Trào lưu Thế Tục Hoá và Đời sống Đức Tin - Phần 2 (Phần cuối)

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Các ý nghĩa “thế gian” được hiểu như “vũ trụ”, “nhân loại”, hoặc “người chưa tin” là những thực tại “trung tính” của cuộc đời như bất cứ những thực tại nào khác. Ý nghĩa thứ tư hàm ý một tinh thần thế tục chống lại đức Giêsu và các môn đệ. Như thế, những diễn tả về một sự đối lập giữa đức Giêsu và thế gian không phải là một thứ nhị nguyên về thực tại, nhưng là nhị nguyên luân lý. Không có một thực tại vũ trụ, con người hay trái đất chống lại niềm Tin vào đức Giêsu. Ngay cả thế gian như “những người chưa tin”, bao gồm cả những kẻ chống lại đức Giêsu (những người do Thái, Pha-ri-sêu và các thượng tế), cũng không phải là điều gì xấu xa mà người môn đệ phải xa tránh, nhưng đối tượng của sứ mệnh loan báo Tin Mừng (X. Ga 17,18).

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

__________________

3.2 Tìm trọng tâm của vấn đề thế tục : lãnh vực tinh thần

3.2.1 Ý nghĩa của quan niệm “nhị nguyên” trong Tin Mừng thứ Tư

Trong Tin Mừng thứ Tư, chúng ta thấy có một sự đối lập mạnh mẽ giữa thứ thế gian và Đức Giêsu cùng các môn đệ của Người, người ta gọi là thứ nhị nguyên trong Tin Mừng thứ IV. Tuy nhiên, từ ngữ “thế gian” (Kosmos) trong tin mừng có ít nhất 4 ý nghĩa :

1) Thế gian chỉ “vũ trụ”

2) Thế gian là nhân loại, là trái đất

3) Thế gian là những người chưa tin

4) Thế gian thù ghét

Các ý nghĩa “thế gian” được hiểu như “vũ trụ”, “nhân loại”, hoặc “người chưa tin” là những thực tại “trung tính” của cuộc đời như bất cứ những thực tại nào khác. Ý nghĩa thứ tư hàm ý một tinh thần thế tục chống lại đức Giêsu và các môn đệ.

Như thế, những diễn tả về một sự đối lập giữa đức Giêsu và thế gian không phải là một thứ nhị nguyên về thực tại, nhưng là nhị nguyên luân lý. Không có một thực tại vũ trụ, con người hay trái đất chống lại niềm Tin vào đức Giêsu. Ngay cả thế gian như “những người chưa tin”, bao gồm cả những kẻ chống lại đức Giêsu (những người do Thái, Pha-ri-sêu và các thượng tế), cũng không phải là điều gì xấu xa mà người môn đệ phải xa tránh, nhưng đối tượng của sứ mệnh loan báo Tin Mừng (X. Ga 17,18).

Trong khi đó, có thứ “thế gian thù ghét” (X. Ga 17,14) là một thế lực của bóng tối mà Tin Mừng thứ Tư gọi là Xa-tan, là Quỉ dữ, là Ác thần... Thế gian này, trước hết là một thế lực vô hình, đối lập với Thiên Chúa, sau đó là những người thuộc về thế lực đen tối ấy, những người làm công việc của ma quỉ. Thứ thế gian này ghét đức Giêsu (7,7), ghét Chúa Cha (15,14-16), ghét các môn đệ (15,18; 17,14).

Nhiều từ “thế gian” trongTin Mừng thứ Tư ở những đoạn văn khác nhau phải được hiểu theo những ý nghĩa khác nhau, đôi khi là một thứ “thế gian - chối từ” như trong Ga 15,18-21; đôi khi là một thứ “thế gian - nhân loại” như trong Ga 17, 15... Tuy nhiên, một vài tình huống trong dòng lịch sử Giáo hội đã góp phần làm nên một cái nhìn “vơ đũa cả nắm” về thế gian, cả những tình huống do đường lối tu đức, cũng như những tình huống mang tính chính trị.

Thật ra, việc phân tích những thực tại khác nhau được diễn tả trong từ ngữ “thê gian” của Tin Mừng thứ Tư góp phân xây dựng một nền thần học về ơn cứu độ cũng như thần học về sứ vụ loan báo Tin Mừng. Kiểu diễn tả nhị nguyên trong Tin Mừng thứ Tư diễn tả một sự đối lập của hai thứ “tinh thần”, hai thứ “não trạng” của con người, xuất phát từ hai “thần khí” đối lập, thần khí thế gian và Thần Khí Thiên Chúa.

3.2.2 Con người và thần khí

Theo quan niệm của người Do Thái, con người ta sinh hoạt trong ba lãnh vực : thần trí, linh hồn, và thân xác (Xc. 1 Tx 5,23). Đây không phải là ba thành phần trong con người, nhưng là ba khía cạnh của một con người toàn diện.

- Linh hồn chính là con người chủ thể xét như có sức sống nội tại, có cảm giác, có suy nghĩ, có tự do, có hồi tưởng…

- Thân xác chính là con người toàn diện trong khía cạnh yếu đuối của con người, tức là con người trong những mối tương quan thông qua thân xác; cụ thể là tương quan với vũ trụ và với tha nhân.

- Thần khí là con người toàn diện trong khía cạnh siêu việt, nghĩa là trong tương quan với Thiên Chúa.

Khi nói con người toàn diện trong khía cạnh tương quan với thân xác chẳng hạn, thì điều đó không phải chỉ giới hạn trong những sinh hoạt gắn liền với thân xác, mà còn ngay cả trong những sinh hoạt phượng tự với Thiên Chúa bị chi phối bởi khía cạnh yếu đuối của con người. Cũng vậy, khi nói con người toàn diện trong khía cạnh thần trí, thì điều đó cũng bao hàm cả những chuyện của thân xác, ăn uống, chiếm hữu của cải, giao tiếp với tha nhân…, nhưng tất cả những điều đó đều được hướng dẫn theo sức mạnh và ý nghĩa của thần trí. Trong vị thế đó, con người tự do lựa chọn và thể hiện vận mạng của mình khi để cho sự sống nội tại (linh hồn) của mình hoặc hứng theo thần trí, hoặc hứng theo thân xác.

3.2.3 Giáo hội và Thần Khí

Theo Đức Bênêđictô XVI, trong tác phẩm Đức Tin Kitô giáo hôm qua và hôm nay, phần thứ ba của Kinh Tin Kính, theo nguyên bản tiếng Hy Lạp, không phải là lời tuyên xưng niềm tin vào Chúa Thánh Thần (mặc dầu vẫn hàm chứa mầu nhiệm Ba Ngôi), nhưng là tin vào sức mạnh Thánh Thần (Thần Khí) trong Giáo Hội.

Cấu trúc ấy cho thấy niềm Tin Kitô giáo không phải chỉ là một hệ thống tín điều, nhưng chính là một dòng sự sống. Chúa Thánh Thần đang hoạt động trong Giáo hội và hoạt động của Chúa Thánh Thần làm cho sự hiện diện của Chúa Giêsu được liên tục ở cùng Giáo hội cho đến tận thế. Đức Giêsu đã chết và Phục Sinh; Ngài "lên trời" để, trong quyền năng vĩnh cửu, Ngài hội nhập toàn bộ vũ trụ và thế giới vào biến cố chết và Phục sinh như một nguyên lý mới của vũ trụ và của lịch sử con người. Hoạt động ấy của đức Giêsu được thực hiện qua Thần Khí hoạt động trong Giáo hội.

Như thế, chúng ta có thể nhận diện rõ hơn “thế trận” của cuộc chiến đang diễn ra trên thế gian. Chắc chắn rằng vấn đề thế tục hoá không phải là việc phân chia những “bậc sống” khác nhau như thời Trung Cổ đã hiểu. Vấn đề thế tục hoá, một cách chính yếu, cũng không phải là những “phong thái sống” hoặc những “phương thức hành động”, mặc dù phong thái và phương thức liên quan mặt thiết với cội nguồn của vấn đề là những “tinh thần”. Hoặc “não trạng”. Mặt trận chính yếu của trong cuộc chiến của đức Giêsu mà các môn đệ cần phải nhận ra đó là cuộc chiến với Xa tan, cuộc chiến để tìm được mối tương quan ngã vị thuận thẩo trong “Thần Khí Thiên Chúa”. Bởi vì sám hối, một cách chính yếu không phải chỉ là “tẩy rửa định kỳ”, không phải chỉ là “thay đổi lối sống”, nhưng thiết yếu là “thay đổi não trạng” (métanoia), và cuộc thay đổi não trạng này chỉ có thể thực hiện được trong sự “hứng theo thần khí” nào. Chúng ta thử xác định một vài đường nét chính nói lên sự khác biệt hoặc đối lập giữa Thần Khí Thiên Chúa và thần khí thế gian.

3.2.4 Thần Khí của Cha

Đức Tin Kitô giáo xác định Chúa Thánh Thần "nhiệm xuất" từ mối tương quan tình yêu giữa Chúa Cha và Chúa Con. Khi đức Giêsu mặc khải cho nhân loại biết về Chúa Cha, Ngài cũng cho thấy đường nét tinh thần mang đường hướng Thần Khí của Chúa Cha :

"Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính". (Mt 5,45)

Dĩ nhiên là không thể giới hạn hoạt động của Chúa Cha trong một lãnh vực nào. Tuy nhiên, trong ý nghĩa cả nhân loại có một Đấng là Cha chung, chúng ta cũng có thể nhận ra một đường nét tinh thần đặt biệt, đó là nét rộng mở, là chân trời "tứ hải giai huynh đệ". Đường nét này chống lại não trạng cục bộ, chống lại thái độ đòi hỏi những hàng rào giới hạn, thích đặt ra ranh giới ưu tiên theo cấp bậc...

Niềm tin vào một Thiên Chúa duy nhất là Cha không phải chỉ là bài học tín lý, và càng không phải là lý do để loại trừ những kẻ bất tín hoặc những kẻ có một niềm tin khác. Những ý nghĩa mục vụ chính yếu của niềm tin vào một Thiên Chúa duy nhất chính là xác tín mọi người đều là con của Cha và là anh em với nhau. Niềm tin vào một Thiên Chúa duy nhất không phải là một đường ranh giới để phân biệt và loại trừ, nhưng ngược lại là thái độ tháo bỏ những ranh giới để rộng mở đôi tay chào đón mọi người, dù là khác biệt niềm tin...

Một khi không hứng theo Thần Khí của Chúa Cha, người ta sẽ dễ dàng để cho thần khí thế gian chi phối, và khi đó, người ta rớt vào tinh trạng cục bộ, tạo nên chia rẽ ngay trong chính cộng đoàn của mình, với nhiều lý do trần tục : địa phương, tuổi tác, giới tính, hoặc sở thích... Cách sống ấy không thể làm thoả mãn được khát vọng yêu thương, khát vọng hiệp nhất, khát vọng “tứ hải giai huynh đệ”, cũng như không đưa con người đến tầm mức ơn gọi và sứ vụ được. Thần Khí của Chúa Cha thể hiện trong ý nghĩa "công giáo" của Giáo hội.

3.2.5 Thần Khí của Đức Giêsu

Ngôi Hai Thiên Chúa thực hiện nhiệm cục cứu độ bằng đường lối hạ giáng (X. Pl 2, 6-8). Đức Giêsu khởi đầu kiếp sống trần gian như một người lao động thấp hèn. Đức Giêsu khai mạc Nước Thiên Chúa bằng Hiến Chương dành ưu tiên cho những người nghèo (Xc Lc 6.20-26). Đức Giêsu đã công bố trong hội đường Nagiarét Thần Khí mà Ngài lãnh nhận :

"Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa." (Lc 4, 18-19)

Ngài thi hành sứ vụ công khai bằng lựa chọn đi về phía những người nghèo khổ, những người thấp kém, những người bị khinh dể, bị loại trừ...

Chúng ta có thể thấy rõ ràng đường nét tinh thần trong cuộc đời đức Giêsu, đó là Thần khi hạ giáng, thứ Thần Khí nhậy bén với những uẩn khúc trong tâm hồn con người (Xc. Ga 2,25). Đức Giêsu nhận ra nhiều lý do để bênh vực những người rơi vào tình huống khó khăn (Xc. Mt 12,7), Ngài bênh vực không phải người bị kết tội oan uổng mà là một phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội (Ga 8); Ngài đánh giá cao thái độ của một bà goá nghèo (Xc. Lc 21,3); Đức Giêsu ăn uống với những người thu thuế; Ngài chấp nhận để cho người đàn bà tội lỗi đụng chạm đến mình....

Thần Khí của Đức Giêsu thúc đẩy những người Kitô hữu "cúi xuống" chứ không phải "ngửa mặt lên", mời gọi người Kitô hữu chọn nếp sống có thể hiểu và cảm thông, đồng hành và liên luỵ với những người bé mọn,... Đó không phải là phong thái muốn khẳng định một đẳng cấp riêng, chọn nếp sống đầy những mối tương quan lễ nghĩa, nể vì hoặc đầy tính danh giá hão...

Thần Khí của đức Giêsu được thể hiện trong ý nghĩa Giáo hội thánh thiện. Đây không phải là tính cách biệt của sự thánh thiện nhưng chính là tính nhập thể. Một Giáo hội thánh thiện chính là Giáo hội làm chứng cho sự thánh thiện của Chúa, luôn nâng đỡ từ chân những con người tội lỗi...

Thần Khí của Chúa Cha rộng mở và Thần Khí hạ giáng của Đức Giêsu giống như hai cánh tay ôm trọn con người, ôm trọn tất cả mọi kiếp người ở mức độ tối đa của tình thương cứu độ.

3.2.6 Thần khí thế gian

Cuộc sống hứng theo xác thịt, tức là cách ứng xử bình thường của con người : có tiền thì xài, có niềm vui thì hưởng thụ, cố gắng có càng nhiều của cải càng tốt…; sống với tha nhân thì bạn ra bạn thù ra thù, anh chơi xấu tôi thì tôi chơi xấu anh,… Cách sống ấy đưa con người dần dần lún sâu vào những quy luật khắc nghiệt của cuộc sống đời thường; sự ác xuất hiện dần dần như một mạng lưới “xã hội đen” trói buộc mà con người không thể nào thoát ra được; dấu hiệu của sự chết càng ngày càng lấn lướt những dấu hiệu của sự sống.

Nếu không nhận ra "đường hướng" căn bản trong sự tác động của Thần Khí, Giáo hội nói chung và mỗi người Kitô hữu nói riêng, sẽ vô tình che khuất hoặc làm lệch lạc Tin Mừng Cứu Độ của Đức Giêsu.

4. Vài vấn đề cụ thể

4.1 Tách rời đức Tin và cuộc sống thường ngày

Hiến chế Mục Vụ nhận định rằng một trong những nguy cơ lớn nhất của thời đại chính là thái độ tách lìa đức Tin và đời sống thường ngày :

“Sự trợ giúp mà Giáo Hội cố gắng nhờ các Kitô hữu mang đến cho sinh hoạt nhân loại 47*. Công Đồng khuyến khích các Kitô hữu, công dân của cả hai đô thị, hãy nỗ lực và trung thành chu toàn những bổn phận trần thế của họ dưới sự hướng dẫn của tinh thần Phúc Âm. Thực sai lầm cho những ai biết rằng chúng ta không có một quê hương trường tồn ở trần thế nhưng phải kiếm tìm một quê hương hậu lai, mà lại tưởng rằng mình có thể xao lãng các bổn phận trần gian 13, như thế là không nhận thấy chính đức tin buộc phải chu toàn các bổn phận đó hoàn hảo hơn, mỗi người tùy theo ơn gọi của mình 14. Ngược lại, cũng sai lầm không kém đối với những ai nghĩ rằng có thể dấn thân hoàn toàn vào các sinh hoạt trần thế như thể các sinh hoạt ấy hoàn toàn xa lạ với đời sống tôn giáo, vì cho rằng đời sống tôn giáo chỉ hệ tại những hành vi phụng tự và một vài bổn phận luân lý phải chu toàn. Sự phân ly giữa đức tin mà họ tuyên xưng và cuộc sống thường nhật của nhiều người phải kể vào số những sai lầm trầm trọng nhất của thời đại chúng ta. Và gương mù này ngay trong Cựu Ước các Tiên Tri đã mạnh mẽ tố cáo 15 và trong Tân Ước chính Chúa Giêsu Kitô còn ngăm đe nhiều hơn nữa bằng những hình phạt nặng nề 16. Vậy, không được tạo đối nghịch giả tạo giữa sinh hoạt nghề nghiệp và xã hội với đời sống tôn giáo. Đối với Kitô hữu, xao lãng bổn phận trần thế tức là xao lãng bổn phận đối với tha nhân và hơn nữa đối với chính Thiên Chúa, khiến phần rỗi đời đời của mình bị đe dọa. Theo gương Chúa Giêsu đã sống như một người thợ, các Kitô hữu hãy vui mừng vì có thể thi hành mọi sinh hoạt trần thế mà đồng thời có thể liên kết trong một tổng hợp sống động duy nhất: các cố gắng nhân loại, gia đình, nghề nghiệp, khoa học hay kỹ thuật với các giá trị tôn giáo. Dưới sự điều hướng tối cao của các giá trị tôn giáo này, mọi sự được qui hướng về vinh quang Thiên Chúa. [MV 43a].

Những người Kitô hữu Tây phương mới tới Việt Nam chắc hẳn phải trầm trồ khen ngợi về sinh hoạt đạo sầm uất của Giáo hội Công giáo Việt Nam. Tính chất sầm uất ấy giờ đây cũng lan đến cả những Giáo Hội Âu Mỹ, qua những cộng đồng người Việt di tản. Người Công giáo Việt Nam đi đến đâu đều làm cho những sinh hoạt tôn giáo phát triển : lễ lạy, đọc kinh, xưng tội, xây dựng nhà thờ và ơn gọi tu trì đông đảo … Trong khi đó, sinh hoạt đạo nơi những nước Kitô giáo kỳ cựu của Tây phương càng ngày càng trở nên èo uột, trở nên đạo của trẻ con và những ông bà già…

Tuy nhiên với một hướng nhìn khác, chúng ta lại có thể nhận thấy rằng : đời sống đức Tin nơi những người Kitô hữu Việt Nam triển nở phong phú nơi sinh hoạt đạo, thì lại rất ít trổ sinh hoa trái trong đời sống nhân bản, trong đời sống bác ái thường ngày. Ngược lại, “đức Tin” nơi nhiều Kitô hữu tại các nước Âu Mỹ Tây phương, tuy không, hoặc ít triển nở trong sinh hoạt thuần túy tôn giáo, sinh hoạt hoạt phượng tự, nhưng nói chung và với một số người, lại triển nở nhiều hơn trong những giá trị nhân bản. Nếu phải lựa chọn một trong hai thứ hoa trái ấy, sinh hoạt đạo và những giá trị nhân bản, chúng ta sẽ lựa chọn điều nào ?

4.2 Lỗ hổng của giá trị nhân bản Kito giáo

Vatican II được ghi nhận như một bước ngoặt mới mà có người gọi là bước ngoặt của trào lưu nhân bản. Với Vatican II, Giáo Hội lại một lần nữa, nhận ra những thiết sót của mình trong việc quan tâm đến những “chuyện đời”. Hiến chế mục vụ Vui Mừng và Hy Vọng, lần đầu tiên, hướng nhìn về những chuyện đời người với một cái nhìn có trách nhiệm, với một lời mở đầu thật ấn tượng :

“Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ…”(s. 1)

Thế nhưng, đời sống đức Tin của Giáo Hội Việt Nam có vẻ như vẫn là một khối ”đặc sệt chuyện đạo”, những giá trị Tin Mừng ít được thể hiện trong đời sống thường ngày của chính người Kitô hữu, những giá trị nhân bản Tin Mừng không mấy khi trở nên được những khái niệm sống căn bản của người Kitô hữu, và dĩ nhiên càng không phải là những khái niệm sống lan toả đến cuộc sống của xã hội, của thời đại.

- Các hội đoàn Công Giáo tại Việt Nam hầu hết là những hội đoàn đạo đức, nghĩa là tập trung chính yếu vào việc tổ chức và huấn luyện các việc đạo đức chứ ít tạo được một sức mạnh để có thể đem đạo vào đời, gieo men Tin Mừng vào cuộc sống trần gian…

- Các giáo trình nhân bản được biên soạn và sử dụng trong giới Công Giáo thường dựa theo những giá trị chung chung, hoặc dựa trên giá trị nhân bản của một triết học khác, trong một nền văn hóa hoàn toàn khác. Chẳng hạn nhiều giáo trình nhân bản dựa theo Khổng Giáo để trình bày những đức tính : nhân, nghĩa, lễ, trí, tín; hoặc : công, dung, ngôn, hạnh; hoặc có người lại dựa trên một số kỹ thuật sống theo kiểu “Đắc Nhân Tâm”; hoặc hoàn toàn theo nội dung của các phương pháp khoa học của tâm lý thực nghiệm; hoặc là những thích ứng rời rạc để giải quyết những vấn đề trước mắt một cách thực dụng … chứ không có được một “nguyên lý” cơ bản, một “hệ giá trị” nền tảng, một tinh thần thấu suốt của Tin Mừng Đức Kitô … Dĩ nhiên, người ta có thể nêu lên nhu cầu hội nhập văn hóa như một lý do quan trọng, nhưng hình như trong những kiểu “hội nhập văn hóa” ở các giáo trình giáo dục nhân bản ấy, không còn bóng dáng của giá trị Kitô giáo.

- Có lẽ vì không cảm được các giá trị đặc trưng của nền nhân bản Kitô giáo, nên các nghệ sĩ Công Giáo, hoặc diễn tả những cảm xúc nghệ thuật của mình trong “phạm vi” thuần túy nhà đạo; hoặc không còn một chút bản sắc Kitô giáo nào trong các cảm xúc ra ngoài phạm vi tôn giáo. Các thành quả nghệ thuật của giới Công Giáo rất ít truyền tải được đến công chúng những giá trị nhân bản đặc trưng của Kitô giáo…

- Không có hoặc có rất ít người bên ngoài Kitô giáo tìm được một niềm đam mê nghiên cứu Kitô giáo như một giá trị nhân bản, sống tinh thần Kitô giáo như một lựa chọn nhân bản; quả thật người Kitô hữu có rất ít điều thú vị trên “mảnh đất đời người” có thể chia sẻ với những người ngoài Kitô giáo, ngoại trừ việc truyền đạo một cách “thẳng thừng”… Chúng ta có thể thấy rõ điều này khi đếm các đầu sách tôn giáo trong các nhà sách hiện nay. Chúng ta chỉ có những nhà trí thức là người Công Giáo chứ chẳng có, hoặc có rất ít, nhà “trí thức - Kitô giáo”… Hình như, trong tình hình hiện tại của Giáo Hội, chỉ có “nhân bản” và “Kitô giáo” đứng cạnh nhau chứ không có “nhân bản - Kitô giáo”; “Kitô giáo là giáo lý Kitô giáo”, và “nhân bản là nhân bản”…. Chúng ta cũng có thể thấy, trong những nhà sách công giáo, những bức ảnh nghệ thuật, những hình thêu chữ thư pháp... đầy những chữ : nhân, nghĩa, lễ, trí, tín… mà chẳng hề có được những khái niệm diễn tả giá trị căn bản của Kitô giáo như : “sống với”, “trung tín trong dòng lịch sử”, “dấn thân”, …

- Nguy hiểm hơn cả, chúng ta có thể thấy rất nhiều những người Kitô hữu, và cả các “chức sắc” Công Giáo, trong cuộc sống hằng ngày, đã chọn lựa lập trường, trình bày những suy tư, thể hiện trong ứng xử về những chuyện đời thường theo một tinh thần, theo tôi, chẳng có một chút gì là tinh thần Kitô giáo cả. Điều muốn nói ở đây, không phải là những hành vi xấu xa, tội lỗi, nhưng là những điều tốt, hoặc những điều bình thường. Chẳng hạn vẫn có những nhà giảng thuyết cho rằng : hôn nhân giết chết tình yêu; sau khi cưới, người ta chỉ còn sống với nhau vì cái “nghĩa”…; chẳng hạn vẫn có những người Kitô hữu tìm sự bình an bằng cách chọn lối sống “đừng đụng gì đến ai” để khỏi phiền hà; hoặc chọn sống cuộc đời mình, một cách chính yếu, theo một kỹ thuật sống nào đó chứ không phải là khả năng sống-với người khác trong một cuộc phiêu lưu; chẳng hạn có nhiều người vẫn hãnh diện vì có những “thằng lính” của tao, tao nói gì là nó làm răm rắp…

Có một lần, trong một lớp của các tu sĩ, tôi ra đề tài thi cho một lớp Triết Học Nhập Môn như sau : “Hãy nói lên châm ngôn sống của bạn và giải thích tại sao bạn chọn câu châm ngôn ấy”. Thật đáng buồn khi hơn một nửa lớp trình bầy những châm ngôn sống của mình đại khái như : “Học, học nữa, học mãi”; “Đi một đàng học một sàng khôn”; “uốn lưỡi bẩy lần trước khi nói”… nghĩa là những châm ngôn sống chẳng hề có một chút gì là nẻo đường của tình yêu, hoặc phát xuất từ tình yêu của Chúa Kitô, mà chỉ là những kỹ thuật sống cho riêng mình.

Trong bầu không khí ấy, tư tưởng của cha Anthony de Mello được mặc sức tung hoành. Theo tôi, trừ một vài cuốn như “Tiếp Xúc Với Thiên Chúa” …, tư tưởng của cha Anthony nói chung tràn ngập thứ linh đạo “giác ngộ” chứ không phải linh đạo “sống-với”, khai mở con đường giải thoát bằng đường lối “trầm mặc” chứ không phải đường lối liên đới, hiệp thông của truyền thống Do Thái Kitô giáo… Quả thật là liều lĩnh khi động vào một “tượng đài” như Anthony de Mello, nhưng tôi không thể ngăn được cảm nghĩ về một sự trống vắng giá trị nhân bản Kitô giáo khi thấy “hiện tượng Anthomy de Mello” trong sinh hoạt của giáo hội Việt Nam.

Ơn cứu độ duy nhất nơi Đức Giêsu Kitô chắc chắn không phải là một lô cốt ngăn chận dòng văn hóa của nhân loại, cũng không phải là một con đường song song với chuyện đời thường, song song với những diễn tiến chính trị, kinh tế, khoa học, môi trường,… và nhất là song song với văn hóa của con người. Ơn cứu độ duy nhất nơi đức Kitô chính là trục cứu độ có khả năng khai mở con đường thành tựu chân chính cho tất cả thực tại trần gian. Khẳng định ơn cứu độ duy nhất nơi đức Giêsu không có nghĩa là coi những sự khác như một thứ “không cần thiết cho phần rỗi”; nhưng là khăng định chính Thần Khí của Chúa Kitô giúp con người có thể tìm được một nguồn mạch phong phú và chân chính cho những giá trị nhân bản của đời sống con người.

Riêng với người Kitô hữu, tình trạng thiếu một hệ giá trị nhân bản Kitô giáo, đời sống đức Tin dễ rơi vào tình trạng “Hồn Trương Ba Da Hàng Thịt”, hoặc tình trạng sống “nhân đức chịu vậy”; nghĩa là sống đời sống đức tin như một dị vật trong chính tâm hồn của mình; sống đức Tin không phải bằng một sự thú vị của tinh thần Kitô giáo, không phải bằng một lòng khát khao do “nét đẹp” của đời sống con Chúa, nhưng bằng một sự ép uổng khiên cưỡng của “nhân đức chịu vậy”.

4.3 Thiếu nền tảng cá nhân trong sự sống đức tin

Trong đời sống Giáo hội Công giáo Việt Nam hiện nay, sự tự do của con cái Chúa gần như đã biến mất. Một số nhỏ tín hữu mắc bệnh bối rối, nhìn đâu cũng thấy tội; một số đông hơn giữ luật một cách hình thức, tin cậy một cách máy móc vào các nghi thức, vào những phương cách kiếm được ơn phúc mà không để ý đến tấm lòng thành; phần lớn các tín hữu Công Giáo Việt Nam sống đạo như một khuôn khổ phải chấp nhận chứ không phải là niềm vui được là con cái Chúa và thể hiện trách nhiệm của mình với cộng đoàn Giáo Hội.

Trong đời sống đạo, người tín hữu không được giành cho một khoảng tự do nào để có thể nhận định bằng suy tư của mình, để sáng tạo thái độ trung tín của mình với Chúa, để sống với Chúa bằng chính cá tính và hoàn cảnh riêng của mình. Mọi sự đều được qui định sít xao. Không lạ gì khi người tín hữu Việt Nam chỉ biết đọc kinh mà không biết cầu nguyện, không sống nổi những giây phút thinh lặng vắn vỏi và phải lấp đầy bằng một sinh hoạt nào đó.

Những điều ấy làm cho người Kitô hữu sống đạo dúm dó như một kẻ nô lệ, đành phải tính toán chi li tội phúc, đành chọn thái độ nhắm mắt chu toàn lề luật để bảo đảm an toàn. . . Nỗi sợ giết chết tự do; và không có tự do, con người không còn sống xứng đáng phẩm giá làm người, nhất là phẩm giá những người con cái tự do của Thiên Chúa. Thật là sỉ nhục cho một đất nước tự do dân chủ khi mà những người dân phải giải quyết những vấn đề bình thường của mình bằng đủ thứ “chui” ! Cũng thế, thật là sỉ nhục cho Giáo Hội Chúa Kitô khi mà người tín hữu sống sợ hãi, dúm dó trước mặt Chúa; giáo dân sợ hãi, dúm dó trước các đấng bậc; các tu sĩ sợ hãi, dúm dó trước các vị có trách nhiệm !

Trong khi đó, đỉnh cao của ơn cứu độ chính là Thiên Chúa cho con người được trở nên con cái, được đồng thừa tự với Đức Kitô. Phẩm giá ấy phải làm cho người Kitô hữu được sống hiên ngang như con cái tự do của Thiên Chúa :

“Quả vậy, phàm ai được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn, đều là con cái Thiên Chúa. Vì Thần Khí mà anh em đã lãnh nhận được, đâu phải là tinh thần nô lệ, khiến anh em phải sợ sệt như xưa; nhưng là Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử, khiến chúng ta được kêu lên : ‘Áp-ba ! Cha ơi ! chính Thần Khí chứng thực cho thần trí chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa. Vậy đã là con, thì cũng là thừa kế, mà được Thiên Chúa cho thừa kế, thì tức là đồng thừa kế với Đức Kitô. . .” [Rm 8, 14-17]

4.4 Nguy cơ trong thái độ của các linh mục

- Giản lược vai trò người mục tử trở thành nhà quản trị như một công chức.

- Giản lược chức năng mực tử thành người tổ chức sự kiện.

- Khẳng định lập trường của mình với giáo dân như một sự đối đầu hàng ngang

- Không nhận ra hoạt động của Thánh Thần nơi “cảm thức đức Tin trong Giáo hội”.

4.5 Vài đề nghị nhỏ

* Tìm lại khả năng “cử hành cuộc sống”

Con người là tinh thần nhập thể, con người không phải là thiên thần mà cũng không phải là con vật; con người không thể chỉ là "vật" mà cũng không thể chỉ là "tâm".... Có nhiều khi yếu tố "vật" ảnh hưởng sâu xa; và cũng có khi yếu tố "tâm" giúp người nào đó vượt thắng được thách đố khó khăn. Mỗi người có trải nghiệm riêng của mình và không dễ tìm được một thái độ đúng đắn trong nền tảng siêu hình của phận người.

Thực sự, nơi con người, vẫn có một sự "tôn nghiêm" sâu ẩn. Chỉ có yếu tố "tâm" mới gợi mở được cho sự "tôn nghiêm" nơi phẩm giá con người, nên "tâm" luôn phải quan trọng hơn "vật". Sức sống “tự nhiên” của con người lệ thuộc nhiều vào cách tìm được giao điểm chính xác giữa "tâm" và "vật".

Tuy vậy, với niềm tin Kitô giáo, "tâm" của con người không phải toàn quyền tự do sáng tạo ý nghĩa cách vu vơ, theo kiểu tự do ngẫu hứng, vì trong con người còn có yếu tố "linh". Con người là "hình ảnh Thiên Chúa" và con người cần khám phá ý nghĩa chân thực mà Chúa đã ghi khắc trong chính mình và nơi sự vật. Trên bình diện ơn cứu độ, theo Thánh Kinh và truyền thống Kitô giáo, vị thế con người còn có một sự tế nhị đặc biệt khác -sự tế nhị cần phân biệt nhưng lại không được tách biệt - giữa trật tự siêu nhiên và trật tự tự nhiên nơi con người. Đứng trước hai khuynh hướng, khuynh hướng bi quan của thần học Tin Lành và khuynh hướng duy tự nhiên của thế giới hiện đại, thần học Công giáo khẳng định vận mạng con người thiết yếu cần được cứu độ do ơn huệ tặng không có tính siêu nhiên của Thiên Chúa (ân sủng); ơn huệ siêu nhiên ấy không phản lại tự nhiên, nhưng bổ túc và hoàn thiện đối với tự nhiên.

Trong đời sống của người Kitô hữu, chắc chắn cần phải đề cao ơn huệ tặng không và tính ưu việt của ân sủng; nhưng điều đó không có nghĩa phải hạ thấp trật tự tự nhiên. Người Kitô hữu và cũng không được coi trật tự siêu nhiên như một yếu tố xa lạ, bên ngoài hoặc bên cạnh trật tự tự nhiên; cũng như không được lấy siêu nhiên thay thế tự nhiên. Thực ra không thể có siêu nhiên nếu không dựa trên tự nhiên...

Đây cũng là một vị thế vô cùng tế nhị của "thân phận" con người... Đã có thời người ta "làm thánh mà quên làm người"; rồi người ta lại thay đổi để "làm người trước khi làm thánh", như thể con người có thể làm người được mà không cần tới sức mạnh của ân sủng... Không ít trường hợp người tín hữu lựa chọn, tính toán cuộc đời mình hoàn toàn theo lẽ tự nhiên; và cũng không ít hơn những trường hợp người ta lạc vào yếu tố siêu nhiên mà quên đi thực tại tự nhiên, biến đạo của Chúa thành một thứ "đạo thiêng liêng" ...

Như thế, trong hành trình đức Tin, người Kitô hữu vừa phải rất tôn trọng những quy luật trong trật tự tự nhiên, lại vừa khao khát, luôn mở ra với những khao khát siêu nhiên mà tự sức con người không thể đạt tới được. Người Kitô hữu vừa phải nỗ lực, tập nhân đức, giữ luật lệ... nhưng lại vẫn luôn mong chờ "thời cơ" (kairos) Chúa ban, mở ra với huyền nhiệm của ân sủng nơi cộng đoàn cũng như nơi cá nhân mỗi người.

Ở đây, chúng ta nhận ra tính toàn diện trong “cơ cấu” của thái độ tin. Trong “qui chế hiện hữu” của con người, sự sống thật được thể hiện trong khả năng tìm được “ý nghĩa nội tâm” hàm chứa trong “chất liệu” ít nhiều có tính vật chất. Trong “qui chế hiện hữu” của một Kito hữu, sức sống phong phú của được thể hiện khi con người tìm gặp được giao điểm giữa “vật”, “tâm” và “linh”.

Trước sự xô bồ của cuộc sống hôm nay, người Kito hữu nói chung và các linh mục nói riêng cần tìm được một phương cách “cử hành cuộc sống” để tìm thấy nguồn sức sống chân thực.

* Tìm lại phương pháp đọc dấu chỉ

Trong nhiệm cục cứu độ Do Thái – Kito giáo, Thiên Chúa dấn thân vào lịch sử, cũng vào từng bước hành trình của mỗi cá nhân. Điều chính yếu để sống đức Tin là khả năng đọc dấu chỉ để khám phá ra thánh ý của Chúa trong hành trình cuộc đời, qua những thách đố, những sự kiện, những vấn đề của đời sống thường ngày.

Làm sao ta có thể biết đâu là ý Chúa ?

Câu hỏi này toát lược vị thế căn bản của đời sống đức Tin theo truyền thống Do thái Kitô giáo. Một cách nào đó, ta có thể nói lối sống của đức Tin chính là lối sống lần mò trong đêm tối của trần gian, nhưng được ánh sáng của Chúa như ánh chớp lập loè soi lối. Vinh quang của Chúa không thường trực và sáng ngời nhưng chỉ là “dấu chỉ” lấp lánh trên hành trình trần gian. Thái độ của đức Tin khác với, hay đúng hơn là ngược với lối nắm bắt một sự hiểu biết vững bền như một nguyên tắc hay như một khái niệm trừu tượng có khả năng toát lược toàn bộ những sự việc đơn lẻ. Thái độ của đức Tin chính là khả năng đọc dấu chỉ nơi sự kiện đơn lẻ và tìm thấy ánh sáng lập loè của Chúa trên hành trình của đêm tối.

Dấu chỉ là một từ ngữ quan trọng trong lịch sử ơn cứu độ và trong đời sống Giáo hội, đặc biệt từ Công đồng Vatican II. Khả năng đọc dấu chỉ là một biểu lộ cụ thể của sức sống đức Tin. Tuy nhiên, trong thời đại Tân ước, việc đọc dấu chỉ luôn phải thể hiện một tiêu chuẩn căn bản, đó là đọc mọi dấu chỉ dưới ánh sáng của dấu chỉ chính hiệu là “dấu chỉ Giôna”, dấu chỉ đức Giêsu trong cuộc Tử nạn và Phục Sinh.

Tất cả Kinh Thánh đều hướng tới Đấng Mêsia. Trong cuộc đời đức Giêsu là Đấng Mêsia Thiên Chúa trao ban, điều quan trọng nhất chính là cuộc Tử nạn và Phục Sinh của Ngài. Do đó, trình thuật Tử nạn và Phục Sinh chính là trọng tâm của toàn bộ Sách Thánh; và tất cả lời rao giảng Kitô giáo có thể nói không là gì khác hơn loan báo đức Giêsu đã chết và đã Phục Sinh. Cũng vậy, mọi bí tích không là gì khác hơn “ướm” mầu nhiệm Tử nạn và Phục sinh của đức Giêsu Kitô vào những thực tại khác nhau trên hành trình đức Tin.

Do đó, chính khi ướm mọi biến cố, mọi sự việc vào cuộc Tử nạn và Phục Sinh của đức Giêsu mà người tín hữu có thể đọc ra được ý nghĩa dấu chỉ chân chính nơi những biến cố và mọi sự việc trần gian.

* Tìm lại ý nghĩa đức Cậy

Thiếu chất liệu cuộc đời, thiếu quá trình lịch sử, thiếu bề dầy nghĩa tình được đan bện bằng những sự kiện và biến cố thật, đức Tin và cả tình yêu của người tín hữu luôn có nguy cơ lãng mạn. Chiều kích đức Cậy chính là khám phá ra một Thiên Chúa đồng hành với mình, nâng đỡ, soi sáng, chữa trị vết thương cho mình trên hành trình gai góc của cuộc đời. Với đức Cậy, người Kitô hữu mới "đặt chân mình xuống đất", khám phá ra sự hiện diện của Chúa trong mảnh đất đời người; đồng thời có thể khám phá những hạt men Nước Trời trong địa tầng cuộc sống thật.

Người tín hữu thường đến với Chúa, đến với đức Giêsu với lòng Tin và Mến, nhưng bỏ quên đức Cậy. Niềm Tin-yêu ấy không có chân đứng trên "mặt đất", nên rất thường là những tình cảm bay bổng nhưng luôn có nguy cơ ngẫu hứng và có thể dễ dàng gẫy cánh. Thứ tin-yêu ấy giống như tình yêu trong chuyện cổ tích. Trong khi đó, đức Tin trong truyền thống Sách Thánh thiết yếu mang tính lịch sử.

Một hoàng tử kia, nhìn thấy bức hình một nàng công chúa tuyệt đẹp nên đem lòng yêu mến. Hoàng tử lên đường tìm kiếm. Hành trình ấy trải qua bao nhiêu khó khăn, gian khổ và cả hiểm nguy tới tính mạng. Cuối cùng hoàng tử tìm được cô công chúa trong mộng của mình... Đó là tình yêu cổ tích !

Chuyện đời chân thật hơn là thế này : chàng hoàng tử vào rừng săn bắn. Chàng bị ngã ngựa, gẫy chân bên bờ suối... Một cô thôn nữ đã đưa chàng về nhà, chăm sóc vết thương, tận tụy lo cơm nước... Rồi hai người yêu thương nhau... Đây là tình yêu chân thật !

Trong nhiệm cục cứu độ của Thiên Chúa, con người chỉ là mình trong dòng lich sử; và Thiên Chúa cũng tỏ chứng tỏ Ngài là Thiên Chúa cứu độ trong dòng lịch sử. Dân Israen luôn được các ngôn sứ kêu gọi : hãy nhớ lại những kỳ công dấu lạ Thiên Chúa đã làm đối vói cha ông họ (Xc : 1 Sb 16,12; Dnl 7,18; 8,2; 32,7; Gdt 8,26...; và Thiên Chúa cũng luôn nhớ đến những gì Ngài đã giao ước để tiếp tục phù trợ dân (Xc. St 9,15; Xh 2,24; 6,5; Lv 26,45;... ). Thiên Chúa trong Kinh Thánh không chỉ là một Thiên Chúa siêu việt. Ngài siêu việt nhưng lại dấn mình vào dòng lịch sử, Ngài siêu việt nhưng lại kiên nhẫn từng bước đồng hành với con người để con người được lớn lên, lớn lên một cách lịch sử, lớn lên như một sự trưởng thành đích thực, lớn lên từ chính đôi chân của mình. Ơn cứu độ của Thiên Chúa không từ trên trời rớt xuống, nhưng được gieo mầm, sinh sôi và lớn lên trong dòng lịch sử. Chính trong dòng lịch sử cụ thể ấy, ơn cứu độ của Thiên Chúa được tỏ hiện và dân cũng thể hiện lòng trung tín chân thật với Chúa. Đó cũng luôn là cách thức sống đức Tin của người Kitô hữu trong chế độ Tân Ước; với mỗi người cùng vậy và với toàn thể nhân loại cũng vậy.

Để có một đức tin vững mạnh, không thể chọn thái độ “đóng cửa”, đóng cửa nghi lễ phụng vụ với những diễn biến thực của cuộc sống hằng ngày; đóng cửa đời sống thánh hiến với những vui buồn rất thực của một đời người; đóng cửa đời sống đều đặn của tu viện với máu và nước mắt trong cuộc sống xã hội; đóng cửa đời tu với những tình nghĩa gia đình…

Kết

Chân thiện mỹ không phải ở trên cõi cao xa mà chỉ có ai tài hơn người, đức hơn người, địa vị hơn người mới đạt được. Chân thiện mỹ nằm ở địa tầng sâu xa trong cuộc sống. Trong cái ăn, cái ở, cái chơi, cái vui, cái sống, cái làm việc; và cả trong cái đau, cái sợ, cái ghen... thường ngày đã đầy tràn ánh sáng chân thiện mỹ mà nhiều người không nhìn thấy. Ăn với lòng tri ân, sống như một niềm vui, ghen như khát vọng được chấp nhận ngã vị của mình, làm việc như một sức sống đang vươn lên... tất cả những điều đó quá đầy đủ giá trị chân thiện mỹ. Một cái nhìn thanh thản và đơn sơ có thể cho ta thấy một nét đẹp trong người nông dân lấm lem bùn lầy; có thể cho ta thấy sự thiện tinh tuyền trong hình ảnh bà mẹ với những công việc phù du nhất; có thể cho ta thấy chân lý là niềm vui rộn ràng khi người cha hiểu ra quy luật "con hơn cha là nhà có phúc"... Chân thiện mỹ thật ra quá đơn giản, quá mộc mạc, quá gần gũi; chân thiện mỹ có dáng vẻ quá bình thường hoặc quá tầm thường trong một xã hội tranh đua để thăng tiến.

Đức Phanxicô, trong thông điệp Laudato si đã viết những lời tuyệt diệu như sau :

"Linh đạo Kitô giáo đề xuất một cách nhìn khác về phẩm chất cuộc sống, khích lệ một lối sống ngôn sứ và chiêm niệm, có khả năng vui hưởng cách sâu xa sự tự do thoát khỏi nỗi ám ảnh về tiêu thụ. Chúng ta cần học lấy bài học cổ xưa trong các truyền thống tôn giáo cũng như trong Kinh Thánh, xác tín nguyên tắc "ít là nhiều" (less is more). Cơn lũ liên tục của những hàng hóa tiêu dùng mới có thể làm hư hỏng tâm hồn và cản trở chúng ta trân trọng mỗi sự vật và mỗi khoảng khắc. Hiện diện cách thanh bình với mỗi thực tại, cho dù nó nhỏ bé thế nào, đều mở ra cho chúng ta những chân trời hiểu biết và hoàn thiện bản thân. Linh đạo Kitô giáo đề nghị một sự trưởng thành mang dấu ấn tiết độ và hạnh phúc với những gì bé nhỏ".(LS số 222).

Đời sống như thế diễn tả một thái độ đặc biệt của người tín hữu, thái độ trung tín trong việc nhỏ, trong khả năng và giới hạn của mình; và những điều đó được thực hiện trong lòng khao khát, ước mơ những chuyện lớn lao mà Thiên Chúa sẽ làm. Thái độ trung tín như thế làm cho người môn đệ không phải “cúi gầm mặt” vào những sự vật, những sự vật “buồn nôn” của cuộc sống, mà là ngẩng cao đầu để trông chờ Tôn Chủ của mình. Người ta có thể thấy một thứ “nội lực đan tu” nơi những đan sĩ chân chính. Sức mạnh được thể hiện ở chỗ, thay vì ngóng chờ hiệu năng của công việc và rơi vào tình trạng sốt ruột hay nản chí, thì người đan sĩ dâng lên cho Chúa mọi công việc nhỏ nhặt của mình. Người đan sĩ có khả năng "cử hành" từng chi tiết của cuộc sống, có khả năng "gồm gói" giá trị siêu việt, chân trời tuyệt đối vào trong từng bước chân, từng lời nói, từng hành vi nhỏ bé thường ngày. Chính sự “gắn liền” từng bước hành trình với trời cao giúp cho người đan sĩ trân trọng từng công việc và tìm thấy một sự nhẫn nại vô bờ.

Một cách nào đó, cung cách ấy không khác lắm với thái độ của người thiền sư. Tuy nhiên, đối với người Kito hữu, đây không phải là một hành vi phát xuất thuần tuý từ nội lực, được soi sáng nhờ ánh sáng giác ngộ về tính cách hoà đồng của toàn thể vũ trụ, mà là một thứ nội lực phát xuất từ lòng trung tín “hướng thượng” và từng bước vươn lên đến Đấng là nguồn cội của bản ngã.

Nguyễn Trọng Viễn OP

Tài liệu tham khảo

1. Tài liệu Khoá Thường Huấn 4 cho các nhà đào tạo ứng sinh linh mục tại Việt Nam, đê tài “Thế tục hoá và việc đào tạo linh mục tại Việt Nam”, từ 6-18/7/2014 tại Đà Lạt, Việt Nam.

2. Joseph Ratzinger, ĐứcTin Kito giáo, Hôm qua và Hôm nay. NXB Tôn giáo, Hà Nội 2009

3. Lê Minh Thông, Yêu và Ghét trong Tin Mừng Gioan.

4. Nguyễn Xuân Nghĩa, Tôn giáo và quá trình thế tục hóa, Tạp Chí Xã Hội Học số 1 [53], 1996, trang 8-14

5. Johann Figl, đề mục Sécularisation trong Dictionaire de Théologie, sous la direction de Peter Eicher, Les Éditions du Cerf, Paris 1988.

6. Piana Giannino, đề mục Sécularisation trong Dictionaire de Théologie chrétienne, Édition francaise dirigée par Joseph Doré, Desclée.

Chú thích:

[10] Phần này, xin coi Giuse Lê Minh Thông OP, YÊU và GHÉT trong tin Mừng Gio-an, phần I, Trung Tâm Học Vấn Đa Minh 2009, trang 78-160.

[11] Joseph Ratzinger, Đức Tin Kitô Giáo Hôm Qua và Hôm Nay, Nxb. Tôn Giáo, trang 355-359

[12] 47* Chú thích theo bản văn Công Đồng :

– Sống trong thế giới tín hữu phải tránh hai thái độ sai lầm : 1) bỏ sót công việc trần thế để chỉ lo cho việc đạo đức; 2) chìm đắm trong công việc trần thế và coi công việc này như không có liên quan gì đến việc đạo đức.

Qua cả hai sự sai lầm trên, người ta tách biệt đời sống tôn giáo và đời sống nghề nghiệp hay đời sống trần thế nếu nói rộng hơn (cuộc giải trí, văn hóa…) và lại hành động theo luân lý cá nhân (số 30).

Đức tin phải ảnh hưởng trên cả đời sống và ta phải đem tinh nhần Phúc Âm vào công việc trần thế: vào nghề nghiệp, vào giao thiệp với người khác, vào văn hóa, vào cuộc giải trí v.v… “Đối với người Kitô hữu, xao lãng bổn phận trần thế tức là xao lãng bổn phận đối với những người lân cận và hơn nữa đối với chính Thiên Chúa, khiến phần rỗi đời đời của mình bị đe dọa”: vì bổn phận trần thế là phương tiện để thực hành đức mến đối với anh em và đối với Thiên Chúa. Không thực hành đức mến tức là phạm đến toàn thể bộ luật (x. Gal 5,14). Cho nên kẻ nào xao lãng bổn phận trần thế hay là tách rời nó khỏi ảnh hưởng của tinh thần Phúc Âm tức là người không sống đạo, họ không phải là người công giáo.

[13] Xem Dth 13, 14.

[14] Xem 2Th. 3, 6-13 ; Eph 4, 28.

[15] Xem Is 58, 1-12.

[16] Xem Mt 23, 3-33 ; Mc 7, 10-13.

[17] Chẳng hạn, trong Thánh lễ, phút thinh lặng sau các bài đọc, sau bài giảng, sau rước lễ.

[18] Xc. Nguyễn Trọng Viễn, Những Căn Bệnh Trầm Kha trong Đời sống Đức Tin, trang 116-119.

xem lại Phần 1