờ huyển diệu nhất của con người chính là lịch sử, chính là thời gian. Trong thời gian, con người này với bản chất này, con người kia với bản chất kia… có thể đổi mới một cách không ai có thể tính trước được. Lịch sử đời người, lịch sử nhân loại, tự nó, đã bao hàm một sức sống mới kỳ diệu.
Tuy nhiên, điều còn kỳ diệu hơn rất nhiều, đó lịch sử ơn cứu độ, nghĩa là lịch sử đầy bất ngờ ấy lại được nhân lên gấp bội trong sự bất ngờ của Thiên Chúa được thông ban cho lịch sử con người.
Đức Kitô là một khởi đầu mới cho Nước Trời, Nước Trời như men, như hạt. Chính sự gắn bó với Chúa Kitô, hành trình lịch sử của con người trở nên phong phú, bất ngờ, vượt qua trí năng suy tính của con người. Ai có thể ngờ một tên trộm, cho đến giờ phút cuối của cuộc đời, chỉ với một lời cầu nguyện duy nhất trong cuộc đời, lại là người chiếm được Nước Trời “ngay hôm nay” ? Ai có thể ngờ được một con người như bà Maria Madalena đi đến một kết thúc như một vị thánh ?….
Thật sự, trong đức Giêsu Kitô, con người luôn có thể bắt đầu lại, luôn có thể đưa đời mình vào một hành trình mới, siêu việt cách triệt để … và chính trong ý nghĩa ấy, sự trung tín lại trở thành mấu chốt mang tính quyết định cho vận mạng một đời người.
9. Nguồn mạch luân lý mới
9.1 Lối sống đối phó quanh mức trung bình cộng
Trong cuộc sống con người, có nhiều sinh hoạt người ta vẫn thực hiện, nhưng thật ra chỉ là những dị vật trong quỹ đạo sinh hoạt của một con người. Những sinh hoạt ấy không gắn liền vào được “mạch máu” của cuộc đời. Để rồi khi xẩy ra tình huống khác thường, những dị vật ấy sẽ bị loại ra khỏi quỹ đạo sống. Những sinh hoạt ấy không trở thành một đời sống, nghĩa là không có một sự tăng trưởng đúng như qui luật của đời sống đích thực. Việc học hành, hoặc ngay cả một mảnh bằng tiến sĩ, nhưng không trở thành đời sống trí thức, thì chỉ là những kiến thức chết, chẳng nuôi dưỡng hoặc soi sáng gì cho những lãnh vực khác của đời sống con người ấy. Một đời sống, nghĩa là một sự sống có tiến trình tăng trưởng, có khả năng hút lấy nhựa sống và có khả năng sinh hoa trái phong phú. Một hành vi hoặc một cung cách của tôn giáo chưa hẳn là dấu hiệu của đời sống tâm linh, nhưng có thể là những sinh hoạt “dị vật” trong tâm hồn, nghĩa là ngoài những giờ sinh hoạt như thế, những nội dung của sinh hoạt tôn giáo ấy không hề dính dáng gì tới tâm hồn và liên hệ với những vấn đề khác trong đời sống của người ấy. Có thể có những người đã chu tòan rất kỹ lưỡng những sinh hoạt tôn giáo, những ngoài giờ sinh hoạt ấy, mọi suy nghĩ, tính toán, quyết định hoặc những giá trị hướng dẫn đời sống của người ấy chẳng có dính dáng gì đến đức tin, thì đó cũng chỉ là những dị vật trong cuộc sống của con người ấy. Rất nhiều người tín hữu Công giáo Việt Nam giữ đạo nhưng không sống đạo, những người ấy chu toàn những sinh hoạt của đời sống luân lý Kitô giáo như một sự đối phó đối với Chúa, Chúa buộc làm điều gì thì làm điều đó, Chúa không cho làm điều gì thì không làm điều đó.
Nguyên nhân của lối sống đối phó với Chúa, hoặc nói chung là những sinh hoạt dị vật như thế có lẽ là vì người ta đã không bắt được mối liên hệ gặp gỡ thực sự với Chúa. Đời sống đức tin chỉ dính dáng với luật, tuân giữ những điều Chúa dạy như những sự vật. Lối sống ấy không có sự gắn bó với bản thân Chúa, nên chẳng phải là một niềm tin chân chính. Lối sống ấy càng không phải là một đời sống mới của Tân Ước, vì không có tự nguyện, không có nghĩa tình, không có mắc nợ nghĩa tình và dâng tặng… Đời sống đức tin lệch lạc như thế chỉ đưa đến một đời sống luân lý quẩn quanh trên dưới mức trung bình cộng, không thể mời gọi con người vươn lên đến tuyệt đối.
Nguyên nhân sâu xa là vì lối sống ấy chỉ so chiếu đời mình vào sự vật. Mối tương quan lệch lạc của tội tổ tông làm cho con người không còn dễ dàng thật sự dấn thân vị ai khác, nhưng luôn bị cám dỗ dấn thân vì chính mình. Khi người ta tha thiết với một điều gì đó, nhưng không phải là “ai khác”, thì đó chỉ là một sự dấn thân cho sự vật, và cuối cùng đó chính là một sống dấn thân cho chính mình; nghĩa là không ra khỏi được chính mình, không
Ta thấy được một đời sống tôn giáo có tính đối phó với Chúa, trở thành một dị vật, một phần của sự sống đã chết và chỉ còn bám vào cơ thể một cách tùy phụ; đời sống ấy dĩ nhiên chỉ có thể quẩn quanh mức độ trung bình cộng, chứ thực sự không thể sinh hoa trái.
9.2 Điều răn mới của Chúa Giêsu
Chúa Giêsu nhiều lần nói rằng cuộc sống các môn đệ phải trổ sinh hoa trái. Chúa Giêsu muốn đưa cuộc sống con người đi xa hơn, đúng hơn là lên cao hơn tới Chúa. Chúa Giêsu không muốn đời sống luân lý của con người cứ mãi quẩn quanh ở mức trung bình cộng.
Người ta thường toát lược đạo Kitô giáo là “mến Chúa yêu người” dựa theo đoạn văn Mt 22, 34-40 :
”Đức Giê-su đáp : "Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là : " Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Tất cả Luật Mô-sê và các sách ngôn sứ đều tuỳ thuộc vào hai điều răn ấy." (Mt 22, 37-40)
Thật ra, trong trình thuật Kinh Thánh nói trên, Chúa Giêsu chỉ mới giải thích Cựu Ước bằng cách nêu lên một ý nghĩa căn bản, ý nghĩa yêu thương. Tuy nhiên, đó chưa phải là tất cả ý nghĩa của đời sống mới trong Nước Trời. Bởi vì, hai giới răn đó vẫn mới chỉ dính dáng tới nhau trong một ý nghĩa trừu tượng theo kiểu của người Hy Lạp, nghĩa là cùng là giới răn yêu thương. Mặt khác, yêu thương tha nhân như chính mình, thì vẫn chưa phải mức độ cao nhất của tình yêu thương. Việc lý giải Cựu Ước của Chúa Giêsu trong trình thuật này mới chỉ là một bước chuẩn bị để đi đến giới răn mới. Giới răn mới của Tân Ước chính là :
“Đây là điều răn của Thầy : anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình”. Ga (15, 12-13)
Giới răn của Chúa là giới răn mới, giới răn duy nhất, nhưng đó là giới răn thu hợp và hoàn thành tất cả Cựu Ước. Trong giới răn mới của Chúa Giêsu, ta thấy có một nguồn mạch mới nối kết sống động giữa chiều dọc và chiều ngang của giới luật yêu thương : chữ “như” trong Tin Mừng ở đây diễn tả nguồn gốc mang lại sức sống cho việc giữ giới răn, đó chính là tình yêu của Chúa Giêsu tràn xuống các môn đệ. Trong giới răn mới, tình yêu thương đối với tha nhân không phải chỉ là “như chính mình”, nhưng là “chết cho bạn hữu”.
Giới răn mới của Chúa Giêsu đưa người Kitô hữu vào một nẻo đường siêu việt, nẻo đường của cái “bất khả thi” đối với sức của con người, nhưng chính điều đó lại thúc bách người Kitô cần tìm lại nguồn mạch sống đích thực của Nước Trời, đó chính là nguồn mạch tình yêu lớn lao của Thiên Chúa được bày tỏ trong cuộc tử nạn của Chúa Giêsu.
Như thế, đời sống của người Kitô hữu được đặt lại một cách rõ ràng trong mối giây “liên kết ngôi vị”, sống vì Ai khác chứ không phải sống vì sự vật, hoặc sống vì chính mình. Ai khác đây chính là Chúa Giêsu, một Chúa Giêsu dám chết cho chính mình và mời gọi mình cũng dám chết cho bạn hữu. Người Kitô hữu không còn được quyền chọn thái độ sống quanh quẩn trên dưới mức trung bình cộng. Trong ý nghĩa của điều răn mới, người Kitô hữu không còn có thể đổ lỗi cho người khác, dù là tội lỗi của người khác có lớn đến đâu. Vì đó chỉ là cách để tự bào chữa cho thái độ muốn trốn tránh, muốn giải quyết vấn đề tương quan với người khác trong mức độ giới hạn của toan tính con người.
9.3 Sống bằng ơn Chúa Thánh Thần
Đời sống mới trong Chúa Giêsu là điều không thể làm được nếu không có Thánh Thần của Chúa Giêsu. Việc lãnh nhận Thần Khí Nghĩa Tử không phải là một hồng ân thêm vào cho đời sống của người Kitô hữu, không phải là một thứ xa sỉ phẩm dành riêng cho một số người, nhưng chính là hồn sống, là nguyên lý sống căn bản của đời sống đức Tin Kitô giáo. Thánh Thomas đã chủ trương rằng nguyên lý của đời sống đức Tin Kito giáo là ơn Chúa Thánh Thần.
“Yếu tố chính của Luật mới là hồng ân Chúa Thánh Thần, hồng ân này được tỏ lộ trong đức tin hành động qua đức ái” (ST Ia-II, q. 108, a.67)
Tuy vậy, cách trình bày đời sống luân lý trong Giáo Hội hiện nay thì thường dựa trên bộ khung căn bản của Thập Điều. Dĩ nhiên là những sách luân lý ấy vẫn cố gắng vượt qua giới hạn của Thập Điều để hướng tới điều răn mới của Chúa Giêsu, nhưng trong thực tế của đời sống đức Tin, thực tế của đời sống đạo nơi phần lớn người Kito hữu, hoặc nơi phần lớn những giáo huấn được thông truyền trong các lớp giáo lý một thứ phẩm chất của Cựu Ước nhiều hơn là tinh thần của giới răn mới.
Cái gì là cứu cánh thì cũng là nguyên lý. Cứu cánh của đời sống Kito hữu là được đồng thừa tự với Chúa Giêsu để làm con của Chúa Cha, Cứu cánh ấy chỉ có thể đạt đến được nhờ chính sức sống mới của Thần Khía Nghĩa Tử được thông ban cho người Kitô hữu.
Thánh Thần mở ra một chân trời mới của vận mạng con người. Vận mạng con người không còn là một thái độ suy tính, do dẫm để to vẽ cho bản thân mình, nhưng là dám lao mình vào chân trời của mình yêu thương với Chúa, lao mình vào với tất cả niềm khát vọng tuyết đối, với tất cả niềm tin dám “nắm đằng lưỡi”, với giao ước bản thân và trao phó trọn vẹn đời mình trong cuộc phiêu lưu vì Nước Trời.