Sự Sống Mới Trong Đức Kitô - Phần 2
Nhìn lại trong Kinh Thánh, chúng ta có thể thấy một nét kỳ lạ của tình yêu, đó là “tình tay ba”. Đây không phải là tình tay ba của Hàn Quốc để làm cho tình yêu thêm rắc rối, để cả ba đều đau khổ, rồi cuối cùng một kẻ bị loại, hoặc một kẻ phải ra đi vĩnh viễn với cái chết tức tưởi. Mối tình tay ba trong Chúa là một sự phong phú của tình yêu, là sự ứa tràn của tình yêu để đến với nhân vật thứ ba.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
__________________
4. Nguồn sức sống mới
4.1 “Tình tay ba”
Nhìn lại trong Kinh Thánh, chúng ta có thể thấy một nét kỳ lạ của tình yêu, đó là “tình tay ba”. Đây không phải là tình tay ba của Hàn Quốc để làm cho tình yêu thêm rắc rối, để cả ba đều đau khổ, rồi cuối cùng một kẻ bị loại, hoặc một kẻ phải ra đi vĩnh viễn với cái chết tức tưởi. Mối tình tay ba trong Chúa là một sự phong phú của tình yêu, là sự ứa tràn của tình yêu để đến với nhân vật thứ ba.
+ Thứ nhất chúng ta nhận thấy tình yêu của Chúa Cha đối với Chúa con được tuôn tràn xuống các môn đệ :
“Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy”.(Ga 15,9; xc. Ga 6,40; 14,20; 15,16; 16,23; 16,25; 16,27; 20,21; 20,17; …)
+ Rồi chúng ta cũng thấy con đường Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ không phải là con đường đến với chính Ngài mà thôi, nhưng còn là con đường đến với Chúa Cha :
“Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy. Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người." (Ga 14,7; xc. Ga 6,65; 12,26, 14,2; 14,6; 14,9….)
+ Chúng ta thấy Chúa Thánh Thần như hoa trái phong phú của mối tình giữa Chúa Giêsu và các môn đệ.
“Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi”. (Ga 14,16; xc. Ga 14,26; 15,26; 16,15;…)
* Tình yêu của các môn đệ Chúa Giêsu với nhau không thể nào ra khỏi quy luật “tay ba” như thế :
“Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau ; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”. (Ga 13,34; Ga 13,35; 15,12…)
* Cũng thế, trong hệ thống quản trị của Giáo Hội, Chúa Giêsu đòi hỏi Phêrô, muốn chăm sóc chiên, yêu mến Thầy; vì chỉ bằng tình yêu của Thầy, Phêrô mới có thể tận tình chăm sóc đoàn chiên :
“Khi các môn đệ ăn xong, Đức Giê-su hỏi ông Si-môn Phê-rô : "Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có mến Thầy hơn các anh em này không ?" Ông đáp : "Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy." Đức Giê-su nói với ông : "Hãy chăm sóc chiên con của Thầy." (Ga 21,15-17 tt)
Cũng thế, thái độ tha thứ của con người với nhau không phải là những nhân đức luân lý mà con người có thể cố tập cho được, nhưng xuất phát từ chính sự tha thứ của Chúa cho chính mình…(Xc Mt 18, 21-30)
Do đó, trong đức Tin, tình yêu vừa luôn luôn cụ thể đối với một ai khác, lại vừa luôn phải mở rộng hướng tới những người khác nữa. Tình yêu của chúng ta đối với Chúa, tình yêu của Chúa đối với ta, và tình yêu của chúng ta đối với nhau, đó là những chiều kích gắn liền vói nhau. Nếu tình yêu của chúng ta với Chúa mà không thể hiện ra nơi anh chị em của mình, thì, như thánh Gioan đã nói, đó là kẻ nói dối.
“Nếu ai nói : "Tôi yêu mến Thiên Chúa" mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối;vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy”. (1Ga 4,20)
Ngược lại nếu quên đi tình yêu của Chúa, chúng ta sẽ chỉ yêu thương một cách hạn hẹp và méo mó.
“Hỡi anh em là những người con bé nhỏ, chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm”. (1Ga 3,18)
Thiếu vắng tình yêu Thiên Chúa, người ta chỉ biết yêu những người thích hợp với mình; hoặc người ta không thể chấp nhận được nhau vì nhiều lý do hết sức chính đáng, và tình yêu bị thua cuộc trước sức mạnh của sự ghen ghét.… Những điều đó hoàn toàn không phải là nguyên lý của Tin Mừng Đức Giêsu Kitô.
4.2 Khi tôi yếu là lúc tôi mạnh
Trong Kinh Thánh, chữ “giống như” có rất nhiều nghĩa. Tuy nhiên, theo nghĩa căn bản và có tính thần học, chữ “giống như” diễn tả không phải chỉ là một sự giống nhau trong phép so sánh, nhưng là một sự gắn liền với nhau, phát xuất từ cùng một nguồn mạch (Xc Lê Minh Thông, Tình Yêu và Tình Bạn trong Tin Mừng Thứ Tư).
Đây là một ý nghĩa quan trọng, vì nếu hiểu chữ “giống như” theo nghĩa so sánh, người ta sẽ dễ dàng biến Kitô giáo thành một thứ đạo luân lý như các đạo khác, nghĩa là hiểu theo kiểu “đạo nào cũng dạy người ta ăn ngay ở lành”. Kitô giáo không phải chỉ là đạo dạy người ta ăn ngay ở lành (đạo luân lý), nhưng thiết yếu là đạo cứu độ nghĩa là chính Thiên Chúa lao vào cuộc, chính Thiên Chúa thông ban sức mạnh, chính Thiên Chúa dẫn dắt con người trên con đường ăn ngay ở lành.
Khi Sách Sáng Thế nói Thiên Chúa sáng tạo nên con người giống hình ảnh Thiên Chúa, thì việc so sánh con người, hoặc có lý trí, hoặc có tình yêu giống Thiên Chúa chỉ là ý nghĩa phụ. Ý nghĩa chính yếu của khẳng định nhân học căn bản Kitô giáo chính là : con người được sáng tạo nên giống hình ảnh Thiên Chúa, thì con người chỉ có thể sống trọn vẹn vận mạng đời khi mình sống-với Chúa, khi gặp gỡ, giao tiếp, thông hiệp… với Chúa.
Cũng thế, thánh Gioan nói :
“Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy. (…) Đây là điều răn của Thầy : anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình”. (Ga 15, 9. 12-13)
Đó không phải là một sự so sánh, nhưng một nguồn mạch tuôn trào của tình yêu, tuôn trào từ Chúa Cha đến Chúa Giêsu, rồi cũng sức sống tình yêu ấy lại tuôn trào đến các môn đệ, rồi tuôn trào giữa các môn đệ với nha. Chính trong nguồn mạch ấy, người Kitô hữu được mời gọi để thể hiện một thứ tình yêu trọn vẹn nhất, tình yêu hy sinh mạng sống vì bạn hữu.
Trong đạo cứu độ, Thiên Chúa không phải như một người “thầy” thuần túy, nghĩa là dạy học cho xong nhiệm vụ của mình, rồi chuyện thi cử là chuyện của học trò. Nhưng ở đây Thiên Chúa dấn thân vào cuộc, tựa như người cha, người mẹ, tìm mọi cách, dù phải cực nhọc bản thân, để có thể giúp cho con mình thi đậu.
Như thế, trong đời sống đức Tin Tân Ước, chính Thiên Chúa mới là nguồn mạch của mọi sự, mọi nỗ lực luân lý cũng như mọi tiến trình thăng tiến của đời sống. Tiến trình đó không dừng lại ở mức độ sống lành mạnh, “ăn ngay ở lành”, nhưng hướng tới sự hoàn thiện của chính Thiên Chúa :
“Vậy, anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5,48).
Trong nguồn mạch mới, nếu ta không tha thứ được cho anh chị em của mình, thì điều quan trọng nhất không phải là nỗ lực, quyết tâm, nhưng là chạy về nguồn để đón nhận được nhiều hơn nữa sự thứ của Thiên Chúa; nếu ta chưa phục vụ anh chị em mình cho đủ, thì nguồn mạch là trở về để nhận ra Chúa đã phục vụ mình quá nhiều…
Như thế, ta hiểu ra nguồn sức sống căn bản của Kitô giáo đó chính là sức sống của Chúa. Sức sống ấy diễn tiến theo một quy luật khá ngược đời, nhưng lại là quy luật chân chính diễn tả mạch nguồn của đời sống Kitô giáo :
“Vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh” (2 Cr 12, 10)
4.3 Kẻ bé mọn trong Nước Trời
Chính trong quy luật căn bản ấy, ta hiểu ta ra tại sao Chúa Giêsu nhiều lần nhắc nhủ : những người đầu hết sẽ nên cuối hết…; ta hiểu ra tại sao Tin Mừng cứu độ của Chúa được tỏ hiện một cách rõ ràng sống động nhất nơi những người bé mọn.
Có thể nói rằng, một đời sống đức tin chân chính trong đời sống Giáo Hội được chứng nghiệm trong vận hành của ơn cứu độ tràn đến những người bé mọn. Một Giáo Hội mà người bé mọn không tìm được nguồn mạch để sống, những người ưu tuyển thì được đánh giá cao cũng như thể hiện nhiều đức độ… thì điều đó có nghĩa là Giáo Hội đã biến đạo cứu độ thành đạo luân lý.
Sứ vụ của Đức Giêsu rõ ràng là nhằm tới những người nghèo: Khởi đầu sứ vụ Chúa đã được đầy Thánh Thần để đi loan báo Tin Mừng cho những người nghèo {Lc 4,16,21}; đức Giêsu chỉ vui mừng một lần duy nhất khi nhận ra nhiệm cục cứu độ của Chúa Cha được thể hiện : “Ngay bấy giờ được Thánh Thần tác động, đức Giêsu hớn hở vui mừng và nói . . . “ {Lc10, 21}. Kiểu sống của Chúa Giêsu la lê la với những người nghèo. . . Ngài luôn bênh vực những người nghèo và xác định phẩm giá của người nghèo dựa vào lòng tôn trọng của chính tình thương của Chúa. Niềm vui mừng lớn nhất trong cuộc đời Chúa Giêsu chính là khám phá ra thánh ý yêu thương đặc biệt của Chúa Cha dành cho những người bé mọn nhất :
“Ngay giờ ấy, được Thánh Thần tác động, Đức Giê-su hớn hở vui mừng và nói : "Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha”.(Lc 10,21)
Quả thật chính sức mạnh của “lời chứng”, chứ không phải giáo huấn hay làm gương, mới là sức mạnh của Nứoc Thiên Chúa, và sức mạnh của lời chứng chỉ có thể tìm thấy nơi chính người nghèo, những người nghèo cả về thể chất và tinh thần, cả trong năng lực và đức độ, những người nghèo được cứu độ.
Trong hiện tình Giáo Hội, người nghèo chưa có “chỗ đứng” trong Giáo Hội. Giáo Hội vẫn bộc lộ trong rất nhiều đường nét, từ tư tưởng cho đến quản trị, từ tu đức cho đến mục vụ… là Giáo Hội của những con chiên ngoan, hoặc Giáo Hội của những người có khả năng hiểu biết một cách nào đó. Sinh hoạt của Giáo Hội, bộc lộ sức sống của Giáo Hội, nói chung, vẫn có tính cách “từ trên xuống” và rất ít những mối tương tác của sự sống đức Tin trong sự hiệp thông “chiều ngang”, hoặc “từ dưới lên “. Người nghèo, người bé mọn trong Giáo Hội vẫn là những người lãnh nhận chứ không phải là người được “đóng góp” sự hiện diện của mình như một nét đặc trưng của Giáo Hội Chúa Kitô, và đóng góp chứng tá của mình như một căn tính đặc trưng của lịch sử ơn Cứu Độ Kitô giáo.
* Tạm Kết
Ta có thể nói được chăng : thần khí của Chúa được chứng nghiệm nơi đời sống của một người Kitô hữu, khi người đó có khả năng “nhìn xuống”, có khả năng “liên lụy” với người nghèo, có khả năng khám phá quyền năng của Thiên Chúa yêu thương nơi những người bé mọn nhất ???
****
5. Tâm tình căn bản
5.1 Tìm lại sức mạnh căn bản của tình nghĩa
Xã hội văn minh càng ngày sợ những mối liên hệ tình nghĩa phức tạp, người ta muốn chuẩn hóa mọi mối liên hệ bằng quy định của luật pháp. Trong khi đó, tình tự của ơn cứu độ Kitô giáo lại diễn tiến theo một chiều hướng ngược lại hoàn toàn. Đó cũng là một trong những nguyên nhân sâu xa khiến nhiều người tây phương từ bỏ Kitô giáo, để sống vô thần, hoặc chọn theo những tôn giáo khác. Ta có thể duyệt xét một nét tiêu biểu của vấn đề này, vấn đề tội lỗi.
5.1.1 “Cái ác” trở thành ”tội lỗi”
Kinh Thánh cho thấy tội lỗi chính là một đường nét căn bản trong tình tự ơn cứu độ Kitô giáo. Trong hoàn cảnh thực tế của con người có tội, thì chính tội lỗi lại là khung cửa để con người nhận ra mối tương quan với Thiên Chúa. Theo nhãn quan Kinh Thánh, cái ác không phải chỉ là một sự bất toàn mà mình “có gan chơi” thì “có gan chịu”, nhưng cái ác đặt con người đối diện với Chúa và với tha nhân. Cái ác trở thành tội vì cái ác không phải chỉ là chuyện giữa ta với sự vật, những là chuyện giữa ta với ai khác. Cái ác trở thành tội, vì cái ác diễn tả trách nhiệm của ta với ai khác; cái ác không còn chỉ là vô minh, không còn chỉ là ngu dốt, không còn chỉ là lầm lẫn, nhưng là một thái độ bất trung. Chính vì thế, tội lỗi hé lộ cho con người nẻo đường đi vào ơn cứu độ. Như thế, trong chiều hướng của Thánh Kinh, để giải quyết cái ác, thì không phải là chọn phương cách giảm nhẹ cái ác, làm cho các ác trở thành một “sự vật”, nhưng một cách nào đó là gia trọng tầm mức của cái ác để trở thành tội lỗi, thành trách nhiệm đối với ai khác.
5.1.2 Tội lỗi và ơn cứu độ
Chính từ nẻo đường của mối tương quan ngôi vị do tội lỗi đặt ra mà người Kitô hữu được mời gọi để đi vào ơn cứu độ trong Đức Giêsu Kitô. Chính người tội lỗi lại là những người có nhiều cơ may nhất để đón nhận được ơn cứu độ của Chúa, bởi vì họ nhận ra trách nhiệm của mình với Chúa và nhận ra mình cần tới Chúa. Nhận ra mức độ trầm trọng của tội lỗi để có thể nhận ra lòng khao khát ơn cứu độ; nhận ra sự bất trung để nhận ra nẻo đường của ơn cứu độ bằng tình yêu thương. Đó là một trong muôn vàn nét “đảo ngược” kỳ lạ của Tin Mừng Đức Giêsu Kitô :
“Nghe thấy thế, Đức Giê-su nói với họ : "Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi." (Mc 2,17).
“Vậy, tôi nói cho các ông hay : trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn”. (Lc 15,7).
5.1.3 Cứu độ và nên thánh
Các môn đệ của Chúa Giêsu không phải là những con người ưu tuyển, cả về phương diện trí thức cũng như về phương diện đời sống luân lý; các thính giả của Chúa Giêsu cũng không phải là những người có văn hóa cao hoặc là những người lành thánh nào cả. Ngược lại, những người chung quanh Chúa, hầu hết là những con người bình thường, hoặc có thể nói là tầm thường, hoặc rất tầm thường nữa. Dĩ nhiên, với những người như thế, Chúa Giêsu thường dùng những dụ ngôn, với những hình ảnh và những chuyện đời thường để tỏ bầy những chân lý cao siêu; và dĩ nhiên Chúa Giêsu cũng không thể một lúc trình bày được hết những mầu nhiệm thâm sâu của Thiên Chúa. Thế nhưng, về phương diện đạo đức, Chúa lại không ngần ngại đặt ra những lý tưởng cao vời của đời sống luân lý. Chúa không giảm nhẹ chút nào đòi hỏi của lý tưởng Tin Mừng. Chúng ta có thể thấy rõ điều đó trong toàn bộ giáo huấn luân lý của Chúa Giêsu, đặc biệt trong bài giảng trên núi :
“Vậy anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.” (Mt 5,48)
Nẻo đường mà Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ bước vào là một nẻo đường mà ngay cả những bậc thánh hiền cao cả nhất của nhân loại cũng không dám nghĩ đến :
"Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta, vì Luật Mô-sê và lời các ngôn sứ là thế đó”. (Mt 7,12).
Điều mình không muốn người khác làm cho mình, như đức Khổng Tử dạy, thì chỉ giới hạn trong một số điều thôi; nhưng điều mình muốn người khác làm cho mình thì lại vô cùng, không có giới hạn, đó mới chính là điều đức Giêsu dạy.
Chúng ta có thể thấy rõ, nẻo đường đi vào ơn cứu độ của Chúa Giêsu không phải là bình bình, vừa vừa, phai phải, nhưng là một bước nhẩy trọn vẹn và quyết liệt vào con đường nên thánh, vào con đường hun hút đến trời mà tự thân nhân loại không dám bước vào. Con đường ấy dĩ nhiên chỉ khả thi trong ơn cứu độ của Đức Giêsu, chỉ khả thi khi người Kitô hữu nhẩy vào thế giới của Nước Trời và đón nhận được sự sống mới trong ơn sủng của Chúa Thánh Thần. Quả thật tình tự của ơn cứu độ Kitô giáo chỉ có thể hình thành được từ con đường nhận ra tầm mức hệ trọng của tội lỗi để có thể bước vào con đường trở nên con cái của Thiên Chúa. Một cái ác lớn thì chỉ có thể được giải quyết bằng một cái thiện lớn.
“Nếu tôi dựa thế Bê-en-dê-bun mà trừ quỷ, thì con cái các ông dựa thế ai mà trừ ? Bởi vậy, chính họ sẽ xét xử các ông. Còn nếu tôi dùng ngón tay Thiên Chúa mà trừ quỷ, thì quả là Triều Đại Thiên Chúa đã đến giữa các ông. Khi một người mạnh được vũ trang đầy đủ canh giữ lâu đài của mình, thì của cải người ấy được an toàn. Nhưng nếu có người mạnh thế hơn đột nhập và thắng được người ấy, thì sẽ tước lấy vũ khí mà người ấy vẫn tin tưởng và sẽ đem phân phát những gì đã lấy được.” (Lc 11,19-22)
Tất cả nẻo đường ấy đề không phải là nẻo đường của đời sống luân lý, nhưng là nẻo đường của ơn cứu độ, một thứ ơn cứu độ bằng tình nghĩa.
5.2 Mắc nợ nghĩa tình
Sinh ra làm người, người đã mắc nợ nhau về rất nhiều điều : ngôn ngữ, văn hóa, những giá trị nhân bản… Nhưng nhất là con người được sống trong tình trạng mắc nợ nghĩa tình.
Mắc nợ là điều có lẽ chẳng ai muốn. Khi mắc nợ tiền bạc, mắc nợ một sự vật nào đó, người ta tìm cách trả cho xong để có thể thảnh thơi tính toán công việc làm ăn cho riêng mình. Đó là khi mà sự trao đổi giữa người này với người kia hoàn toàn chỉ là một sự trao đổi đồ vật; và người ta muốn giới hạn mối tương quan con người với nhau trong mức độ “thuận mua vừa bán”. Tuy nhiên, chẳng những mức độ “thuận mua vừa bán” không thể giải quyết rốt ráo tương giao con người với nhau, nhưng tự chính thâm tâm mỗi người cũng không thể tìm được sự an hòa bản thân trong xã hội công bằng mà không mở ra đến khung trời yêu thương. Con người khát vọng yêu thương và khung trời yêu thương không là gì khác hơn thế giới của mắc nợ nghĩa tình, thế giới vượt trên những trao đổi sòng phẳng, thế giới mà người ta biết trao tặng tấm lòng, trao tặng bản thân và biết đón nhận với lòng tri ân. Món nợ nghĩa tình là món nợ không bao giờ có thể trả hết. Khi người ta biết trao tặng cho nhau tấm lòng và trao tặng cho nhau chính bản thân, thì thái độ liêm chính nhất của người nhận lãnh là sống trong tâm tình mắc nợ nghĩa tình. Bởi vì tấm lòng con người và nhất là bản thân của mỗi con người đều là điều vô giá mà người lảnh nhận không thể lấy điều gì để bù đắp cho cân xứng.
Không phải ngẫu nhiên mà, bình thường, con người có tâm tình mắc nợ nghĩa tình đối với cha mẹ của mình. Lòng hiếu thảo của con người đối với cha mẹ, thật ra, không phải là một sự trả nợ công lao của cha mẹ như một thứ công xá. Công xá, dù có lớn lao đến đâu vẫn là một thứ có thể trả được một cách sòng phẳng. “Công xá” cha mẹ là sự trao tặng của nghĩa tình, là sự trao tặng của cả một đời, của chính bản thân cha mẹ, và điều đó không bao giờ người con có thể đền đáp được. Con cái được ơn mắc nợ nghĩa tình đối với cha mẹ, một sự mắc nợ cần thiết cho đời người, một món nợ ngọt ngào, một món nợ hồng phúc mà nhờ đó đứa con có thể sống cho ra người, sống trong lòng tri ân và sống trọn vẹn bản thân mình để đền đáp nghĩa tình mà mình đã được lãnh nhận. Tình cảm mắc nợ nghĩa tình làm cho con người không còn sống cho chính mình nữa, nhưng là sống cho tình yêu; món nợ nghĩa tình làm cho con người không còn chỉ an tâm sống trong thế giới sự vật nữa, nhưng được móc nối để có khả năng bước vào lĩnh vực tình người, lĩnh vực trao đổi bản thân của mình với người khác. Tình cảm mắc nợ nghĩa tình không phải là một sự bận lòng, phiền hà, mà là một tình cảm ngọt ngào của người được yêu.
“Anh em đừng mắc nợ gì cả, ngoài món nợ tương thân tương ái” (Rm 13,8).
Sống trong mắc nợ nghĩa tình, con người như được hoán cải từ bên trong, để có thể vận dụng tất cả mọi năng lực của bản thân mình mà sống cho xứng đáng với ân nghĩa mà mình đã được lãnh nhận. Người ta nói rằng ; bình thường con người không mấy khi sử dụng hết năng lực của mình. Chỉ trong những hoàn cảnh bắt buộc, những tình huống nguy hiểm, người ta mới bỗng thấy mình làm được những điều mà chính mình cũng không ngờ. Khi đứa con biết sống trong tâm trạng mắc nợ nghĩa tình, thì nó có được một sức mạnh vô địch, nó sẽ không còn lợi dụng những khó khăn để chữa mình với cha mẹ, nhưng cương quết bằng chính tấm lòng để vượt qua những khó khăn và làm cho bằng được điều làm vui lòng cha mẹ. Hơn nữa, sống trong tình trạng mắc nợ nghĩa tình, đứa con như được hướng dẫn từ lương tri để có thể sống tốt, sống xứng đáng với công lao của cha mẹ.
5.3 Lãnh nhận với lòng tri ân
5.3.1 Sống dựa và bệnh sĩ
Khi đón nhận, người ta sẽ có thể rơi vào hai thái cực, thái cực hoặc bất cập . Nếu đứa con dựa dẫm, nó sẽ không biết đón nhận với lòng tri ân, nó không biết quí trọng món qùa nhận được như là món quà vô giá của chính tấm lòng, nó tiêu xài đồng tiền của cha mẹ một cách phung phí hoặc một cách dễ dãi, nó nghĩ thầm hết tiền thì lại xin mẹ, thi rớt thì bố cũng lo cho mình được học để thi lại thôi.,.. Ngược lại, cũng có những người sống theo kiểu bệnh sĩ, không muốn lảnh nhận điều gì của ai mặc dù mình rất cần đến nó; hoặc không muốn nhận tấm lòng của ai,nên chọn giải pháp làm một phép tính để qui đổi tấm lòng của người khác thành đồng tiền, thành sự vật, nhằm mong có thể trả lại sòng phẳng.
Bệnh sĩ và sống dựa, cả hai thái cực đó đều là những tình cảm xấu, đều là cách thức giản lược cuộc sống nghĩa tình của con người với nhau trở thành cuộc trao đổi sự vật, cuộc trao đổi bên ngoài bản thân, cuộc trao đổi có thể chấm dứt khi đã giải quyết sòng phẳng. Nhưng người ấy sẽ chẳng tìm được hạnh phúc và sức mạnh của kẻ được “mắc nợ tình nghĩa” và sống cả một cuộc đời với sự vật chứ không phải với con người. Ta có thể nói được rằng những thái độ ấy là một cách né tránh sống trọn kiếp người.
5.3.2 Lãnh nhận trong lòng tri ân
Nếu có điều kỳ diệu trong trao tặng, thì cũng có điều kỳ diệu trong lãnh nhận. Lảnh nhận trong lòng tri ân, là đón nhận món quà của người khác như là đón nhận chính tấm lòng. Người ta có thể mua bán đổi chác được mọi sự, đồng tiền mua lấy vật dụng và sự phục vụ , tài năng mua được một sự nể phục, đạo đức mua được sự kính trọng, địa vị mua được sự vâng phục… nhưng lòng quí mến chân thành của một người này dành cho một người khác thì không gì có thể mua bán được. Tấm lòng của con người là một huyền nhiệm vô giá mà không gì có thể tương xứng để đổi chác. Do đó cũng không ai có thể mua được tấm lòng của người khác. Người ta chỉ nhận tấm lòng khi được ban tặng mà thôi :
“Ai đem hết gia tài sự nghiệp mà đổi lấy tình yêu, ắt sẽ bị người đời khinh chê”.(Dc 8,7)
Lãnh nhận trong lòng tri ân cũng là đón nhận tấm lòng người trao tặng bằng chính tấm lòng. Đó là dùng chính tấm lòng của mình để ấp ủ tấm lòng của người khác; đó là một chương trình “từ trái tim đến trái tim”; đó thật sự là hiệp thông, là “ở trong” nhau chứ không phải chiếm hữu hay mua bán đổi chác:
“…để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai con.” (Ga 17,21).
Khi người ta biết đón nhận từ tấm lòng chứ không so đo tính toán theo tương giao lễ nghĩa của công ước xã hội, thì chính tấm lòng tri ân ấy sẽ nối kết “từ bên trong” những thành viên gia đình với nhau, để người này có thể thông chia vui buồn với người kia; và để tiếp sức mạnh của tình nghĩa phát huy trọn sức mạnh trong cuộc đời mỗi người .Chính lòng tri ân như vậy trở thành một động lực mạnh mẽ thúc đẩy những quyết tâm sống liêm chính hơn, sống hoàn thiện hơn. Đón nhận tấm lòng để biết tri ân nhau, chúng ta được bước vào một thế giới mới, thế giới đặc trưng của đời sống gia đình, thế giới của lòng tri ân.
5.3.3 Bước vào thế giới của lòng tri ân
Có khi người mẹ cho con hai trăm ngàn đồng để đi chơi với bạn bè; đứa con llãnh nhận với lòng tri ân mẹ vì mẹ làm điều đó không phải vì “trả nợ quỉ thần”, nhưng chỉ do tấm lòng yêu thương của mẹ mà thôi. Rồi khi đứa con đi chơi về, nó cố tình để dành lại năm ngàn đồng để mua cho mẹ một cái bánh; bà mẹ đón nhận món quà của con cũng với lòng tri ân, vì đứa con đã tình nguyện và bằng tấm lòng của mình, dùng năm ngàn đồng mà nó đã nhận để diễn tả tình yêu đối với mẹ. Đó là thế giới của lòng tri ân chứ không phải là thế giới của sự mua bán đổi chác sòng phẳng. Đó là thế giới mà các sự vật, hai trăm ngàn đồng và năm ngàn đồng, không còn chỉ là giá trị đồng tiền theo ngân hàng nhà nước, nhưng là phương tiện để diễn tả nghĩa tình mẹ-con với nhau. Trong sự trao đổi ấy, chính tấm lòng con người là thực tại khiến người ta tri ân nhau chứ không phải là hai trăm ngàn hay năm ngàn đồng.
Điều quan trọng không phải là trị gía món quà bạn lãnh nhận, mà là chính tấm lòng. Bạn cần vượt qua, nhẩy qua khỏi thế giới thuận mua vừa bán để thênh thang bước vào thế giới của lòng tri ân khi nhận ra dấu hiệu của nghĩa tình. Thế giới của lòng tri ân cũng diễn ra theo qui luật “đắp đổi” của cuộc sống, “bánh ít cho đi, bánh qui cho lại”. Nếu bạn bắt đầu sống tình nghĩa thì bạn sẽ được đáp lại bằng tình nghĩa; và cái tình nghĩa ấy sẽ đắp đổi để mỗi ngày một sâu đậm hơn. Nếu bạn bắt đầu được bằng thái độ tri ân, thì lòng tri ân cũng sẽ được đắp đổi để nhân lên nơi người thân của bạn. Ngược lại, nếu bạn so đo, tính toán; nếu bạn tiếp tục phàn nàn trách móc bạn sẽ chẳng gieo mầm được cho thế giới nghĩa tình. Trong cuộc sống, đặc biệt là trong gia đình, điều hết sức cần thiết là bạn hãy dám tin vào tình yêu, tin vào sự thiện, tin vào tấm lòng, tin vào lòng tri ân… và tin vào sức mạnh của những điều ấy củng có nghĩa là cần một lòng kiên vững và trung tín. Lòng kiên vững ấy sẽ được mạnh mẽ thêm nhiều khi bạn biết gắn những thiện hảo ấy vào niền tin nơi Chúa. Khi gieo tình thương, Chúa đã chẳng gặt được ngay hoa trái của tình thương, nhưng là sự trả thù bằng chính bản án tử hình. Nhưng dù thế nào đi nữa, tình yêu không thể thua cuộc; và dù hai ngàn năm qua, tình yêu của Chúa vẫn tiếp tục sống động để gây dựng vương quốc tình yêu của Ngài.
“Thầy nói với anh em những điều ấy, để trong Thầy anh em được bình an. Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó. Nhưng can đảm lên ! Thầy đã thắng thế gian”.(Ga 16,33).
Trong bình diện đời sống nghĩa tình, người ta luôn luôn biết tri ân nhau vì những tình cảm tốt đẹp mà người này dành cho người kia. Tâm tình đó xóa mờ những thứ mà ở nơi khác người ta có thể cho là bất công.
* Tạm Kết
Nếu mầu nhiệm Nước Trời vượt quá tính cách “trao đổi” của Cựu Ước, để vươn tới mức độ nghĩa tình cao quí hơn do tính cách “trao tặng”, thì sức mạnh căn bản của đời sống mới cũng chính là tâm tình “mắc nợ nghĩa tình”, và đó mới thực sự là động lực chân chính trong “đẳng cấp” của đời sống nghĩa tình.
6. Đáp trả của người Kitô hữu
6.1 Phẩm giá con người trước nhan Thiên Chúa
Các triết gia lớn nhất của Hy Lạp, và cũng là của thế giới, như Platon và Aristote, đã không phân biệt được phẩm giá và tài năng. Một khi không phân biệt được phẩm giá và tài năng, người ta, hoặc sẽ rơi vào thái độ khinh thường những người có ít tài năng trong cuộc đời; hoặc là người ta muốn “cào bằng” tất cả, ăn đồng chia đều trong tất cả mọi công việc, dù đó là những công việc thực sự không thích hợp. Các triết gia Hy Lạp thấy rằng các người phụ nữ và người nô lệ có ít trí khôn, nên đương nhiên cũng phải là những người thấp kém trong đô thị. Ngược lại một số trào lưu xã hội lại muốn cào bằng bằng cách phân chia tất cả mọi người phải và được làm những công việc như nhau.
Chính Tin Mừng của Chúa Giêsu mới thật sự là nguồn mạch của phẩm giá con người, phẩm giá là-người cũng như phẩm giá làm-người. Chúa Giêsu cho thấy phẩm giá là-người của những kẻ bé mọn và khẳng định nền tảng của sự bình đẳng ấy được chuẩn nhận nơi chính Thiên Chúa :
"Anh em hãy coi chừng, chớ khinh một ai trong những kẻ bé mọn này ; quả thật, Thầy nói cho anh em biết : các thiên thần của họ ở trên trời không ngừng chiêm ngưỡng nhan Cha Thầy, Đấng ngự trên trời”. (Mt 18, 10)
Chúa Giêsu cũng khẳng định phẩm giá làm-người khi cho biết điều quí trọng của đời sống con người không phải là một so sánh sự hơn thua bên ngoài, nhưng là sự sẵn sàng cho đi ít nhiều những gì thuộc về chính bản thân mình :
“Người liền nói : "Thầy bảo thật anh em : bà goá nghèo này đã bỏ vào nhiều hơn ai hết. Quả vậy, tất cả những người kia đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ, mà bỏ vào dâng cúng ; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình, mà bỏ vào đó tất cả những gì bà có để nuôi sống mình." (Lc 21,3-4)
Lập trường của Chúa Giêsu cho thấy Thiên Chúa tôn trọng con người, tôn trọng cả trong địa vị là người cho đến phẩm chất làm người. Lòng tôn trọng ấy là điều kiện căn bản để con người có thể sống trong thế giới yêu thương đích thực. Một khi được Thiên Chúa tôn trọng, con người mới có thể phát khởi một hành trinh mới, hành trình tự do và tình nghĩa, hành trình để đến với Chúa trong tương quan tình nghĩa, hành trình dâng tặng chính bản thân của mình. Hai khía cạnh đó gắn liền với nhau và là điều kiện cho nhau. Công Đồng Vatican II, hiến chế Mục Vụ Vui Mừng và Hy Vọng nói rằng :
“Con người là tạo vật duy nhất ở trần gian được Thiên Chúa dựng nên vì chính họ, chỉ có thể gặp lai chính bản thân mình nhờ thành thực hiến dâng” (MV 24c).
Con người chỉ có thể đáp lại tình nghĩa với Chúa khi có được một phẩm giá cao quí trước mặt Chúa, và rồi tự nguyện trao tặng chính bản thân của mình.
6.2 Lời kêu mời ra khỏi bản thân
Sự vật vật chất thì “lù lù” ra đó, nó là nó. Nó chẳng bao giờ ra khỏi bản thân, nên cũng chẳng đổi ra khác được. Nó sống hay chết cho một mình nó. Sự sống thì có một cơ chế đặc biệt hơn, sự sống có thể tự gạn lọc để thu nhận những gì thích hợp, tiêu hóa những gì mình thu nhận để biến trở nên chính xương thịt của mình. Sự sống cũng “tìm cách” ra khỏi bản thân mình để muốn sống “trường tồn” bằng sự sinh sản. Thế nhưng sự sống của con vật, thì dù tiêu hóa cao lương mỹ vị gì, thì vẫn chỉ là nó; và khi nó “ra khỏi bản thân” qua sự sinh sản, thì cũng chỉ là một sự kéo dài thêm sự sống của nòi giống. Cá thể của sinh vật chỉ là phương tiện cho giống nòi, và chính giống nòi của con vật thì cũng không có cứu cánh tự thân.
Con người cũng là một sự sống, nhưng sự sống của con người thì khác hẳn. Đó là một sự sống có phẩm chất tinh thần, nó có thể ra khỏi bản thân mình để đạt đến một sự hiệp thông sâu xa với ai khác, nó có khả năng “trường tồn” khi chuyển sự sống của mình sang người khác. Sự chuyển thông này không phải chỉ là chuyển thông sự sống sinh vật của giống nòi, mà là sự sống độc đáo với những mơ ước và những giá trị cá nhân của mình. Con người như một cá thể độc đáo, mơ ước trường tồn, khát vọng tuyệt đối, có khả năng ra khỏi bản thân mình, bằng ngõ ra của tình yêu; để đến với ai khác, phó cả sự thành đạt đời mình cho ai khác.
Thật ra, bản thân tự tại của con người thì rõ ràng là một sinh vật tương đối. Tất cả thành công hay thất bại của tôi chỉ là cái hết sức tương đối. Tôi thành công thì có người thành công hơn tôi; tôi đau thì cũng có người còn đau hơn tôi; cuối cùng cuộc đời tôi đụng chạm vào cái chết, và mọi sự dính dáng đến tôi cũng tỏ hiện tất cả tính tương đối căn bản của nó trong cái chết của tôi. Mặt khác, trong thế giới sự vật, con người chẳng là gì cả; đứng trước con cọp, một con người không hơn gì một con nai.
Nhưng khi tôi yêu, tôi mong điều tốt cho người tôi yêu, tôi quan tâm đến người khác hơn là về tôi, và tôi bắt đầu biết di chuyển trọng tâm đời tôi ra khỏi cái tôi ích kỷ và giới hạn của tôi để đặt trọng tâm cuộc đời nơi người tôi yêu. Với một trọng tâm khác thì ý nghĩa của thành công hay thất bại cũng khác. Cái thành công của tôi có thể lại trở nên xấu, nếu nó mang lại điều không hay cho người tôi yêu. Ngược lại cái đau của tôi lại có thể trở nên tốt khi nó được đánh giá từ trọng tâm là điều tốt cho người tôi yêu. Với tình yêu thương, cuộc đời có thể thay đổi hoặc đảo ngược ý nghĩa; vì trong tình yêu, cuộc đời, thay vì là vun quén cho bản thân, lại trở thành như một hành vi cho đi; và cho đi trọn vẹn nhất chỉ có thể là cho đi chính bản thân.
Nơi đây, tính chất tuyệt đối của con người mới ló dạng. Phẩm giá tuyệt đối của con người chỉ xuất hiện khi được đưa vào bình diện giá trị, nghĩa là trong sự đánh giá của tự do con người trong bình diện nhân văn (và do đó nó cũng có thể bị chối từ nếu như người ta không bước vào bình diện nhân văn của con người). Những cái giới hạn tự tại của con người sẽ tan biến đi khi người ta biết trao tặng và trao tặng bản thân cho nhau. Khi ta trao tặng bản thân mình cho người khác, nghĩa là ta đã nhận ra giá trị tuyệt đối của người khác; và khi ta trao tặng bản thân cho người khác thì cũng có nghĩa là ta đưa bản thân mình vào thế giới tuyệt đối. Cũng vậy, khi một người lãnh nhận bản thân dâng tặng của người khác như một tuyệt đối, không thể lấy điều gì khác thay thế được cho bản thân của người khác, nghĩa là người đó biết nhận ra giá trị tuyệt đối của bản thân ai đó, giá trị không có gì có thể đổi chác hay mua bán được. Nếu cả hai chiều hướng đó đều thể hiện được một cách chân chính, nghĩa là không đánh giá sự vật như con người hay hơn con người, nghĩa là không giản lược con người thành một sự vật, nghĩa là tính tuyệt đối của một con người được đón nhận trong tự do chân chính, thì thế giới của tuyệt đối đuợc khai mở…
Quả thật, người ta không thể ra khỏi bản thân mình được nếu không có cánh cửa của tình yêu thương; vì chính tình yêu mới có thể là động lực giúp con người trao tặng bản thân, cũng như chính tình yêu mới có thể mở rộng tấm lòng để đón nhận bản thân người khác như một tuyệt đối.
Con đường hoàn thành vận mạng của đời người, cuối cùng, lại chính là gom góp trọn cuộc đời mình để cho đi. Đó không là gì khác hơn con đường dấn thân; và đó là phương cách duy nhất để ra khỏi cái tôi giới hạn, tương đối, bất tất, chóng qua, để đi vào bình diện tuyệt đối. Chính tình yêu mới có thể là cánh cửa cho con người ra khỏi chính mình, và chính tình yêu mới có thể giúp cho con người hoàn thành vận mạng tương đối của mình. Tình yêu như thế là cánh cửa mở ra với tuyệt đối.
6.3 Tìm hạnh phúc trong ý nghĩa dâng tặng bản thân
Trao tặng là một vận hành đặc biệt diễn tả được tình tự yêu thương của cuộc sống con người. Có khi ta đi ăn tiệc tại nhà một người bạn và gặp một món ăn không được ngon lắm. Nhưng khi đó, chủ nhà giới thiệu với ta : đây là “cây nhà lá vườn”. Điều đơn giản ấy tức khắc làm cho món ăn không ngon lành đó trở thành quí; vì như thế là ta được tham dự vào đời sống, được chia sẻ hành trình sống của gia chủ. Cũng thế, một món quà mọn, được dâng tặng với cả tấm lòng thành, sẻ trở nên quí giá; và người nhận được món quà ấy, nếu có đủ tấm lòng như một con người chân chính, sẽ đón nhận được tính cách quí giá ấy trong niềm vui.
Khác với trao đổi, bản chất của trao tặng không phải là sự trao đổi hai sự vật, nhưng là trao tặng bản thân cho nhau. Trong sự trao đổi, bao giờ cũng phải có sự phân biệt giữa “chủ thể trao đổi” và “vật trao đổi”. Chủ thể trao đổi đứng bên ngoài vận hành trao đổi, họ chỉ dùng “vật trao đổi” như “vật thí thân” để tìm phần lợi khác cho mình. Ngược lại, trong trao tặng, chính chủ thể đưa vào vật trao đổi một phần nào đó của bản thân mình, sản phẩm là sự bộc lộ chính tình nghĩa của người trao tặng. Trong trao tặng, “vật trao tặng” và “chủ thể trao tặng” chẳng những không “lợi dụng”, không “thí bỏ” nhau, nhưng liên hệ với nhau trong cùng một dòng ý nghĩa.
Thật ra, trong mức độ sống của con người, giá trị của một sự vật không hoàn toàn lệ thuộc vào giá trị tự thân của chính sự vật ấy, hoặc do tiêu chuẩn đánh giá của xã hội thị trường, nhưng còn do ý nghĩa mà con người ban tặng cho nó. Đó là cách thức sống siêu việt của con người; nơi đó, người ta trao đổi tình nghĩa với nhau chứ không phải phân chia để hưởng thụ sản phẩm; nơi đó, chính tấm lòng của con người được gởi vào các sản phẩm là điều quan trọng hơn và đôi khi có thể làm cho các sản phẩm ấy trở nên tuyệt đối. Nguyên lý nền tảng của trao tặng không phải là sự công bằng, nhưng là tình nghĩa.
Quả thật, mọi sản phẩm của con người, dù có được nắn nót đến đâu cũng không bao giờ có thể trở thành tuyệt đối, cho đến khi chúng trở thành một món quà để con người trao tặng cho nhau. Nếu không được trao tặng và lãnh nhận, những sản phẩm ấy, vẫn là những “vật liệu thô”, không đầy đủ ý nghĩa, không có giá trị tự thân. Ngược lại, một sản phẩm của con người, dù tầm thường đến đâu, khi được trao tặng với tấm lòng, nó hoàn thành ý nghĩa của nó, tức là trở nên nhịp cầu để con người đến với nhau; và nó chỉ trở nên quí giá thật sự khi người ta gặp được tấm lòng của nhau trong sản phẩm ấy.
Đúng hơn, con người ta chỉ sử dụng sự vật như phương tiện để diễn tả bản thân, chứ không được giản lược bản thân con người vào trong sự vật. Qui luật sống của con người là biết sử dụng vật chất như nhịp cầu để nối kết bản thân của mỗi người với bản thân của người khác. Khi ta thành tâm dâng tặng một món quà, món quà đó kkông còn là nó nữa, nhưng đã biến nên một giá trị nhân văn, đó là dâng tặng một phần bản thân của mình cho người khác.
Thật ra, bản chất của trao tặng luôn ít nhiều hướng tới sự trao tặng bản thân của mình cho người khác. Khi việc dâng tặng đạt đến mức độ trao tặng bản thân cho nhau, tức là khi ấy tặng phẩm là chính bản thân của người trao tặng, thì bản thân mỗi người sẽ là món quà vô giá mà con người có thể trao tặng cho nhau. Trao tặng bản thân là đỉnh cao của nghĩa tình.
Ngày tết, một người khách sang trọng có thể lì xì cho cô bé 500.000 đồng; trong khi đó, mẹ của bé chỉ lì xì cho con có 10.000 đồng. Nhưng cô bé đừng tưởng rằng có thể đi theo người khách sang trọng đó để được sống sung sướng hơn. 500.000 đồng của người khách là một món tiền lớn, nhưng là một món tiền “dư”và thường là món tiền không thể hơn được nữa. Trong khi đó, 10.000 đồng của mẹ lại chính là bản thân của mẹ. Mẹ trao tặng cho con lúc này là 10.000 đồng, lúc khác là cái bánh…trong chiều hướng tiệm tịến của một sự dâng tặng chính bản thân của mẹ cho con. 10.000 đồng của mẹ, đó là một món quà biểu hiện tấm lòng và biểu hiện một sự dâng tặng chính bản thân, đó là món quà quí giá mà một người có tấm lòng không được quyền coi thường, không thể đánh giá theo qui luật thị trường.
Chắc hẳn rằng Bill Gate là người trao tặng nhiều hơn tất cả mọi người trên thế giới, khi ông tặng phần lớn tài sản của ông cho việc chữa bệnh ở Châu Phi và Châu Á. Đó là một nghĩa cử đáng quí; nghĩa cử của tấm lòng. Nhưng cũng phải nói thật rằng, ông vẫn còn giữ lại cho cuộc sống của mình số tiền đủ để sống trọn một cuộc đời trong sung sướng. Trong khi đó, đối với một đứa con, cha mẹ là trên hết, không phải vì cha mẹ đã trao tặng nhiều hơn Bill Gate, nhưng vì cha mẹ là người cho hết,trao tặng trọn vẹn, trao tặng chính bản thân mình. Một bà mẹ nghèo, gia sản chẳng có là bao, nhưng lại dám dùng tất cả để lo cho đứa con của bà được ăn học, được chữa bệnh, được vui chơi… Bà mẹ nghèo ấy không chỉ cho đi phần dư thừa, nhưng là cho đi chính bản thân mình. Do đó, đối với đứa con, không phải Bill Gate hay những nhà từ thiện lớn của thế giới, mà chính bà mẹ, bà mẹ tần tảo sáng hôm và bà mẹ hy sinh cả một đời…mới là hình tượng cao đẹp nhất.
Chính trong ý nghĩa ấy, chúng ta hiểu rằng vỉệc đáp trả tình thương của Thiên Chúa chỉ có thể bộc lộ đúng nghĩa nhất trong hành vi trao tặng bản thân