Trào lưu Thế Tục Hoá và Đời sống Đức Tin - Phần 1
Các từ ngữ sécularisation [thế tục hóa] hay sécularisme [duy thế tục] đều bắt nguồn từ tiếng la tinh saeculum; hạn từ này, theo nguồn gốc, có nghĩa là “hành vi sinh sản” [acte de génération]; rồi phát xuất từ đó, thế tục hoá có nghĩa là “quãng thời gian của một thế hệ” [la durée d’une génération], ý nghĩa “kỷ nguyên”, hay “niên đại” [ère]. Với dòng thời gian, từ ngữ “thế tục hoá” trở nên phức tạp với nhiều tầng ý nghĩa, vừa có nghĩa theo không gian là “thế gian”, vừa có nghĩa theo thời gian là “đời này”, vừa có nghĩa theo luân lý là “phàm tục”, vừa có nghĩa tình trạng là “đời”. Căn nguyên phức tạp ấy đã “hứa hẹn” một sự phức tạp trong đề tài của chúng ta. Hơn nữa, chúng ta còn thấy nhiều từ ngữ khác trong ngôn ngữ Tây phương, với những ý nghĩa khác biệt tinh tế, như laicité, mondalité... thường vẫn được chuyển dịch sang tiếng việc với cùng một từ “thế tục hoá”. Thực sự có quá nhiều ý nghĩa và nhiều giá trị vừa đối nghịch vừa đan xen vào nhau trong từ ngữ thế tục hoá...
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
__________________
1. “Thế tục hoá” như một trào lưu xã hội
1.1 Từ ngữ “Thế Tục”
Các từ ngữ sécularisation [thế tục hóa] hay sécularisme [duy thế tục] đều bắt nguồn từ tiếng la tinh saeculum; hạn từ này, theo nguồn gốc, có nghĩa là “hành vi sinh sản” [acte de génération]; rồi phát xuất từ đó, thế tục hoá có nghĩa là “quãng thời gian của một thế hệ” [la durée d’une génération], ý nghĩa “kỷ nguyên”, hay “niên đại” [ère]. Với dòng thời gian, từ ngữ “thế tục hoá” trở nên phức tạp với nhiều tầng ý nghĩa, vừa có nghĩa theo không gian là “thế gian”, vừa có nghĩa theo thời gian là “đời này”, vừa có nghĩa theo luân lý là “phàm tục”, vừa có nghĩa tình trạng là “đời”. Căn nguyên phức tạp ấy đã “hứa hẹn” một sự phức tạp trong đề tài của chúng ta. Hơn nữa, chúng ta còn thấy nhiều từ ngữ khác trong ngôn ngữ Tây phương, với những ý nghĩa khác biệt tinh tế, như laicité, mondalité... thường vẫn được chuyển dịch sang tiếng việc với cùng một từ “thế tục hoá”. Thực sự có quá nhiều ý nghĩa và nhiều giá trị vừa đối nghịch vừa đan xen vào nhau trong từ ngữ thế tục hoá...
Từ ngữ “thế tục hoá”, sécularisation, lần đầu được sử dụng trong Hoà ước Wesphalie 1648, sau cuộc chiến tranh tôn giáo 30 năm và mở đầu cho một thứ quan hệ quốc tế đặt nền tảng trên khái niệm “quốc gia”. Nhà văn Anh George Jacob Holyoake dùng từ này, năm 1851, để kêu gọi thiết lập một trật tự xã hội tách khỏi ảnh hưởng của tôn giáo, mặc dù không chống lại tôn giáo. Marx Weber 1864-1920 sử dụng từ này trong lãnh vực xã hội học để nghiên cứu một trào lưu xã hội, một hiện tượng xã hội của thời hiện đại. Sau đó từ thế tục hoá trở thành một khái niệm phổ biến và quen thuộc. Từ ngữ này có một chiều hướng chung nhưng cũng có khá nhiều tầng thực tại khác nhau, tầng pháp luật, tầng chính trị, tầng văn hoá, tầng luân lý.
Thời Trung Cổ, Giáo Hội Công giáo sử dụng từ ngữ thế tục như một phạm trù đối lập với đời sống tu sĩ [khi ấy từ ngữ thế tục hóa có nghĩa như là giáo dân hóa / laicisation]; hoặc đối lập với thẩm quyền của Giáo hội về phương diện chính trị. Các tu sĩ từ bỏ đời sống tu, trở về cuộc sống giáo dân được gọi là hồi tục [sécularisation]. Rồi khi các các thế lực chính trị chống lại Giáo Hội và xâm chiếm những tài sản của Giáo Hội, thì từ ngữ thế tục hóa [sécularisation] được dùng để chỉ việc lấy các đồ dùng thánh để sử dụng trong cuộc sống thường ngày. Từ hậu trường chính trị - xã hội ấy, người ta ghi nhận rằng chẳng có gì ngạc nhiên khi những người trong Giáo hội, bị tước đoạt tài sản, đã quan niệm mọi thứ tiến trình thế tục hóa theo nghĩa xấu và đáng lên án.
1.2 Trở nên một chuẩn mực giá trị
Chúng ta tạm bỏ qua các tầng ý nghĩa về pháp luật (việc chính quyền đời sung công tài sản tôn giáo), hoặc chính trị (vấn đề thần quyền và thế quyền), và chỉ tìm hiểu vấn dề trần tục hoá trong tầng văn hoá và luân lý mà thôi.
Đây là một từ ngữ có ý nghĩa đặc thù trong môi trường thần học Kinh Thánh – Kitô giáo, đặc biệt là trong thần học của thánh Phaolô, để chỉ “thế giới hiện tại bị tội lỗi thống trị”. Sau đó, trong thời đầu của thời Trung cổ, từ ngữ saeculum được các giáo phụ sử dụng để chỉ thế giới mà người ta phải xa lánh, thế giới của những chuyện trần gian như chính trị, kinh tế, gia đình.... Như thế, từ một quan niệm trong Kinh Thánh có tính chất luân lý [không phải là thế tục như một thực tại, những như một lối sống, hoặc một tinh thần hư hỏng] từ ngữ đã chuyển sang ý nghĩa thực tại cụ thể, theo đó, tất cả những sinh hoạt trần thế trong cuộc sống trần gian đều trở thành xấu xa. Đây là một sự thay đổi ý nghĩa quan trọng, có tầm ảnh hưởng rộng lớn.
Trong ba thế kỷ đầu tiên, Kitô giáo bị nhiều cuộc bách hại do chính quyền Roma, người tín hữu và hàng giáo sĩ phải sống chui rúc, trốn tránh trong những hang toại đạo, và một số lớn bị bắt, bị giết chỉ vì niềm tin của mình. Khi ấy người Kitô hữu đã nhìn xã hội trần thế, mà đại diện chính là đế quốc Rô-ma, như một thế lực xấu xa, gian ác cần phải bị loại trừ. Rồi khi phát triển, Kito giáo tìm cách giải thích niềm tin của mình với thế giới bên ngoài, đã tìm đến với tư tưởng của triết gia Platon, nhất là trào lưu tân- Platon [tức học thuyết của Plotin]. Tư tưởng Platon vốn đề cao thế giới ý tưởng và coi tất cả thế giới cụ thể, vật chất, hữu hình là “vật giới”, là ảo ảnh, là lầm lạc, là xấu xa cần phải xa tránh. Chính những ảnh hưởng này đã làm nên tiêu chuẩn giá trị căn bản cho tôn giáo - xã hội thời Trung Cổ. Người ta đồng hóa cái thiện với cái thiêng liêng, cái thuộc về Giáo hội; và đồng hóa cái ác với cái vật chất, với trần thế. Con đường nên thánh trở thành con đường xa lánh ba lực cản trở chính : ma quỉ – thế gian – xác thịt.…
Trong xã hội-tôn giáo Trung cổ Tây Âu, người ta phân chia người Kitô hữu thành hai loại, những “con người thiêng liêng” [gồm các tu sĩ và sau đó là hàng giáo sĩ] và “con người xác thịt” [là các người giáo dân]; hai loại người này sinh hoạt trong hai lãnh vực khác nhau, lãnh vực những ơn phúc thiêng liêng và lãnh vực những công việc trần thế. Việc phân chia như thế cũng diễn tả một cách đánh giá theo một chuẩn mực giá trị : chỉ những gì là thiêng liêng mới có giá trị; sinh hoạt trần thế chỉ là chuyện bất đắc dĩ, là lãnh vực của những thực tại “chóng qua”, của vũng lầy nước mắt. Sinh hoạt trần thế phải qui hướng về những thực tại liêng thiêng; những người sống trong trần thế không tìm thấy ý nghĩa tôn giáo trong trách vụ hằng ngày của mình, và ai muốn nên thánh phải bắt chước càng nhiều càng tốt cách sống của những “con người thiêng liêng”. Khi ấy, trong số những sinh hoạt trần thế, chỉ có một trách vụ duy nhất được chúc phúc, đó là trách vụ làm vua để cai quản đất nước.
Như thế, trào lưu thế tục hoá chính là một phản ứng chống lại chuẩn mực giá trị thời Trung Cổ Tây Âu. Từ thế kỷ XIII, học thuyết Aristote thay thế học thuyết Platon trong vai trò chỉ đạo bầu khí triết học Trung cổ. Khác với tinh thần siêu thoát của Platon, tinh thần của Aristote là tinh thần thực nghiệm, khoa học. Học thuyết Aristote từ chối qui chiếu bản chất thế giới này vào thế giới ý tưởng, nhưng tìm thấy qui luật hữu thể ngay trong lòng thực tại trần gian. Sự vật được nhìn trong chính nó với cấu trúc nội tại của nó. Khi triết học Kinh viện chấp nhận học thuyết Aristote, đây đã là một khúc quanh có tính quyết định về phương diện tư tưởng cho trào lưu thế tục hóa, bởi vì nó mang lại một lối nhìn lạc quan về thế giới và về lịch sử nhân loại. Tiến trình này, đặc biệt chịu ảnh hưởng của St. Thomas.
Tuy nhiên thời điểm bùng phát mạnh mẽ nhất chính là việc du nhập những phương pháp khoa học vào phong cách suy tư triết lý Trung Cổ vào thế kỷ XVI và XVII [Descartes, Bacon, Galilée..]. Khoa học trở nên tiêu chuẩn của chân lý, điều gì đúng thực là điều phù hợp với kinh nghiệm. Điều huyền nhiện trở thành “có vấn đề” cần phải giải quyết. Khoảng không giành cho thần thánh bị giới hạn dần đến chỗ biến mất.
Các ý tưởng của thế kỷ Ánh sáng [thế kỷ XVIII] càng thúc đẩy mạnh mẽ hơn tiến trình này. Người ta thấy việc tìm cách giải thích thế giới, giải thích những huyền nhiệm của thế giới bằng lý trí là một sứ mạng của triết gia. Vị Thiên Chúa của mạc khải trở thành vị Thiên Chúa của lý trí con người, hoặc chỉ là một phóng ảnh của chính những khao vọng sâu xa trong con người mà thôi [Feuerbach]..
Thêm vào tiến trình phức tạp này, người ta còn nhận thấy hai trào lưu tư tưởng :
- Giải trừ huyền nhiệm : nghĩa là giản lược tất cả những thực tại tôn giáo vào điều gì có thể diễn tả theo lý trí. Người ta loại trừ chân lý tôn giáo khỏi lớp vỏ huyền nhiện và thay thế nó bằng một sự hợp lý cao.
- Chủ nghĩa duy nhiên [naturalisme] muốn giải thích lại kinh nghiệm tôn giáo bằng những thuật ngữ hòan toàn tự nhiên. Các khái niệm lâu đời của tôn giáo được thay bằng khái niệm thuộc lãnh vực “nhân tính” và “xã hội”. Khuynh hướng này đã nở rộ vào thế kỷ XIX, với chủ nghĩa Kitô giáo mới của Saint Simon, với tôn giáo thờ nhân loại của A. Comte và sự đồng hóa giữa đối tượng của tôn giáo với xã hội của E. Durkheim.
Trào lưu thế tục hoá, nói chung, có tính như một phản ứng và đi đến những lập trường triệt để : những giá trị tôn giáo không còn hấp dẫn; người ta muốn làm giầu và muốn thăng tiến hơn là muốn nên thánh; giá trị một con người thánh thiện cũng bị coi nhẹ so với những giá trị cụ thể “sờ thấy được” như giầu có, thành đạt; người ta không còn mấy mơ ước cuộc sống mai sau, nhưng phấn đấu để đạt đến “nước thiên đàng” trong cuộc sống hiện tại …
1.3 Hiện trạng thế tục hoá
Vấn đề thế tục hóa là một thực trạng của nền văn minh tây phương, chịu ảnh hưởng sâu xa của Kitô giáo. Tuy nhiên, cùng với trào lưu hiện đại hóa của thế giới, cũng như ảnh hưởng lấn át của văn hóa Tây phương trên toàn thế giới, người ta cũng thấy hiện tượng tương tự trong hầu hết các tôn giáo hiện nay.
Trước khi là một lý thuyết, thế tục hóa là một hiện tượng thực tế của cuộc sống, một sự kiện xã hội, một tình trạng tâm lý, một xu hướng tư duy khá phổ biến. Trào lưu thế tục hóa gắn liền với thời đại khoa học kỹ thuật, với tinh thần duy lý, với thái độ thực dụng, với tinh thần hưởng thụ, với khuynh hướng đô thị hóa, với nền kinh tế thị trường, với xã hội tiêu thụ… Tất cả những yếu tố ấy làm nên một tổng thể, một trào lưu chung của thế giới; chúng gắn liền với nhau, tương tác lẫn nhau và tạo môi trường phát triển cho nhau. Trào lưu thế tục hóa là cả một “thế giới”, cả nơi lý thuyết, cả trong thực hành, với bao nhiêu mối liên hệ chằng chịt trong đời sống thường ngày. Có thể nói, hiện nay, trần tục hóa là một nét đặc trưng của xã hội và con người thời đại.
Hiện nay, trào lưu thế tục hóa bao gồm nhiều khía cạnh, nhiều yếu tố khác nhau :
- Các sinh hoạt tôn giáo càng ngày càng ít người tham dự, nhiều nhà thờ bị bán đi để dùng vào mục tiêu khác, hoặc đóng cửa và để cho khách tham quan như một di tích lịch sử. Tại Tây phương, người ta nói rằng nhiều người tín hữu chỉ còn đến nhà thờ ba lần trong đời : sinh ra – kết hôn- và qua đời; những lần đến nhà thờ hiếm hoi như thế cũng chỉ còn là một hình thức văn hóa truyền thống hơn là xuất phát từ niềm tin tôn giáo. Cuộc sống thực tế ngày càng tất bật, đua tranh, nhu cầu thăng tiến xã hội trở thành một nhu cầu cấp bách, nên thời gian dành cho sinh hoạt tôn giáo của người tín hữu cũng thưa dần, mọi lễ nghi đều phải rút ngắn, gọn gàng…
- Đối với một số khá đông tín hữu, việc tìm đến tôn giáo như một sự trợ đỡ trên hành trình cuộc sống cũng không còn thiết thực. Người ta không còn hoặc ít cần đến các ân phúc của Chúa qua các sinh hoạt phượng tự; ít mong chờ nơi Chúa một sự hướng dẫn trên đường đời; người ta không tìm thấy nơi đời sống cầu nguyện một sự gặp gỡ thân tình để tỏ bày những u uẩn sâu xa trong tâm hồn. Ngược lại, tất cả cuộc sống được tính toán theo tinh thần thực dụng, mọi giải quyết đều có thể tìm được từ khoa học, mọi nhu cầu đều có thể được thỏa mãn bằng các phương tiện kỹ thuật tân tiến….
Mặt khác với những ưu tư về cuộc sống đầy ắp trong tâm trí, nhiều tín hữu cảm thấy bầu khí, ý nghĩa, các giá trị tôn giáo như thuộc về một thế giới khác, thế giới “khảo cổ”. Nhiều người chỉ giữ đạo vì thói quen hoặc vì sợ hãi hình phạt chứ không còn là một lòng thành kính đối với Thiên Chúa.
Trào thế tục hóa đã được sinh ra từ sự tan rã tính thống nhất của thời Trung cổ. Trong thời Trung cổ, toàn bộ thế giới, dù được nhìn dưới khía cạnh nào, triết học, văn hóa, khoa học, mỹ thuật… được giải thích ăn khớp với nhau trong một hệ thống; toàn bộ sinh hoạt xã hội, chính trị, luật pháp đều liên kết mật thiết với nhau và qui hướng về một mục tiêu chung. Thế nhưng, thời Phục hưng đã phá vỡ sự thống nhất ấy, và xuất hiện từng bước chân phiêu lưu của con người ra ngoài khuôn khổ truyền thống : thiên văn học, vật lý học, y học, văn học, nghệ thuật đều dần dần tìm thấy nẻo đường riêng, nguyên lý riêng, phương pháp riêng, “niềm vui” riêng. Điều đó có dáng vẻ như một sự “bừng tỉnh của thế giới”, theo từ ngữ của Weber. Từ nay, người ta không còn hiểu thế giới và con người khởi từ nhãn quan Kitô giáo.
Tiến trình này đương nhiên làm cho Giáo Hội Kitô giáo không còn là thế lực bao trùm toàn bộ đời sống, nhưng dần dần trở thành một nhóm có tính cách thành phần và riêng biệt bên cạnh những nhóm khác trong xã hội.
1.4 Nhìn lại các ý nghĩa thế tục hóa
1.4.1 Theo nghĩa chung
Trong sự đối lập với cái thánh thiêng ta có thể hiểu thế tục hoá là tiến trình làm cho những điều trước đây không thuộc về trần thế - cái thánh thiêng, cái siêu nhiên, tính chất thần thánh - nay trở thành những sự kiện, sự vật của trần thế này.
Thế tục hóa diễn tả một quá trình tách lìa tất cả những lãnh vực hiện hữu của con người ra khỏi mối tương quan với niềm tin Kitô giáo mà trước đây nó từng vay mượn ý nghĩa. Đây là một cách đánh giá lại về thế giới và cấu trúc của thế giới. Thế giới được xem xét trong sự tự lập và trong những giá trị nội tại của nó.
1.4.2 Theo nghĩa triệt để
Thế tục hóa theo nghĩa triệt để, thường được diễn tả bằng từ “sécularisme” [duy thế tục], nghĩa là lập trường cắt đứt một cách dứt khoát với tôn giáo, hoàn toàn đặt mình trong thế giới trần thế, từ chối mọi ý nghĩa tôn giáo hoặc ý nghĩa siêu việt trong cuộc sống. Đôi khi nó cũng được dùng để chỉ lập trường chống lại thực tại thánh thiêng, ủng hộ cho những thực tại trần thế. Từ giữa thế kỷ XIX, người ta hiểu ý nghĩa từ “duy thế tục” theo ý một ý thức hệ được xác định rõ ràng, đó là thái độ chống tôn giáo.
1.4.3 Theo nghĩa văn hóa
Thế tục hóa dùng để chỉ những gia sản văn hóa trước đây của Kitô giáo [thái cử, ngôn ngữ, những biểu tượng về thế giới] nay được hiểu, được sử dụng hoàn toàn độc lập với văn mạch của đức tin. Chẳng hạn việc sử dụng những điển tích trong văn chương Kitô giáo, những đề tài, những con số, những hình ảnh biểu tượng, niên lịch Kitô giáo, những phong tục trong các dịp lễ . . . Nguồn gốc tôn giáo của chúng chỉ có ý nghĩa lịch sử, không còn là nguyên lý giải thích. Việc sử dụng công lịch, trưng bầy cây thông và ông già Noel trong dịp lễ Giáng Sinh chẳng hạn không đương nhiên có nghĩa là bày tỏ niềm tin Kitô giáo.
1.4.4 Theo nghĩa tôn giáo chuyên biệt
Trong nội bộ Kitô giáo, nhất là với giáo hội Tin Lành, nhiều nhà thần học coi trào lưu thế tục hóa như một cơ may để tìm lại niềm tin chân chính, gạt bỏ khỏi niềm tin những râu ria, những cặn bã, những lệch lạc. Tiến trình thế tục làm cho ta thấy rõ niềm tin đích thực khác với các hình thức biểu hiện có tính tôn giáo. Niềm tin là thái độ của tâm hồn chứ không phải chỉ là những tổ chức, những lễ nghi. Như thế, những người này muốn đối nghịch giữa niềm tin và [sinh hoạt] tôn giáo.
2. Thế tục hóa như nguyên lý trong nhiệm cục cứu độ
Người ta thấy rằng, trào lưu thế tục hóa là sản phẩm đặc trưng của Kitô giáo. Chính giáo lý Kitô giáo đã góp phần đặt nên những vấn đề, tạo nên những tình huống làm nẩy sinh trào lưu thế tục hóa :
“cần phải hiểu toàn diện tính cách hiện đại như một hệ quả trần tục hóa của niềm tin Kinh Thánh”.
Ta ghi nhận một vài nét căn bản trong gtiaso lý Kito giáo để hiểu chiều hướng tục hoá ngay trong nguyên lý của nhiệm cục cứu độ :
2.1 Vũ trụ được Thiên Chúa sáng tạo và hướng tới thành toàn
Trong các nền văn hóa tôn giáo ngoài Sách Thánh, thời gian đi theo vòng tròn. Thời gian không có khởi đầu và không có kết thúc, nhưng chỉ có những đại niên thật lớn, và vũ trụ sẽ lại trở về như lúc khởi đầu. Do đó, đặc tính tuần hoàn bao trùm tính lịch sử. Lịch sử cùng tất cả những sự kiện, biến cố, ngã vị..., không có tính tuyệt đối, nhưng bị tan loãng trong chu kỳ tuần hoàn của vòng thời gian.
Theo các nền văn hoá ấy, con người là một thành phần của vũ trụ. Vũ trụ lớn hơn con người, cao quý hơn con người. Con người là tiểu vũ trụ (microcosmos) nên phải hòa với đại vũ trụ (macrocosmos). Trên nền tảng ấy, lý tưởng của cuộc sống con người đã hàm chứa giá trị ưu việt của một quy luật vũ trụ, quy luật bao trùm và vô ngã. Tính ngã vị không được đề cao nhưng là một sự khôn ngoan để biết quy luật và để hòa mình vào trật tự chung của vũ trụ.
Trong khi đó, câu đầu tiên trong Sách Sáng Thế là một khẳng định hoàn toàn mới: "Lúc khởi đầu,Thiên Chúa sáng tạo trời đất" (St 1,1). Quan niệm sáng tạo từ hư vô đã đưa vào thế giới một mô hình hoàn toàn mới. Thiên Chúa đã "cắt đứt" thời gian như một vòng tròn vô tận. "Biến cố" ấy không nằm trong vòng tuần hoàn của thời gian, không nằm trong diễn biến "tự nhiên", tất yếu, theo đúng theo quy luật của vũ trụ. Tác động sáng tạo từ hư vô là một tác động của một ngã vị bên ngoài, bên trên vũ trụ; một ngã vị có lý trí và có tự do; đó là một ân ban. Tác động ấy khẳng định có một "thế giới" khác, "thế giới siêu nhiên". Bản chất của vũ trụ này không còn thuần nhất là một vũ trụ "tự nhiên", nhưng là sự đan bện giữa tự nhiên và siêu nhiên.
Biến cố ấy cũng cho thấy, trong cuộc vận hành của vũ trụ, yếu tố ngã vị đi bước trước, ân ban trong tự do đi bước trước; và nhất là, trong cuộc vận hành của vũ trụ, ân ban có tính ngã vị sẽ chiến thắng "tính hư vô". Việc sáng tạo từ hư vô được thể hiện trọn vẹn trong cuộc chiến thắng từng bước "tính hư vô" về ý nghĩa của vũ trụ. Cuộc vận hành của vũ trụ không còn là một vận hành vòng tròn, miên man, đều đặn, nhưng mang lấy một vận mạng hướng tới điểm thành toàn. Yếu tố lịch sử trở thành "môi trường" căn bản.
Con người không còn là "tiểu vũ trụ" phải thuận theo, phải hòa tan vào "đại vũ trụ" vô ngã; nhưng chính con người được sáng tạo nên "giống hình ảnh Thiên Chúa", để đi vào cấp độ sống-với-Ai, sống với một Thiên Chúa ngã vị cũng như với tha nhân; và để lãnh trách nhiệm "thống trị mặt đất" (St 1,28 ). Môi trường lịch sử chính là nơi diễn ra một cuộc "cuộc chiến" gay go; trở nên như một "cuộc chơi" kỳ diệu, "cuộc phiêu lưu" đầy bất ngờ... Nơi đây con người được trao nhiệm vụ để thống trị mặt đất, hoàn thành vận mạng của cả vũ trụ này. Vũ trụ trong nhãn giới Kinh Thánh không phải là một thực tại thô, nhưng cần được lôi kéo vào vận mạng chung của con người và để được hoàn tất trong ơn cứu độ của đức Giêsu Kito :
“8,19 Muôn loài thọ tạo những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mặc khải vinh quang của con cái Người. 20 Quả thế, muôn loài đã lâm vào cảnh hư ảo, không phải vì chúng muốn, nhưng là vì Thiên Chúa bắt chịu vậy ; tuy nhiên, vẫn còn niềm trông cậy 21 là có ngày cũng sẽ được giải thoát, không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát, mà được cùng với con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang. 22 Thật vậy, chúng ta biết rằng : cho đến bây giờ, muôn loài thọ tạo cùng rên siết và quằn quại như sắp sinh nở. 23 Không phải muôn loài mà thôi, cả chúng ta cũng rên siết trong lòng : chúng ta đã lãnh nhận Thần Khí như ân huệ mở đầu, nhưng còn trông đợi Thiên Chúa ban cho trọn quyền làm con, nghĩa là cứu chuộc thân xác chúng ta nữa”. (Rm 8,19-23)
2.2 Đức Tin Kito giáo đảm nhận trách nhiệm về thực tại
Đức Benedicto XVI đã tìm về cội nguồn của Kito giáo khi kể lại những lý lẽ của thánh Âu Tinh để trả lời cho “nhà thông thái nhất Roma”, Marcus Terrentius Varron (116-27 tcn). So sánh Kito giáo với các tôn giáo cổ thời. Varron phân biệt ba thứ thần học :
- Thần học huyền thoại (theologia mythica) do các thi sĩ để đưa con người siêu thoát vào thế giới thần bí;
- Thần học dân sự (theologia civilliis) do nhà nước thiết lập và dùng các nghi lễ phụng tự để giúp người dân hoà mình vào trật tự chung;
- Thần học tự nhiên (theologia naturalis) là cách suy tư của các triết gia về bản chất đích thực của vũ trụ.
Ở Hy Lạp, các triết gia dần dần loại bỏ hoặc giới hạn các tôn giáo cổ xưa (mythos), giải huyền thoại các tôn giáo, bằng cách đưa vào yếu tố lý trí (logos), thế giới không còn lý ý muốn trái chứng trở trời của thần thánh nhưng như một hệ thống các quy luật “tự nhiên” (phusis). Triết gia là những người mong muốn khám phá chính bản chất của thực tại, điều đó hấp dẫn và thoả mãn được lý trí con người. Các “tôn giáo huyên bí” và “tôn giáo nhà nước” bị giảm giá, nhường sân khấu lại cho các triết gia.
Tại Israen, các ngôn sứ rồi sau đó là trào lưu văn chương khôn ngoan cũng nỗ lực loại bỏ các thần phù phiếm, các thần chỉ dính dáng tới lễ nghi và phong tục, để trình bày một Thiên Chúa như cội nguồn và như Đấng làm chủ thực sự của vũ trụ và lịch sử.
Nói cách khác, đức tin trong truyền thống Do Thái – Kito giáo đã “song hành” với các triết gia chứ không phải các tăng lữ hoặc những nhà chính trị hoặc các thi nhân. Các triết gia Hy Lạp và truyền thống Do Thái Kito giáo đều bám chắc nào khát vọng đi tìm chân lý, tìm logos, tìm “lời” đích thực ẩn chứa trong vũ trụ và con người. So sánh những diễn biến ở hai nơi này, ta có thể nói, theo một phương diện nào đó, các ngôn sứ đã không ngừng xác định “bản chất” đích thực của Thiên Chúa để cảnh báo các vị vua khỏi thứ “thần học dân sự” và cảnh báo các tư tế Cựu ước khỏi thứ “thần học huyền thoại”. Đức Giêsu nối tiếp truyền thống các ngôn sứ một cách trọn vẹn, và Ngài công bố một khuôn mặt Thiên Chúa Cha chân thực.
Thời Giáo hội sơ khai, các Kito hữu cũng nhất quyết không thờ các thần minh nào khác vì một lý do tượng tự. Lời khẳng định của Tertulien cho thấy bầu khí của lựa chọn Kito giáo :
“Đức Kito tỏ cho biết Ngài là Sự Thật chứ không phải là lề thói”
Đức Tin Kito giáo không phải là một ngõ thoát, ngõ thoát của những người nhát sợ và thua cuộc trước những trái ngang của cuộc đời, nhưng là một sự dấn thân, tìm chân lý của thực tại, chân lý của lịch sử, chân lý của vận mạng con người trong chính những tình huống trái ngang của cuộc đời.
Tính thực tại của truyền thống Do Thái Kito giáo như thế phát xuất từ một nền tảng tín lý. Trước hết, bước khởi đầu của đức Tin là chấp nhận một rằng vũ trụ, thế giới, con người có một “cấu trúc khả tri”, nghĩa là có một giá trị khác với cách nhìn giam hãm con người trong thế giới “duy vật”, vốn chỉ tìm “lý giải’ mọi sự trong tầng giá trị thể lý. Từ một thứ “cấu trúc ý nghĩa” trong sự vật, trong thế giới, như một thứ “tinh thần khách thể”, đức Tin đưa tâm trí con người tới chỗ khám phá ra một “Tinh Thần Chủ Thể”, nghĩa là một Đấng là Thần Khí chứ không phải là vật chất; chính Đấng là Tinh Thần Chủ Thể ấy sáng tạo ra thế giới theo cấu trúc ý nghĩa của Ngôi Lời. Đức Tin Kito giáo giúp người tín hữu khám phá ra một “cấu trúc ý nghĩa” trong tất cả mọi sự, đó là Logos trong sáng tạo, là phản ảnh của Ngôi Lời Vĩnh Cứu.
Ý nghĩa chân chính hay bản chất đích thực của thực tại ấy (tức là Logos) bị lu mờ hoặc bị méo mó do ảnh hưởng của tội. Tội lỗi không phải chỉ là một khái niệm, một cách lý giải của tôn giáo trong một thế giới nào khác. Tội dĩ nhiên là những “suy nghĩ lời nói việc làm trái với Ý Chúa”; nhưng mọi sự ác đều có căn nguyên từ “tội lỗi” và những thứ tội lỗi cụ thể đều xuất phát từ sự hư hoại nền tảng của thực tại. Tội lỗi là thái độ lệch lạc, đánh mất nền tảng chân lý của thực tại. Chẳng hạn, tệ nạn mãi dâm hoặc buôn bán người, buôn bán nội tạng người, xuất phát từ việc con người đánh mất phẩm giá cao quý đích thực của con người.
Chính đức Giêsu là Ngôi Lời nhập thể, mang lại cho “cấu trúc ý nghĩa” căn bản ban đầu được hoàn tất. Có một nét hoà sâu xa trong vũ trụ thiên nhiên và trong chương trình cứu độ, bởi vì Ngôi Lời Nhập Thể không huỷ bỏ hình ảnh của mình trong vũ trụ và con người. Mặc dầu con người và vũ trụ này đã bị xáo trộn vì tội, nhưng Ngôi Lời Nhập Thể đảm nhận, thanh lọc, nâng cấp và hoàn thành “dự án” của Thiên Chúa trong sáng tạo. Chọn đức Tin chính là chọn đứng về phía chân lý, một thứ chân lý ở tầng “giá trị siêu hình” của thực tại nhờ được mặc khải soi sáng.
2.3 Sống đức Tin là sống đời mình như một lịch sử ơn cứu độ
Sách thánh mặc khải cho chúng ta một thứ tôn giáo của tương quan hiện sinh; không phải thứ tôn giáo hướng tới một giá trị luân lý cao cả, và cũng không phải tìm một sự hoà đồng trong bản tính, đưa đến một sự hoà tan vào nhau. Tương quan hiện sinh chân chính không do ngất trí, không do xuất thần, không do sự bộc phát của tình cảm, nhưng được hình thành do quá trình lịch sử, được đan bện do những sự kiện cụ thể. Kitô giáo và đạo Sách thánh nói chung là đạo của những sự kiện, những sự kiện cụ thể đan bện lại thành nên một bề dày nghĩa tình.
Nói một cách khái quát, sống đức Tin là sống cuộc đời mình như một lịch sử ơn cứu độ; trong đó, bản thân của mỗi người tín hữu được trao ban cho Chúa trong một quá trình lịch sử, và cũng đón nhận được chính bản thân Chúa trong một quá trình. Thực sự con người chỉ là chính mình trong dòng lịch sử, và Chúa cũng xuất hiện cho con người như thế, nghĩa là trong dòng lịch sử. Như thế, tương quan ngã vị như là nét đặc trưng của Sách Thánh không thể thành hình trên một sự ngẫu hứng hay một thứ “cú sét ái tình” mà là một hành trình thực sự, đặt nền trên những sự kiện thực của đời sống con người.
Truyền thống Kinh Thánh vốn mang nét căn bản là tính lịch sử, nghĩa là một thái độ của niềm tin được thể hiện trong chính chiều kích lịch sử của cuộc đời. Do Thái Kitô giáo là tôn giáo mặc khải, nghĩa là đón nhận giáo lý từ trời cao, nhưng lại được thể hiện trong cuộc sống đời thường, làm nên một thứ hoa trái riêng biệt là “lịch sử ơn cứu độ”.
Do đó, thái độ căn bản của người Dân, không phải là một lòng đạo đức tự nó là tốt, cũng không phải là một tư cách hay một trình độ tôn giáo cao vời, mà là lòng trung tín với Chúa, trung tín với các giải pháp của Chúa trong dòng lịch sử, để hướng tới việc đón nhận Đấng Mêsia.
Sách Thánh nói Dân Do Thái là một dân cứng lòng. Điều đó có lẽ không phải tâm tính của một dân tộc vốn ngang ngạnh, nhưng đúng hơn là do họ đứng trước một sứ mệnh “không giống ai”, sứ mệnh sống niềm tin, đón nhận những chỉ dẫn của niềm tin trái ngược với lối suy nghĩ khôn ngoan đời thường. Sống niềm tin là cả một cuộc phiêu lưu, cả về mặt chính trị và quân sự chứ không phải chỉ là một thái độ đạo đức. Truờng hợp vua Achaz là một ví dụ điển hình (x. Is 7, 1-14). Chính vì vậy mà Dân đã thường giết các ngôn sứ...
2.4 Đức Giêsu Kito và Nước Trời
Thiên Chúa trong Kinh Thánh là một vị Thiên Chúa "dấn thân". Ngài "dính dáng" vào vận mạng của vũ trụ. Ngài như thể "liên lụy" vào vận mạng của con người. Thiên Chúa dấn thân trong việc tự do sáng tạo nên vũ trụ. Rồi Ngài dấn thân khi hứa với Adong Evà về một ơn cứu độ (St 3,15); Ngài hứa với Noe, rồi đi vào một giao ước với Abraham (Xc. St 17). Tiến trình đó dẫn dần đến một giao ước chính thức, đúng nghĩa, giữa Thiên Chúa với Dân riêng trên núi Sinai (Xh 24).
Đức Giêsu đã khai mạc Nước Trời với Bài Giảng Trên Núi. Nước Trời đã có mặt cùng với đức Giêsu. Tin Mừng Nhất Lãm và những thư đầu của thánh Phaolô cho thấy một niềm khao khát mãnh liệt về Nước Trời. Tin Mừng Thứ Tư và những thư sau của thánh Phaolô lại tập trung vào bản thân của đức Giêsu. Thực sự hai khía cạnh đó không ở bên cạnh nhau, không thể tách rời nhau, và chắc chắn không thể loại trừ nhau. Lịch sử Giáo hội đã nhiều lần chao đảo trong những lựa chọn, có khi người ta đấu tranh cho Giáo hội hoặc cho một thế giới công bằng mà hình như vắng bóng đức Giêsu, một đức Giêsu chiến thắng trước hết bằng chính cái chết tủi nhục trên thập giá; và cũng không hiếm khi người ta gắn bó với đức Giêsu, nhưng là một đức Giêsu không có bóng dáng Nước Trời, một thứ sinh hoạt đạo tách rời khỏi vận hành được cứu độ của thế giới và vũ trụ này.
Đức Giêsu là trung tâm của Nước Trời. Ở đâu có đức Giêsu thì cũng phải có Nước Trời xung quanh; và ở đâu là Nước Trời chân thật thì cũng có đức Giêsu ở trung tâm. Người Kitô hữu hướng đến Đức Giêsu Kitô với tất cả lòng tin-cậy-mến; và người Kitô hữu nhận ra Nước Trời của Đức Giêsu Kitô bao hàm tất cả giá trị chân-thiện-mỹ.
Nước Trời được đức Giêsu công bố như hạt cải nhỏ bé, như nắm men nhỏ bé... Điều đó có nghĩa là đường lối của Nước Trời, những giá trị của Nước Trời ra như yếu nhược và dễ thua cuộc trong thế giới của sức mạnh bạo tàn. Nhưng với đức Giêsu, với tình yêu liên lụy của đức Giêsu, chính những giá trị nhỏ bé ấy sẽ lớn lên, sẽ biến đổi bộ mặt thế giới. Hạt men hạt cải Nước Trời cần được được gieo vào trong lòng cuộc sống chứ không phải để cất dấu đi. Người Kitô hữu chính là người thương gia khám phá Nước Trời như viên ngọc đẹp, bán tất cả tài sản để mua lấy viên ngọc ấy. Nước Trời nhỏ bé ấy mời gọi người tín hữu nhận ra tất cả giá trị chân-thiện-mỹ đang ẩn tàng nhưng thật mạnh mẽ...
3. Trào lưu thế tục và đời sống đức Tin
3.1 Vài xác định căn bản của lập trường Kito giáo
* Nhận diện vấn đề
So sánh vấn đề thế tục hoá như một trào lưu xã hội và thế tục hoá như một nguyên lý của nhiệm cục cứu độ, chúng ta có thể nhận ra sự so le giữa hai tầng ý nghĩa và sự so lẽ giữa những giá trị. Một đàng trào lưu xã hội thế tục hoá như một cơn sóng lăm le xâm lấn và muốn phá tan đời sống đức Tin, đàng khác ta lại thấy chính ý nghĩa căn bản của nhiệm cục cứu độ như mời gọi Giáo hội và người Kito hữu dấn bước vào chiều hướng thế tục hoá ấy. Chính vì sự so le ấy mà chúng ta thấy có nhiều lập trường khác biệt hoặc đối lập nhau về vấn đề thế tục hoá
1/ Chủ trương hợp pháp hoá và đẩy mạnh trào lưu thế tục hoá như một cơ may để sự sống đức Tin được tinh tuyền. Đức Tin không làm nên một thế giới thiêng liêng bển cạnh thế giới trần tục, nhưng người kito hữu cần tiếp nối mầu nhiệm tự huỷ của đức Kito, loại bỏ mọi khát vọng “ma thuật” của một thứ vong thân trong tôn giáo, để dấn thân vào một thế giới tục hoá và làm chứng cho Chúa trong thế giới ấy.
2/ Đối lại với trào lưu “thần học về thế tục hoá”, ta cũng thấy những nhóm “tân-toàn-thống” (néo-fondamentalisme) hoặc nhóm bảo thủ cực đoan (intégrisme) muốn loại bỏ hoàn toàn chiều hướng thế tục để tìm lại một “kito giới”; họ không chấp nhận sự tự trị của xã hội chính trị cũng không chấp nhận tính cách “tự trị” (autonomie) của cá nhân.
Trào lưu “thần học về thế tục hoá” được một số nhà thần học Tin Lành cổ võ và cũng gây nhiều ảnh hưởng trong giới Công giáo. Tuy nhiên, theo Gilles Berceville O.P. , hiện nay trào lưu ấy đã lỗi thời, vì những thứ tưởng như một hứa hẹn một tương lai tốt đẹp khi con người dám tự mình đảm nhận chính tương lai của mình, thì nay đã lộ ra nhiều thảm cảnh đáng lo ngại như thảm hoạ hạch nhân, hư hoại môi trường, chênh lệch kinh tế...
Ngược lại, trào lưu bảo thủ thì vùng vẫy để thoát khỏi trào lưu thế tục giống như một nông dân, không chấp nhận sử dụng máy cày, để tiếp tục quát nạt những con trâu già.
Thật ra, ta vừa phải công nhận một số lệch lạc trong não trạng muốn xây dựng một Kito giới như thời Trung Cổ, nhưng cũng phải tỉnh táo để nhận diện nhiều nguy cơ lớn tiềm ẩn trong trào lưu thế tục hoá. Trào lưu trần tục hoá cũng có tác dụng như một sự thay đổi để tái lập thế quân bình : lãnh vực trần thế tìm thấy giá trị của nó, đời sống của người giáo dân được đề cao, những trách nhiệm xây dựng cuộc sống, làm đẹp bộ mặt trần gian được công nhận và khuyến khích. Đặc biệt, nhiều giá trị của Kitô giáo, trước đây được nhìn trong bầu khí thánh thiêng, huyền hoặc, như một thứ công đức để được phần thưởng mai sau, nay được nhìn trong khía cạnh những giá trị nhân bản có khả năng biến đổi cuộc sống tốt đẹp hơn, chẳng hạn đức khó nghèo, đức khiết tịnh, sự tha thứ . . . Mặt khác, một khi con người không còn điểm qui chiếu siêu việt, một giá trị siêu hình, những nỗ lực của con người là một cuộc “tranh luận tay đôi”, như một thứ biện chứng, duy tâm hoặc duy vật, mà kết quả luôn có thể “ngẫu nhiên”, tiềm ẩn nhiều nguy cơ phá huỷ vận mạng nhân loại. Nói cách khác, khi không còn bóng dáng tôn giáo, chiều kích sự thiện sẽ phai lại, con người một luôn có khuynh hướng giải quyết điều xấu này bằng một điều xấu khác, và sự dữ lây lan mãi.
Trước những ý nghĩa phức tạp ấy, chúng ta ghi nhận một vài lập trường của Giáo hội Công giáo trong vấn đề này :
* Tục hoá cái thiêng
Nhiều tôn giáo khác nhìn thấy thần thánh trong các sự vật thiên nhiên, cây đa, ngọn núi giòng sông, … con người phải cung kính và tôn trọng những sự vật ấy. Còn người Hy Lạp thì quan niệm trật tự của thiên nhiên chính là trật tự của thần thánh, và một số những vật thiên nhiên, các tinh tú chẳng hạn, chính là thần thánh, cao trọng hơn con người. Trước thế giới thiên nhiên ấy, con người cần phải cung kính và học hỏi và tuân phục.
Trong khi đó, Do thái - Kitô giáo, ngay từ nguyên thủy đã cho rằng Thiên Chúa sáng tạo con người để làm chủ tất cả thế giới thiên nhiên. Con người là kẻ đặt tên cho muôn vật, là kẻ được giao nhiệm vụ thống trị, uốn nắn và sử dụng thiên nhiên. Do đó, thiên nhiên bị tước bỏ mọi sự huyền bí, thánh thiêng. Con người được quyền làm chủ thiên nhiên và sử dụng thiên nhiên theo ý muốn của Chúa. Chính quan niệm của Kinh Thánh và giáo lý Kitô giáo, một số học giả đã cho rằng Kitô giáo là một trong những nguyên nhân đưa đến sự hủy hoại môi trường hiện nay. Thật ra, mặc dầu Thiên Chúa trao thế giới cho con người, nhưng con người luôn phải thì hành trách nhiệm của mình trong thái độ tìm kiếm ý Chúa. Chính não trạng duy khoa học của thế kỷ XVIII và XIX mới đẩy thế giới vào tình trạng ô nhiễm như ngày nay.
* Thánh hoá cái phàm
Kinh Thánh Do Thái Kitô giáo cho thấy một Thiên Chúa khác hẳn với hình ảnh Thượng Đế của người Hy Lạp. Thiên Chúa của Kinh Thánh không an vị, thanh thản trong thế giới hạnh phúc của Ngài, nhưng Ngài dính dáng vào thụ tạo, đặc biệt là con người. Thiên Chúa trong Kinh Thánh là một vị Thiên Chúa "dấn thân". Ngài "dính dáng" vào vận mạng của vũ trụ; đặc biệt, Ngài như thể "liên lụy" vào vận mạng của con người. Thiên Chúa dấn thân trong việc tự do sáng tạo nên vũ trụ. Rồi Ngài dấn thân khi hứa với Adong Evà về một ơn cứu độ (St 3,15); Ngài hứa với Noe, rồi đi vào một giao ước với Abraham (XC. ST 17). Tiến trình đó dẫn dần đến một giao ước chính thức, đúng nghĩa, giữa Thiên Chúa với Dân riêng trên núi Sinai (Xh 24).
Cuối cùng, Thiên Chúa nhập thể trong đức Giêsu Kito, “Ngôi Lời đã trở nên người phàm” (Ga1,14); thành Ngài sống kiếp phàm nhân, sống như người trần thế (Xc Pl 2,6-11); và “ghê gớm” nhất, Giáo hội khẳng định tín điều đức Maria Hồn Xác Lên Trời.
Kitô giáo đã dấn thân vào lịch sử nhân loại, thể hiện niềm tin trong chiều hướng nhập thể, nghĩa là đón nhận tất cả những sự kiện, những biến cố, những diễn tiến trong vận hành lịch sử của nhân gian. Sống niềm tin chân chính không phải là “đóng cửa” để bảo vệ một gia tài đã đầy đủ trọn vẹn của mình, hoặc bay lên một vùng trời nào hoàn toàn khác lạ; nhưng là sống trọn niềm tin vào Chúa trên hành trình lịch sử, qua việc đón nhận tất cả những thăng trầm trong thực tại trần gian.
* Khẳng định sự độc lập chính đáng của trần thế
Công Đồng Vatican II coi trào lưu thế tục hóa là một tiến trình hợp pháp và cần thiết, đó là một nẻo đường đúng đắn giúp ta khám phá khuôn mặt của Thiên Chúa trong cuộc sống thực, miễn là đừng rơi vào thái độ “duy thế tục” :
“Sự độc lập đúng mức của các thực tại trần thế.
“Tuy nhiên, nhiều người đương thời dường như e ngại rằng sự liên kết chặt chẽ giữa hoạt động của con người và tôn giáo sẽ làm ngăn trở sự độc lập của con người, của xã hội hoặc của khoa học.
“Nếu sự độc lập của các thực tại trần thế có nghĩa là các tạo vật và các xã hội đều có những định luật và những giá trị thiêng liêng mà con người phải khám phá dần dần, sử dụng và điều hòa, thì đòi hỏi một sự độc lập như thế là một việc hoàn toàn chính đáng : đó là ý muốn của Tạo Hóa. Thực vậy, chính vì được tạo dựng mà mọi vật đều có sự vững chãi, chân thực và tốt lành cùng những định luật và trật tự riêng. Con người phải tôn trọng tất cả những điều ấy, phải nhìn nhận các phương pháp cá biệt của mỗi khoa học và kỹ thuật {. . . ].
“Nhưng nếu “sự độc lập của thực tại trần thế” có nghĩa là : các tạo vật không lệ thuộc Thiên Chúa và con người có thể xử dụng chúng mà không cần qui hướng về Đấng Tạo Hóa, thì không một ai nhìn nhận Thiên Chúa lại không thấy rằng lập trường đó hết sức sai lầm…”.
Chú thích:
[1] X. Johann Figl, đề mục Sécularisation trong Dictionaire de Théologie, sous la direction de Peter Eicher, Les Éditions du Cerf, Paris 1988, p. 695.
[2] X. T Goffi, đề mục Homme spirituel, Dictionaire de la vie spirituelle, Cerf, Paris 1987.
[3] X. Johann Figl, Sđd, trang 696.
[4] Xc. Joseph Ratzinger, Chân Lý của Kito giáo, bài nói chuyện tại buổi hội thảo do Đại học Paris IV- Sorbonne, từ 25 đến 27 /11/1999.
[5] Joseph Ratzinger, Đức Tin Kito Giáo, hôm qua và hôm nay, NXB Tôn giáo, Hà Nội 2009, trang 143
[6] Joseph Ratzinger, Đức Tin Kito Giáo, hôm qua và hôm nay, sđd, trang 155
[7] Gilles Berceville O.P. Khái Niện Thế Tục hoá và những vấn đề liên quan, bài thuyết trình trong hội thảo Đà Lạt
[8] X. Kinh Thánh, sách Sáng Thế, chương I.
[9] Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Mục Vụ Vui Mừng và Hy Vọng, số 36; bản dịch của Giáo Hoàng Học Viện Pio X, 1972.