“Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn” - Phần 2

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Tất cả những suy tư lằng nhằng và đôi khi vớ vẩn ở trên chỉ có ý nghĩa là đưa dẫn đến một xác tín đã khá hiển nhiên trong niềm tin của chúng ta : chính Thiên Chúa mới thực sự là người lãnh đạo trong cộng đoàn, và việc điều hành cộng đoàn của các vị bề trên không thể nào không qui chiếu, không kín múc, không thường xuyên trở về với mạch nguồn là sự sống của Chúa Thánh Thần được trao ban trong đức Giêsu Kitô. Tất cả chỉ có một ý nghĩa đơn giản : gắn bó với đức Giêsu Kitô, một đức Giêsu Kitô đang thực hiện ơn cứu độ của Ngài trong mầu nhiệm Giáo hội.

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

__________________

3. Thánh Thần dẫn đến chân lý toàn diện

Tất cả những suy tư lằng nhằng và đôi khi vớ vẩn ở trên chỉ có ý nghĩa là đưa dẫn đến một xác tín đã khá hiển nhiên trong niềm tin của chúng ta : chính Thiên Chúa mới thực sự là người lãnh đạo trong cộng đoàn, và việc điều hành cộng đoàn của các vị bề trên không thể nào không qui chiếu, không kín múc, không thường xuyên trở về với mạch nguồn là sự sống của Chúa Thánh Thần được trao ban trong đức Giêsu Kitô. Tất cả chỉ có một ý nghĩa đơn giản : gắn bó với đức Giêsu Kitô, một đức Giêsu Kitô đang thực hiện ơn cứu độ của Ngài trong mầu nhiệm Giáo hội.

3.1 Sự hiệp nhất theo tinh thần Vatican II

Theo tinh thần của Công đồng Vatican II, sự hiệp nhất của Giáo hội nằm ở chỗ phẩm tính Giáo hội phổ quát hiện diện trong mỗi cộng đoàn địa phương. Một giáo xứ địa phương không phải là một thành phần nhỏ bé được kết vào thực tại Giáo hội phổ quát theo sự liên hệ bên ngoài; nhưng sâu xa, một giáo xứ hay một cộng đoàn địa phương chính là Giáo hội phổ quát đang hiện diện nơi địa phương ấy. Mỗi giáo xứ chẳng hạn, chính là Giáo hội phổ quát đang hiện diện tại giáo xứ X và giáo xứ Y…

Điều đó quả là một “công thức hiệp nhất” tuyệt vời của niềm tin Kitô giáo. Sự hiệp nhất Kitô giáo không phải là bỏ những thứ hổ lốn vào một bao bì chung, nhưng là khơi lên phẩm chất của cái chung đang hiện diện trong mỗi cá thể. Theo chiều hướng đó, ta có thể nói nhiệm vụ chính của bề trên không phải lấy một khuôn khổ kỷ luật chung để chụp xuống mỗi thành viên, mà là khám phá thiên hướng, khơi lên tinh thần tu trì, nuôi dưỡng tinh thần dòng… trong mỗi thành viên. Kỷ luật chung không có ý nghĩa tự tại, nó chỉ có ý nghĩa như một phương tiện để hành trình có tính phiêu lưu của ngôi vị khỏi bị vỡ toang. Để thực hiện được tính hợp nhất đặc trưng này, có lẽ cần có tối thiểu hai điều :

3.1.1 Tôn trọng phẩm giá của mỗi thành viên trong cộng đoàn

Với công đồng Vatican II, sự bình đẳng về phẩm giá làm con cái Chúa của mọi người kitô hữu đã được xác định. Trong mỗi hội dòng, mọi thành viên cũng đều bình đẳng với nhau về phẩm giá.

Nét bình đẳng về phẩm giá là nền tảng của đời sống chính trị nói chung và của đời sống cộng đoàn. Tuy nhiên, bình đẳng không có nghĩa là “cào bằng”, vì tổ chức chung luôn đòi có sự khác biệt về chức năng. Trong gia đình, cha mẹ và con cái đều bình đẳng về phẩm giá làm người, nhưng không bao giờ con cái được đòi đảm nhận chức năng gia trưởng; trong lớp học cũng vậy, trong cộng đoàn tu trì cũng vậy.

Phẩm giá là nền tảng và là điều nói lên giá trị cản bản. Trong mỗi bình diện, phẩm giá luôn là điều cao quý hơn chức năng; vì có phẩm giá nên mới có chức năng, và chức năng chỉ là một cách thức riêng của mỗi người để thể hiện phẩm giá chung. Làm giám mục hay linh mục là những chức năng riêng để thể hiện phẩm giá làm Kitô hữu. Làm bề trên là một chức năng, là cha/dì giáo là một chức năng trong một cộng đoàn của những anh/chị em cùng bình đẳng về phẩm giá với nhau… Người nào lấy chức năng để tô đắp cho phẩm giá của mình lên trên phẩm giá của người khác là kẻ ăn gian, và cũng là kẻ tự hạ thấp phẩm giá căn bản của mình. Đức Giêsu đụng đến bình diện phẩm giá khi nói rằng :

"Anh em hãy coi chừng, chớ khinh một ai trong những kẻ bé mọn này ; quả thật, Thầy nói cho anh em biết : các thiên thần của họ ở trên trời không ngừng chiêm ngưỡng nhan Cha Thầy, Đấng ngự trên trời”. (Mt 18,10)

Trong đời sống cộng đoàn, nét căn bản của phẩm giá cần phải được biểu lộ trong “bầu khí chung” để thực sự cộng đoàn đúng là một “cộng đoàn phẩm giá” chứ không nghiêng ngả thành một “cộng đoàn chức năng”. Một thành viên có trí thức thì cần thiết cho các lớp học; nhưng không phải trong mọi nơi mọi lúc người ấy có quyền “ăn nói” lấn át, khiến cho người khác không còn dám sống và chia sẻ kinh nghiệm đức tin “bình dân” của mình. Một người đạo đức cũng cần thiết cho bầu khí chung của cộng đoàn, nhưng không phải là người có uy thế để phê phán mọi người và biến bầu khí chung trở thành “đạo luân lý”. Điều đó sẽ biến cộng đoàn trở nên : có nhiều những mẫu gương đạo đức đáng kính nể, nhưng lại có quá ít những chứng tá đời sống tâm linh dễ thương.

Cộng đoàn phẩm giá là nơi mỗi thành viên được hít thở một bầu không khí trong lành; mỗi người được tôn trọng để có khả năng kinh nghiệm được “cái thực” (certum) và có cơ hội để có thể chia sẻ đức tin qua nẻo đường chứng tá. Đức Tin chỉ được nuôi dưỡng phong phú trong cộng đoàn có nhiều chất dinh dưỡng của chứng tá mà thôi.

3.1.2 Tạo nên tâm thức “thuộc về”

Trong tông huấn Gia đình, đức Gioan Phaolô II định nghĩa gia đình là một cộng đồng ngôi vị. Cộng đồng ngôi vị là cộng đồng mà người ta đóng góp chính “cái tôi” của mình, chứ không phải chỉ đóng góp sức lực và tài năng như trong xí nghiệp, hoặc chỉ đóng góp tiền bạc như trong các hợp đồng làm ăn. Cộng đồng ngôi vị biểu lộ một thứ “đẳng cấp” riêng, khác với “phong độ” của tình nghĩa thông thường. Khi ta quý mến bạn bè và chơi với nhau thật tốt, đó cũng chỉ là đỉnh cao của “phong độ”; nơi đó chưa có được sự chấp nhận bản thân của nhau. Nhưng trong gia đình, dù ta có khắc khẩu, bực mình với thằng em của ta đến đâu, thì đẳng cấp của nó vẫn là em, mặc dù “phong độ” không trọn vẹn…

Đời sống đức tin của người tín hữu đặt nền tảng trên một giao ước bản thân với Chúa, đó là bí tích Rửa tội. Giao ước bản thân ấy làm nên một cộng đồng ngôi vị, không phải chỉ ở đẳng cấp máu huyết, nhưng ở đẳng cấp đức tin siêu nhiên. Qua bí tích này, ta thuộc về Chúa và Chúa thuộc về ta. Trong giao ước ấy, người kitô hữu cũng thuộc về Giáo hội và người tu sĩ thuộc về Hội dòng. Tuy nhiên, có lẽ trong thực tế, nơi nhiều cộng đoàn tu trì, vì sức sống đức tin không mạnh mẽ, nên người ta đối xử với nhau vẫn theo tiêu chuẩn của sự hoà hợp “xác thịt” hơn là theo nguyên lý đức tin. Nơi đó, chưa có cảm thức “thuộc về nhau”.

Trong đời sống gia đình, vai trò người mẹ có khả năng tạo nên một ý thức “thuộc về nhau” cho mọi thành viên. Gia đình còn mẹ, thường anh em chị em còn gắn bó với nhau, còn lo lắng cho nhau, còn thiết tha với vận mạng của nhau. Tình mẫu tử có một sức mạnh bền bỉ và bao la. Tình nghĩa ấy thường bộc lộ trong những công việc “trôi qua”, “tan biến”. Mẹ nấu một bữa cơm, và bữa cơm mau chóng tiêu tan; mẹ quét nhà và căn nhà đó chẳng mấy chốc cũng lại dơ bẩn… Tuy nhiên, chính những công việc như thế lại thể hiện rõ rệt bản chất “làm vì ai” chứ không phải “làm cái gì”. Những công việc như thế là con đường thông thoáng nhất để đạt đến ngôi vị của ai khác. Chính sự hiện diện và những việc không tên của người mẹ tạo nên được tâm thức “thuộc về nhau” trong gia đình một cách vững bền nhất.

Cũng thế, vai trò của người bề trên chắc chắn không phải là “áp” khuôn khổ kỷ luật vào đời sống các thành viên để phân định một thứ “phong độ tu trì”; những là nhờ một chút tác dụng của kỷ luật, “ướm” các thành viên vào thực tại “thuộc về nhau trong đức Giêsu Kitô” để sống trọn “đẳng cấp đời sống thánh hiến”. Nơi đâu có ý thức thuộc về nhau trọn vẹn hơn, nơi đó có một cộng đoàn Kitô giáo đúng nghĩa hơn.

3.2 Đổi mới là trở về nguồn

Sau một thời gian hý hửng về khả năng của chính mình suốt thế kỷ XVIII và XIX, nhân loại trong thế kỷ XX hiểu ra một sự thật : đổi mới là trở về nguồn. Cái mới không rớt từ trên trời xuống; cái mới cũng không do sự sáng tạo độc đáo của một ai, cái mới đích thực cũng không phải nhờ những phát minh của thời đại tân kỳ, nhưng do sự trở về, lặn ngụp một cách sung mãn trong cội nguồn của dòng sự sống. Chính dòng chảy của sự sống nhân loại đã ngầm chứa những hạt mầm chân lý, được tinh luyện qua bao thử thách của dòng lịch sử. Tất cả những phương cách “nóng vội”, liều lĩnh, muốn thay đổi tất cả mọi sự, tưởng như những lý tưởng mình đề ra là ưu việt nhất, tuyệt hảo nhất và chỉ có phương cách ấy mới có thể giải quyết được…, cuối cùng đều phải trả giá bằng một sự đổ vỡ đau thương.

Sự sống vốn có một thứ “hạt mầm chân lý” căn bản làm nền móng cho biến chuyển. Một cách cụ thể, qua trong dòng lịch sử, người ta thấy con người vốn có một “năng lực phản tỉnh”. Con người có năng lực phản tỉnh chứ không phải chỉ là hệ quả ngẫu nhiên của những tương tác thực nghiệm. Con người có năng lực phản tỉnh nên mỗi lần lịch sử nghiêng ngả quá đáng về một chiều hướng nào đó, thì sẽ có ngay một sự phản ứng ngược lại. Đây không phải chỉ là một phản ứng ngẫu hứng, một thứ biện chứng phản đề mù quáng, nhưng là phản ứng dựa vào “lương tri ngay thẳng”, dựa vào một hệ quy chiếu “siêu hình” căn bản nào đó vẫn luôn tồn tại trong bản chất người. Những phản ứng này làm nên những hạt mầm chân lý có khả năng soi dẫn cho bước hành trình của nhân loại. Sự thật của cuộc sống không phải do một sáng kiến của một trí khôn sắc sảo, không phải do phát minh của thiên tài, không phải do một cuộc đổi mới thuần tính cách cách mạng, nhưng là một sự tỏ lộ của chân lý cuộc đời, là một tiến trình triển nở của những hạt giống chân lý đã được ươm mầm trong chính dòng đời, trong bản chất người, trong sự thật của kiếp nhân sinh.

3.2.1 Thánh Thần trong dòng sự sống

Trong đức Tin, chúng ta tin rằng những hạt mầm chân lý ấy chính hiệu quả của ơn Thánh Thần. Thánh Thần Thiên Chúa chưa “về hưu” và vẫn đang hoạt động, vẫn đang tích cực dẫn dắt lịch sử nhân loại. Trong lịch sử Giáo hội, Thánh Thần hướng dẫn Giáo hội bằng một thứ “cảm thức đức Tin” nơi người tín hữu. Giáo quyền và những nhà thần học không được quên kho tàng chân lý trong dòng truyền thống, bao gồm cảm thức đức Tin của người tín hữu. Lịch sử của tín điều Đức Maria Vô nhiễm Nguyên tội là một bằng chứng rõ ràng nhất. Niềm tin vào Thánh Truyền của Giáo hội Công giáo diễn tả chân lý ấy.

Một cách cụ thể, chẳng hạn, những vị mục tử không được coi thường những biểu lộ của đức Tin trong lòng đạo đức bình dân. Đạo đức bình dân vẫn có nhiều “râu ria” của tình cảm, của một đức tin lệch lạc, nhưng không phải tất cả đều là những điều vớ vẩn. Lòng đạo đức bình dân vẫn hàm chứa những kinh nghiệm thật về sự sống đức tin, hàm chứa những hạt mầm chân lý đức tin.

Tương tự như thế, người lãnh đạo cũng được mời gọi để khám phá tiếng nói của Thánh Thần trong đời sống cộng đoàn cũng như trong hành trình đức tin của mỗi thành viên.

3.2.2 Chiêm ngắm huyền nhiệm

Trong thế kỷ XX, người ta hiểu ra con người không phải là một bài toán gồm những dữ kiện thực nghiệm mà ai đó có thể tính toán trước được. Thực sự, con người là huyền nhiệm không dễ gì toát lược được. Thân xác con người thôi, đó đã là một điều gì quá huyền diệu; rồi linh hồn con người lại càng có biết bao điều huyền diệu. Ngày nay, người ta hiểu ra rằng không một học thuyết nào có thể toát lược được toàn vẹn bản chất của con người. Hữu thể là huyền nhiệm, mỗi con người là một huyền nhiệm; khẳng định đó của G. Marcel được sự đồng thuận của hầu hết mọi người ngay nay.

Điều làm nên những bất ngờ huyền diệu nhất của con người chính là thời gian, là lịch sử. Trong thời gian, con người này với bản chất này, con người kia với bản chất kia… có thể đổi mới một cách không ai có thể tính trước được. Hiện hữu của một con người là một khởi đầu mới; hành trình đời người là một cuộc phiêu lưu kỳ diệu. Lịch sử nhân loại, tự nó, đã bao hàm một sự mới mẻ kỳ diệu.

Đức tin trong truyền thống Do thái-Kitô giáo nhận ra dòng lịch sử trần tục được chính Thiên Chúa can dự và biến thành lịch sử ơn cứu độ. Hơn nữa, Kitô giáo nhìn nhận “phép lạ biến đổi” ấy có thể được thực hiện nơi từng cá nhân mỗi người. Quả thật, trong đức tin, khẳng định về huyền nhiệm con người được nhân đôi cấp độ; con người vốn đã là huyền nhiệm trong dòng thời gian, rồi Thiên Chúa lại có thể biến một tội nhân thành thánh nhân, biến một người chài lưới thành người đứng đầu Giáo hội…

Tuy nhiên, có lẽ hội dòng nào cũng mắc căn bệnh xầm xì, và vị bề trên nào cũng nhiễm lây bệnh yên chí. Đó là những thứ bệnh giết chết huyền nhiệm cứu độ nơi mỗi anh chị em của mình.

Với vai trò là người lãnh đạo, thái độ cần thiết hơn cả, chính là tìm ý Chúa, và việc tìm ý Chúa trong chiều hướng “cúi xuống” chính là thái độ chiêm niệm thánh ý Chúa trong lịch sử ơn cứu độ của mỗi thành viên trong cộng đoàn của mình. Chiêm niệm trong đức ái, chiêm niệm trong lòng từ bi thương xót, hơn bất cứ phẩm tính nào khác, phải là điều nổi bật nhất nơi mọi người lãnh đạo trong Giáo hội.

3.3 “Cái mới” của Chúa

Đời sống con người được đặt vào trong sự biến chuyển tuần hoàn của vũ trụ. Cần có ngày mới, tháng mới, năm mới để con người có thể bắt đầu lại hành trình lịch sử của mình. Tuy nhiên, trong khi sự xoay vần của vũ trụ là một chu kỳ tuần hoàn khép kín của thiên nhiên, thì con người lại nương vào vòng chu kỳ ấy để thể hiện lịch sử đời mình như “một vòng xoắn ốc”, nghĩa là một sự vươn lên, một sự đổi mới thật sự, chứ không phải chỉ là vòng tuần hoàn lặp đi lặp lại. Con người chỉ thực sự thể hiện đời mình trong dòng lịch sử, nơi đó, con người cần có những khởi đầu mới.

Đức Kitô là một khởi đầu mới cho Nước Trời, Nước Trời như men, như hạt. Chính nhờ gắn bó với Chúa Kitô, hành trình lịch sử của con người trở nên phong phú bất ngờ, vượt qua trí năng suy tính của con người. Ai có thể ngờ một tên trộm, cho đến giờ phút cuối của cuộc đời, chỉ với một lời cầu nguyện duy nhất trong cuộc đời, lại là người chiếm được Nước Trời “ngay hôm nay” ? Ai có thể ngờ được một con người như bà Maria Madalena đi đến một kết thúc như một vị thánh ?….

Thật sự, trong đức Giêsu Kitô, con người luôn có thể bắt đầu lại, luôn có thể đưa đời mình vào một hành trình mới, siêu việt cách triệt để … và chính trong ý nghĩa ấy, cặp phạm trù căn bản của lý trí con người, phạm trù đúng-sai, được hướng dẫn, được bao bọc trong một cặp phạm trù khác của đức tin, phạm trù trung tín-bất trung; và đây mới là điểm mấu chốt mang tính quyết định cho vận mạng một đời người.

Thiên Chúa có khả năng đổi mới mọi sự. Nhưng đâu là cách đổi mới của Chúa ? Người thợ hay người nghệ nhân nào thể hiện một cung cách làm mới gần với kiểu của Chúa hơn cả ???

Con người, xét theo khoa học, đã hình thành nhân cách của mình từ rất sớm. Đến khi trưởng thành, khi mà mỗi người nhận ra tầm quan trọng của cuộc đời, nhận ra trách nhiệm về đời mình thì ra như đã quá muộn. Đến tuổi đôi mươi chẳng hạn, con người giống như một cây già, đã cứng, khó lòng uốn nắn được nữa. Theo logique ấy, chuyện giáo dục luân lý chỉ còn một phần tác dụng nhỏ. Nhỏ nghiêng đàng nào thì lớn ngả theo đàng ấy….

Nhưng Thiên Chúa có cách đổi mới của Ngài. Ngài đổ vào lòng con người tình yêu, mà tình yêu là “thành phần” không bao giờ bị già cỗi, không bao giờ dư thừa trong con người. Tình yêu được “đổ” vào con người sẽ “chạy” đến một “nơi trũng” nhất, nơi còn giữ được “hình bóng Thiên Chúa” nhiều nhất trong nhân cách một con người. Khi đó, chính “nơi” ấy sẽ làm nên trọng tâm, tạo nên một “thế đứng” và làm nên “dáng vóc” mới của một con người. Một cách nào đó, chính những nghệ nhân chơi đá, có khả năng đặt thế đứng cho khối đá xù xì, biến khối đá ấy thành một tác phẩm nghệ thuật, những nghệ nhân ấy đã thực hiện phương cách đổi mới giống với cách hành động của Thiên Chúa nhiều nhất.

Tạm kết

1. Người lãnh đạo trong Giáo hội là người tìm phương thức nối kết được cái chung và cái riêng. Trong trách nhiệm này, người lãnh đạo là người phải gánh cho cân một “quang gánh” đối nghịch; cái nặng bên ngoài lại nhẹ bên trong, cái nặng bên trọng lại nhẹ bên ngoài. Quang gánh đó muôn đời vẫn luôn có đối nghịch; để cá nhân được tôn trọng thì tập thể lỏng lẻo; coi trọng trật tự chung thì sẽ có nguy cơ đánh mất người anh/chị em nào đó.

Những suy tư trên đây có thể tóm kết như một mong ước quí bề trên đừng hành xử như một công tố viên, theo kiểu áp dụng lề luật chung vào những con người và những tình huống riêng biệt; nhưng hành xử như những luật sư, khởi đi từ việc trân trọng từng thành viên trong cộng đoàn và tìm ra được đường lối để đưa dẫn đến lý tưởng chung.

Chỉ trong sự kết hợp sâu xa với Chúa Giêsu Kitô, trong sự quý trọng anh/chị em của mình, người lãnh đạo trong Giáo hội mới có thể chống lại sức xô đẩy của quyền lực, để có thể “ướm” cái riêng đi lên cái chung một cách nhân bản và siêu nhiên, chứ không phải áp đặt cái chung vào cái riêng một cách “bất nhân” và theo lẽ tự nhiên của thế gian.

2. Xin chia sẻ một chút về tình thần Đa minh, được diễn tả trong bản Hiến pháp của Dòng : giữ luật trong tinh thần tự do của con cái Chúa.

Nguồn mạch căn bản của tinh thần thánh Đa Minh chính là dấu ấn của ngài trong bản văn Hiến Pháp mà Dòng luôn muốn bảo tồn, đặc biệt trong những số Hiến Pháp Nền Tảng. Chín số ngắn ngủi của Híến Pháp Nền Tảng cô đọng những điều không thể thay đổi của tinh thần Đa Minh, ta thấy có hai số diễn tả nét hiệp thông Đa Minh, nét hiệp thông không phải do cơ chế nhưng từ tinh thần tự do, đó là số VI và số VII.

Đầu tiên, chúng ta thấy một nét rất đặc biệt của Dòng là khẳng định luật không buộc thành tội :

“Cũng do chính sứ vụ của Dòng, trách nhiệm và ân sủng riêng của anh em được xác nhận và cổ võ theo một cách thế đặc biệt. Vì một khi hoàn tất việc đào tạo hiến định, mỗi anh em được kể như người trưởng thành, vì sẽ hướng dẫn những người khác và đảm đương những phận vụ khác nhau trong Dòng. Chính vì lý do này, Dòng đã muốn rằng các luật riêng của Dòng không buộc thành tội để anh em đón nhận những luật ấy một cách khôn ngoan, “không như nô lệ dưới ách luật, mà như con cái trong ân sủng” (Hiến Pháp sơ khởi, tự ngôn) (HPNT VI)

Chúng ta thấy có hai lý do được nêu lên để giải thích khoản luật “kỳ lạ” này :

+ Nhằm để anh em sống “không như nô lệ dưới ách luật, mà như con cái trong ân sủng” (Tu Luật Âu tinh, số 8.)

+ Vì anh em, sau khi hoàn tất việc đào tạo hiến định, phải được coi như những người trưởng thành, cần phải khôn ngoan và tự do để đảm đương nhiều phận vụ khác nhau.

Điều khoản đó cho thấy một nỗi ưu tư của thánh Đa Minh là ưu tư về chính bản thân của mỗi người tu sĩ chứ không phải ưu tư về một nề nếp trật tự ổn định của cộng đoàn; đó cũng là mối ưu tư về một cách sống hiệp thông chân thực trong tinh thần chứ không phải là ưu tư về những hình thức đúng đắn bên ngoài. Quả thật, đó là một sự tin tưởng hết sức vào chính anh em của mình; tin tưởng không phải chỉ trong những điều mà mình chưa hiểu rõ về sự kiện bên ngoài, nhưng cả trong những điều đã rõ là ngược với những quy định của hiến pháp. Không muốn đồng nhất việc vi phạm Hiếp Pháp với tội, đó là khẳng định có một yếu tố khác có thể làm thay đổi bản chất của hành vi vi phạm bên ngoài. Đó không là gì khác hơn muốn tin tưởng vào tinh thần bên trong của anh em, tin tưởng và tạo điều kiện trong sự trưởng thành thật sự của anh em. Tinh thần tin tưởng nhau như thế nhằm loại trừ thái độ xầm xì dòm ngó nhau, cũng như loại bỏ kiểu giữ luật cho qua lần chiếu lệ đối với Chúa. Khi đó, ta mới có được một bầu không khí trong lành của một sự cảm thông thực sự giữa anh em với nhau cũng như của một tâm tình chân thành không tính toán đối với Chúa. Niềm tin tưởng ấy kêu mời, chất vấn, để người tu sĩ Đa Minh không phải chỉ sống với Chúa và sống với anh em mình bằng lớp vỏ của những qui định bên ngoài, nhưng bằng tinh thần tự do của con cái Chúa. Chính niềm tin tưởng như thế, có thể mở đường để anh em sống một sự trưởng thành thật sự. Thật sự, nhiều khi ta thấy không có gì làm cho người ta dốt hơn là làm học trò, nghĩa là nhiều khi chính hoàn cảnh làm cho người ta ấu trĩ.

Tinh thần tự do đối với lề luật như thế còn được nhấn mạnh thêm bằng một qui định luật pháp : luật chuẩn chước. Hiếp Pháp nền tảng IV nói tiếp :

“Cũng do mục đích của Dòng, bề trên có quyền miễn chuẩn “mỗi khi thấy thích hợp, nhất là trong những gì xem ra cản trở việc học hành, giảng thuyết và lợi ích của các linh hồn” (HPNT VI)

Như thế, chuẩn chước không còn là chuyện tối kỵ hoặc bất đắc dĩ nữa, nhưng là chuyện bình thường, đặc biệt là khi thấy cần thiết cho việc học và việc tông đồ. Ra Luật nhưng lại dự trù luật chuẩn chước, đó là một thái độ không phải là thượng tôn luật pháp bất cứ giá nào, mà là đặt ưu tiên cho bản thân người tu sĩ và ưu tiên cho sứ vụ mà Dòng đã lãnh nhận từ Hội Thánh.

Một cách nào đó, ta có thể thấy nơi đây một khẳng định vừa hết sức nhân bản, vừa hết sức Tin Mừng. Nhân bản vì bản thân con người có giá trị trên luật lệ xét như là luật lệ thuần túy; điều đó cũng có nghĩa là luôn hiểu rằng luật luôn luôn là luật chung cho mọi người, nhưng mỗi cá nhân con người lại có cứu cánh nơi bản thân mình. Con người được dựng nên vì chính mình, để sống trọn vẹn bản thân mình, để đạt được cứu cánh nơi bản thân mình và không bao giờ được biến bất cứ một con người nào trở thành một phương tiện hoặc trở thành “con dê tế thần”, cho dù cho Chúa hay cho một sự ổn định của tập thể.

Hơn nữa, mỗi con người có cứu cánh nơi chính mình, đó là nền tảng căn bản và độc đáo nhất của lập trường nhân bản Kitô giáo. Chính vì thế mà chúng ta hiểu được câu nói độc nhất vô nhị của Chúa Giêsu :

“Người nói tiếp : "Ngày sa-bát được tạo nên cho con người, chứ không phải con người cho ngày sa-bát.” (Mc 2,27)

Và cũng chính vì lẽ đó là chúng ta được mời gọi để sống sự tự do bát ngát của con con cái Chúa : “Chính để chúng ta được tự do mà Đức Ki-tô đã giải thoát chúng ta.”(Gl 5,1).

William a Hinnebrusch O.P, trong tác phẩm Linh Đạo Đa Minh, có trích lại lời của Tổng Giám Mục Pascal Robinson, một sử gia dòng Phan Sinh, nói về luật chuẩn chước như sau :

“Tôi sẽ nêu lên một nét mới lạ nổi bật trong tu luât của thánh Đa Minh; và đây thực sự là nét đặc trưng đối với Dòng của ngài, đó là nguyên tắc chuẩn chước. Nguyên tắc chuẩn chước này được nói dến ở phần đầu của Hiến Pháp khi đề cập tới mục đích của Dòng. Điều này cho thấy rằng việc chuẩn chước, điều chỉnh và dung hòa việc ứng dụng các luật lệ, một điều hoàn toàn chưa hề có trong các tu luật trước đó. Hiểu một cách chính xác, việc chuẩn chước này đúng là kiệt tác của việc lập pháp Đa Minh. Hơn nữa, nó cho phép Dòng có thể đáp ứng những nhu cầu mới mà vẫn duy trì được sự thống nhất. Nó cũng là một khí cụ hoàn hảo của tinh thần khổ chế, vì khi thực hiện nó, đòi hỏi một sự từ bỏ những cách nhìn hẹp hòi và những mục tiêu tầm thường ở mọi thời đại” (trang 60, bản dịch đầu tiên)

Về điều này, cha Timothy Radcliffe, trong bài “Tự do và trách nhiệm, hướng tới một linh đạo về quản trị” có một đoạn văn dài rất hay như sau :

“Mục đích mọi cuộc đào tạo của chúng ta đều nhằm gíup cho anh em thành những con người tự do và có trách nhiệm. Và đó là lý do tại sao Hiếp Pháp nói rằng người có trách nhiệm tiên quyết đối với việc đào tạo là chính ứng sinh (HP 156). Việc quản trị đặt căn bản trên lòng tin tưởng vào anh em. Chúng ta bày tỏ lòng tin tưởng của chúng ta khi nhận cho anh em tuyên khấn. Cũng một thái độ tin tưởng ấy hiện diện trong việc bầu cử các bề trên. Các bề trên cũng phải tin tưởng anh em, những người mà các ngài chỉ định vào các chức vụ. Đôi khi chúng ta có thất vọng, nhưng đó không phải là lý do để từ khước thái độ tin tưởng lẫn nhau như thế. Anh Simon Turgwell viết : “Nói cho cùng, nếu tu sĩ Đa Minh phải làm công việc của mình một cách đàng hoàng, thì phải sẵn sàng chấp nhận một số may rủi nào đó, và họ cần phải được tin tưởng để có thể đương đầu với những may rủi đó. Và Dòng cũng phải chấp nhận một số, có thể là nhiều, những cá nhân có thể lạm dụng sự tin tưởng ấy”

Một thái độ tin tưởng như thế, đòi chúng ta phải vượt thắng nỗi sợ hãi, sợ điều có thể xảy ra nếu không kiểm soát anh em. Chúng ta phải đào tạo anh em biết sống với sự tự do của thánh Đa Minh như thế. Anh Felicissimo Martinez viết : ‘không có việc gì phục vụ con người vĩ đại hơn là giáo dục họ để họ biết sống tự do… Nỗi sợ hãi tự do có thể bắt nguồn từ thiện chí của những người cảm thấy có trách nhiệm đối với người khác, và có thể được cho là hợp lý khi nại đến thực tế. Nhưng điều này lại cho thấy một cái nhìn thiếu tin tưởng vào năng lực và sức mạnh của kinh nghiệm Kitô giáo. Sợ hãi và thiếu đức tin thường đi đôi với nhau”.

Những suy tư trên đây không nhằm lên án các bề trên. Tự thâm tâm, tôi vẫn giữ tâm tình tri ân với các bề trên của mình. Các bề trên, nói chung, là những người phải đứng mũi chịu sào, gánh những trách nhiệm có nhiều khó khăn bên trong còn lớn hơn những gánh nặng bên ngoài...

Xin Chúa ban nhiều sức mạnh và ơn khôn ngoan cho các vị.

Nguyễn Trọng Viễn O.P.

DÀN BÀI

1. Quyền bính và phục vụ 1

2. Tìm ý nghĩa căn bản cho việc quản trị Kitô giáo 5

2.1 Từ nền tảng nhân học Kitô giáo 5

2.2 Giới hạn của triết lý 7

2.3 Hướng mở đến bình diện siêu nhiên 11

3. Thách đố muôn đời 14

3.1 Thế đứng “đôi bờ” của người lãnh đạo trong Giáo hội 14

3.2 Trật tự chung và tính nhân bản 16

3.3 Nếp sống đạo đức chung và cảm nhận hạnh phúc của mỗi thành viên 20

3.4 “Cái chân” (verum) và “cái thật” (certum) 22

4. Thánh Thần dẫn đến chân lý toàn diện 23

4.1 Sự hiệp nhất theo tinh thần Vatican II 24

4.1.1 Tôn trọng phẩm giá của mỗi thành viên trong cộng đoàn 24

4.1.2 Tạo nên tâm thức “thuộc về” 26

4.2 Đổi mới là trở về nguồn 27

4.2.1 Thánh Thần trong dòng sự sống 28

4.2.2 Chiêm ngắm huyền nhiệm 29

4.3 “Cái mới” của Chúa 30

Tạm kết 32

xem lại Phần 1