Sự Sống Mới Trong Đức Kitô - Phần 1

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Hình như nhiều trục trặc trong đời sống đức Tin xuất phát do thái độ “nửa chừng xuân”, thái độ nửa vời, thái độ “chân trong chân ngoài”, thái độ “hồn Trương Ba da hàng thịt”, thái độ theo Chúa Giêsu nhưng còn ngoái lại đằng sau… Đây là một thái độ nửa vời giữa giữa một lối sống đạo cũ và lối sống đạo mới, giữa Cựu Ước và Tân Ước; giữa tin và không tin vào mầu nhiệm Nước Trời. Chúng ta cùng duyệt xét lại đời sống đức tin trong chiều hướng tìm lại những nét mới của Tin Mừng Đức Giêsu Kitô và tìm lại một đời sống mới trong Đức Giêsu Kitô.

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

__________________

* Khai mạc :

Nhiều trục trặc trong đời sống đức Tin xuất phát do thái độ nửa vời. Cần tìm lại ý nghĩa đích thực của đời sống mới mẻ trong Đức Kitô.

I. Sự Sống Mới

1. Mầu nhiệm Nước Trời

1.1 Nước Trời như men như hạt 03

1.2 Hai lần Chúa đến 06

1.3 Cám dỗ muôn đời 06

2. Nguyên lý mới của Tin Mừng Cứu Độ

2.1 Ba cấp độ của đời sống tôn giáo 08

2.2 Sự công chính mới 11

2.3 Sống với Chúa Giêsu Kitô 13

II. Giao Ước bản thân

3. Mâu thuẫn căn bản của con người

3.1 Nỗi xao xuyến của người độc thân 15

3.2 Hai nhu cầu căn bản 16

3.3 Giao Ước bản thân với Chúa Giêsu 18

4. Nguồn sức sống mới

4.1 “Tình tay ba” 21

4.2 Khi tôi yếu là lúc tôi mạnh 24

4.3 Kẻ bé mọn trong Nước Trời 25

5. Tâm tình căn bản

5.1 Tìm lại sức mạnh căn bản của tình nghĩa 27

5.2 Mắc nợ nghĩa tình 30

5.3 Lãnh nhận với lòng tri ân 32

6. Đáp trả của người Kitô hữu

6.1 Phẩm giá con người trước nhan Chúa 36

6.2 Lời kêu mời ra khỏi bản thân 37

6.3 Tìm hạnh phúc trong ý nghĩa dâng tặng 40

III. Hành trình trung tín

7. Trung tín và trình độ

7.1 Cám dỗ của trình độ 43

7.2 Hai ý nghĩa của trung tín 46

7.3 Trung tín là phẩm chất căn bản của tình yêu 47

8. Cái mới của Tin Mừng

8.1 Con người và lịch sử 50

8.2 Tích cách hiện sinh của đời sống đức Tin 52

8.3 Trong Chúa Kitô,

con người tìm được khả năng bắt đầu lại 53

9. Nguồn mạch luân lý mới

9.1 Lối sống đối phó quẩn quanh mức trung bình cộng 55

9.2 Điều răn mới của Chúa Giêsu 57

9.3 Sống bằng ơn Chúa Thánh Thần 58

III. Dấn thân vào sứ mệnh

10. Ơn gọi và sứ mệnh

10.1 Bầu khí xã hội hiện nay 59

10.2 Phẩm giá Kitô hữu : được kêu gọi 61

10.3 Sứ mạng, hành trình khởi từ trái tim 64

11. Sống mầu nhiệm hiệp thông trong Giáo Hội

11.1 Liên đới trong tội lụy và hiệp thông trong ơn phúc 65

11.2 Lãnh trách nhiệm về nhau 67

11.3 Sống chiều kích cánh chung 67

12. Cộng đoàn đức Tin

12.1 Nguyên lý xác thịt và nguyên lý Nước Trời 69

12.2 Chiêm ngắm huyền nhiệm nơi anh chị em 71

12.3 Nước Trời trong cộng đoàn trần gian 71

Dàn bài chi tiết

* Khai mạc :

Hình như nhiều trục trặc trong đời sống đức Tin xuất phát do thái độ “nửa chừng xuân”, thái độ nửa vời, thái độ “chân trong chân ngoài”, thái độ “hồn Trương Ba da hàng thịt”, thái độ theo Chúa Giêsu nhưng còn ngoái lại đằng sau… Đây là một thái độ nửa vời giữa giữa một lối sống đạo cũ và lối sống đạo mới, giữa Cựu Ước và Tân Ước; giữa tin và không tin vào mầu nhiệm Nước Trời.

Chúng ta cùng duyệt xét lại đời sống đức tin trong chiều hướng tìm lại những nét mới của Tin Mừng Đức Giêsu Kitô và tìm lại một đời sống mới trong Đức Giêsu Kitô.

I. Sự Sống mới

1. Mầu nhiệm Nước Trời

1.1 Nước Trời như men như hạt

Lời rao giảng đầu tiên của Chúa Giêsu là : “Thời kỳ đã mãn, và Triều đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1, 15).

“Thời kỳ đã mãn”, nghĩa là thời gian chờ đợi của lịch sử ơn cứu độ đã đến, thời gian đã chín mùi, để đến một thời kỳ Chúa hoàn tất trọn vẹn chương trình cứu độ của Ngài, thời kỳ của Triều đại Thiên Chúa.

“Anh em hãy sám hối” : để bước vào thời kỳ mới này, con người cần phải sám hối, nghĩa là phải vượt qua một lần nữa trình độ sống tôn giáo, phải vượt qua những giới hạn của Cựu Ước, phải sám hối, métanoia, để thay đổi tinh thần cũ bằng một tinh thần mới; phải vượt qua não trạng cũ trong chế độ lề luật, để bước vào chế độ mới của ân sủng. Chế độ mới của Triều đại Thiên Chúa mời gọi một tinh thần mới, một thái độ mới, một sự can đảm thay đổi triệt để.

Triều đại Thiên Chúa đã “đến gần”. Đến gần ở đây không có nghĩa là chưa đến, là sắp đến trong tương lai, nhưng là đã có mặt và đang hoàn thành. Triều đại Thiên Chúa không “rớt xuống” một cách hoàn toàn ngẫu nhiên, nhưng được gieo mầm, trong lòng trông chờ, trong những bước Thiên Chúa đã chuẩn bị suốt dòng lịch sử Cựu Ước. Bây giờ đây, triều đại Thiên Chúa đã có mặt. Nước Trời do Chúa Giêsu thiết lập, nên ở đâu có Chúa Giêsu thì ở đó đã có mặt Triều đại của Thiên Chúa.

Tuy nhiên, điều quan trọng là, mặc dù chính Chúa Giêsu hiện diện, chính Chúa Giêsu rao giảng về Triều đại Thiên Chúa, nhưng Triều đại Thiên Chúa vẫn “gần đến”. Điều đó cho thấy Triều đại Thiên Chúa không lù lù xuất hiện như lòng mong đợi của người Do Thái, Triều đại Thiên Chúa vẫn còn “chờ” lòng sám hối, Triều đại Thiên Chúa vẫn còn cần đến một tiến trình lâu dài …và Chính Thánh Thần của Chúa mới hoàn tất mọi sự trong Chân lý Toàn Vẹn.

Có thể nói mầu nhiệm về Triều đại Thiên Chúa được thể hiện trong hình ảnh hạt cải và nắm men. (Mt 13, 31-33; Mc 4,30-32; Lc 13, 18-21). Nắm men và hạt cải Nước Trời là một khởi đầu nhỏ bé nhất, nhưng lại bao hàm một mầm sống vô cùng lớn lao.

Người Do Thái, những người đã được chuẩn bị gần 2000 năm để đón nhận Đấng Mêsia, nhưng lại không hiểu được nét mới của Triều đại Thiên Chúa, và đã trượt dài trên nẻo đường từ chối Đức Giêsu Kitô. Từ trong Cựu Ước, đã có hai nguồn ánh sáng về Đấng Mêsia, một của Isaia, và một của Daniel, hai luồng tư tưởng ấy trái ngược nhau. Người Do Thái không hóa giải được mâu thuẫn giữa hai luồng tư tưởng ấy. Trong truyền thống Do Thái giáo, người ta thấy rằng những nhà thần kiến táo bạo nhất cũng không làm sao dung hòa được hai viễn tượng đó, mặc dầu là dung hòa một cách vụng về đi nữa. Chẳng hạn chúng ta đọc thấy trong triết gia Do Thái Maimonide (1135-1204 sau JC) một suy niệm như sau : “Bạn đừng có bao giờ nghĩ rằng vào thời kỳ của Đấng Cứu Thế, có cái gì sẽ thay đổi trên thế giới bình thường nay… Không, thế giới vẫn như thường, và điều Isaia đã nói… và tất cả những điều giống như thế về vấn đề Đấng Cứu Thế đều là những mechalim, những dụ ngôn”.

(Trích lại trong bài “Không có ngày “G” đối với Đấng Cứu Thế”, của Robert Aron; trong tuyển tập : A. Frossard, J Dheilly, M. Halpern, R. Aron, Để Làm Giầu Kiến Thức Kinh Thánh, tập IV, Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo, t/p HCM, 1993, tr. 1316.)

Hoặc chúng ta có thể đọc trong bài thơ của Frischmann, một thi sĩ Ba lan, gốc Do Thái, một hình ảnh biểu tượng một Đấng Cứu Thế bị trói bằng những sợi xích vàng trên thiên giới : Ngài đón nhận những nỗi đau của nhân loại, qua mọi thời đại. Từ trên cao Ngài nhìn thấy mọi nỗi kinh hãi của cuộc sống nơi anh em Ngài… Ngài như vùng vẫy để xuống thế, Ngài khao khát, Ngài lấy hết nghị lực để bẻ gẫy xiềng xích, để thoát ra, để phóng xuống, để giải thoá, để cứu vớt… nhưng Ngài vẫn bị trói bằng những sợi xích vàng… (Nt, trang 1318-1320).

Phải chăng cuối cùng hình ảnh Người Tôi Trung trong Isaia cũng chỉ là “dụ ngôn” ? là cách diễn tả lòng khao khát cứu độ của một Đấng Mêsia bị xích bằng những sợi xích vàng ? là một động lực muôn đời trong dòng lịch sử, bộc lộ trong những con người anh hùng hết thời đại này sang thời đại khác, để lao vào cuộc cứu độ con người ?

Thật sự ta không ngạc nhiên gì về thái độ của người Do Thái, bởi vì đường lối của Thiên Chúa vượt xa đường lối của con người, và con người luôn phải hoán cải là như thế :

- Herode đã tưởng Vua mới sẽ chiếm mất ngôi vua của mình nên tìm cách giết đi.

- Gioan Tẩy Giả, người Tiền Hô cũng hiểu lầm về Triều Đại Thiên Chúa;

- Người Biệt Phái muốn có một Đức Mêsia hùng mạnh;

- Dân chúng muốn tôn Chúa Giêsu lên làm vua;

- Các môn đệ cũng hí hưởng đi theo Chúa;

Ta biết rằng sở dĩ có “bí mật trong Tin Mừng Marco”, đó cũng là vì Chúa Giêsu không muốn làm cớ cho sự hiểu lầm của hầu như tất cả mọi người Do Thái trước mầu nhiệm Nước Thiên Chúa.

1.2 Hai lần Chúa đến

Người Do thái có một lịch sử quá đau thương. Trong khi các dân tộc khác, nhất là những nền văn minh khổng lồ chung quanh Địa Trung Hải, đã phát triển nền văn minh tự nhiên của họ rất nhiều; thì người Do Thái, xét về phương diện văn minh nhân loại, hầu như chỉ là số không. Tất cả niềm hy vọng của họ đặt ở niềm tin tôn giáo, đặt ở sự xuất hiện của Đấng Mêsia. Họ đã chờ đợi quá lâu, và họ không thể nào lại tiếp tục chờ đợi kiểu công bố Nước Thiên Chúa như men, như hạt.

Nước Thiên Chúa được thể hiện trong một quá trình dài giữa hai lần Chúa đến, một lần đến như Isaia công bố, và một lần Chúa đến như Daniel công bố.

Trong chương trình của Thiên Chúa, có một giai đoạn cánh chung dài, chứ không phải là một biến cố dứt khoát ngay. Quãng thời gian dài để Nước Thiên Chúa như men, như hạt có thể lớn lên, phát triển và biến đổi bộ mặt trần gian từ bên trong, biến đổi toàn diện và thấm nhuần toàn bộ cuộc sống trần gian.

Thời gian của Giáo Hội, là thời gian giữa hai lần Chúa đến, là thời gian vun tưới cho Nước Trời, như men, như hạt, được lớn lên và thành tựu. Đó cũng là ý nghĩa chính yếu của Giáo Hội, là sứ mạng chính yếu của Giáo Hội; ý nghĩa chính yếu của mọi thành phần trong Giáo Hội, ý nghĩa chính yếu của mọi người Kitô hữu.

1.3 Cám dỗ muôn đời

Não trạng của người Do Thái cũng chính là cám dỗ muôn đời của nhân loại, của chính Giáo Hội trong suốt lịch sử, và Giáo Hội hiện nay. Cám dỗ về một Giáo Hội hùng mạnh, có khả năng thống trị, và chinh phục người khác bằng một thứ sức mạnh không phải của Nước Trời. Chương sách nổi tiếng của Dostoievsky, Viên Đại Pháp Quan Tôn Giáo, anh tiểu thuyết Anh Em Nhà Karamadốp cho thấy mức độ nguy hiểm của cám dỗ quyền lực, cám dỗ của sự khôn ngoan nhân loại, cám dỗ của nhu cầu vật chất.

Cám dỗ một cách cụ thể đối với người Kitô hữu hiện nay, chính là thái độ ngần ngừ vì không dám tin vào mầu nhiệm Nước Trời, không dám sống bằng sự sống mới của Ơn Chúa Thánh Thần. Người Kitô hữu “nửa mùa” là người chọn con đường khả thi xét theo năng lực con người, không dám dấn thân vào cuộc phiêu lưu của hạt men, hạt cải Nước Trời; rồi xét đoán hoàn cảnh, xét đoán người khác cũng chỉ thuần túy theo lý lẽ tự nhiên :

“Chiều đến, các môn đệ lại gần thưa với Người : "Nơi đây hoang vắng, và đã muộn rồi, vậy xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào các làng mạc mua lấy thức ăn." (Mt 14, 15)

Đức Giêsu mời gọi các môn đệ, dám nghĩ đến điều bất khả thi : “ Đức Giê-su bảo : "Họ không cần phải đi đâu cả, chính anh em hãy cho họ ăn." (Mt 14, 17)

Rồi Ngài mời gọi môn đệ khởi đi từ những gì hết sức giới hạn của mình :

“Các ông đáp : "Ở đây, chúng con chỉ có vỏn vẹn năm cái bánh và hai con cá !". Người bảo : "Đem lại đây cho Thầy !" (Mt 17, 18)

Chính trong tình huống ấy, Chúa Giêsu mới có thể thực hiện sự phong phú dư dật của hồng ân Nước Trời :

“Rồi sau đó, Người truyền cho dân chúng ngồi xuống cỏ. Người cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra, trao cho môn đệ. Và môn đệ trao cho dân chúng. Ai nấy đều ăn và được no nê. Những mẩu bánh còn thừa, người ta thu lại được mười hai giỏ đầy. Số người ăn có tới năm ngàn đàn ông, không kể đàn bà và trẻ con.” (Mt 14, 19-21)

Chúng ta có thể thấy trong bữa ăn này hình ảnh bàn tiệc cánh chung, bàn tiệc cánh chung vẫn đang được dọn bữa, bằng những công sức của Giáo Hội, và bàn tiệc cánh chung được hoàn thành trong ân sủng của Thiên Chúa. Nước Thiên Chúa đã có mặt và đang hoàn thành. Sống ý nghĩa cánh chung, đó là một thách đố của Giáo Hội, và đặc biệt là thách đố của người sống đời sống thánh hiến, tức là những người đã bước cả hai chân vào Nước Thiên Chúa trong giai đoạn là men là hạt này. Không nhận ra men, hạt của Tin Mừng, không dám dấn thân vào cuộc “vun trồng” ấy, người sống đời sống thánh hiến sẽ không có đủ khả năng nhận ra vận hành tiến đến Cánh Chung, và chỉ còn biết lên án, phê phán, tuyệt vọng, hoặc đổ hết lỗi cho người khác…

Tạm Kết

Ta có dám tin vào mầu nhiệm Nước Trời mà Chúa Giêsu đã loan báo ? Một cách nào đó, người Kitô hữu Việt Nam tin vào Chúa, nhưng không tin vào Nước Trời Chúa công bố. Người ta tin vào Chúa để bảo đảm phần rỗi mai sau mà không dám tin vào vận hành Nước Trời ngay ở đây và lúc này.

***

2. Nguyên lý mới của Tin Mừng Cứu Độ

2.1 Ba cấp độ của đời sống tôn giáo

2.1.1 Thái độ của dân ngoại

Điều răn thứ hai trong Thập Điều nói rằng : không được kêu tên Đức Chúa Trời vô cớ. Người ta thường hiểu đó là một lệnh truyền xuất phát từ nguyên lý danh giá, nghĩa là vì không tôn trọng sự cao cả của Thiên Chúa nên phạm tội. Thật ra, điều răn ấy không phải được hiểu theo nguyên lý danh giá, nhưng phải được hiểu theo ý nghĩa phẩm chất mới nơi ơn kêu gọi của Dân Israen so với đời sống tôn giáo dân ngoại thời bấy giờ.

Ngày xưa, người ta đến với thần thánh không hề có một thái độ “tin cậy mến”, nhưng luôn luôn là tìm lợi lộc. Người ta muốn nắm được phần lợi lộc bằng cách giành lấy thế ưu tiên trong mối tương quan với thần thánh. Kêu tên thần thánh, đó là một cách buộc các thần thánh phải làm điều mình mong muốn. Kêu tên thần thánh ở đây chính là kiểu đọc một công thức bùa chú, đọc đúng công thức bùa chú thì thần thánh bị buộc phải làm theo ý mình. Có thể nói thái độ tôn giáo này nhằm mục tiêu tìm lợi lộc cho chính mình, và phương thức để đạt tới mục tiêu ấy là GIÀNH GIỰT.

2.1.2 Thái độ của Dân riêng

Trong khi đó, Thập Điều bắt đầu băng điều răn thứ nhất : thờ phượng một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự. Điều răn đầu tiên ấy đặt người Dân vào một tình thế mới: từ nay họ không được đến với Chúa theo kiểu giành giựt, không được giao tiếp với Chúa theo kiểu công thức bùa chú, nhưng phải bằng tấm lòng, bằng thái độ gắn bó với chính bản thân của Đức Chúa. Sống tôn giáo, giờ đây, là trung tín với Đức Chúa, gắn bó với bản thân Chúa một cách nào đó. Mặc dù mục đích của Dân trong giao ước này vẫn chưa thoát khỏi mục đích tìm lợi lộc cho chính mình, nhưng phương thức tìm lợi lộc thì không được dựa vào một phương tiện có tính sự vật nữa. Tìm lợi lộc bằng một phương thức đề cao sức mạnh của sự vật là xúc phạm đến “phẩm giá” của “bản thân” Giavê Thiên Chúa. Dân chỉ có thể tìm lợi lộc cho mình bằng cách sống một lòng trung tín.

Tuy nhiên quy chế của Cựu Ước vốn là quy chế của của luật pháp, đó là giao ước ghi trên bia đá. Người Dân trung tín với Chúa, nhưng vẫn tìm lợi lộc cho bản thân mình. Điều nối kết hai bên vẫn chỉ là một thứ “luật pháp” trên bia đá, nghĩa là một thứ luật chung, không tính đến những đường nét riêng của mỗi cá nhân. Đó là một thái độ mang tính TRAO ĐỔI theo quy chế của luật pháp.

Giao Ước cũ đặt người Dân vao mối tương quan với chính Chúa, chấp nhận Chúa là Chúa của mình. Nhưng người Dân vẫn không thoát khỏi được mục tiêu tìm lợi lộc, chỉ có điều phương thức tìm lợi lộc giờ đây không còn là một phương thức giành giựt, mà là một sự trao đổi. Người Dân giữ lề luật như là một phương cách để có được một đời sống tốt lành, được Chúa phù hộ cho cuộc sống của mình.

2.1.3 Bầu khí Tân Ước

Bầu khí Nước Trời mà Chúa Giêsu công bố thì khác hẳn. Nơi đây, qui chế sống không còn là trao đổi mà là trao tặng. Đây là một quy chế mới, trong đó, Thiên Chúa mới là tác nhân chính để cho con người có được những phúc lộc của Nước Chúa. Con người không còn có thể tự mình tìm kiếm hoặc trao đổi điều gì, không có một công đức nào của mình có thể đổi được Nước Trời. Chính Chúa ban Nước Trời, và ban đặc biệt cho những người bé mọn, những người nhận ra được sự bất lực của mình, luôn trông chờ tất cả, hy vọng tất cả, tin tưởng trọn vẹn vào quyền năng và tình yêu của Thiên Chúa. Thật ra con người không thoát khỏi được mục tiêu tìm lợi lộc. Nhưng ở đây, lợi lộc không còn kiếm chác được do trao đổi, mà là được hưởng nhờ do một sự TRAO TẶNG, là sự tặng không của Thiên Chúa; để từ đó, con người có thể thoát khỏi ám ảnh tìm lợi lộc và thênh thang bước vào mức độ sống nghĩa tình.

Ba mức độ ấy không khác lắm với ba mức độ tự nhiên của thế giới sự sống : thế giới sinh vật, xã hội loài người, và thế giới tình nghĩa của gia đình.

Trong Nước Trời của Chúa, người Kitô hữu được mời mọi lãnh nhận một sự công chính mới, phong phú dư dật hơn cả sự công chính rất kỹ lưỡng của những người biệt phái :

“Ta bảo các ngươi : nếu sự công chính của các người không dư dật hơn ký lục và Biệt phái, các ngươi sẽ không vào được Nước Trời” (Mt 5,20, bản dịch cha Thuấn)

Chính trong quy chế mới, chế độ mới, người Dân mới được mời gọi để vượt xa những đòi hỏi của Cựu Ước, như chúng ta thấy trong Tin Mừng của Chúa Giêsu.

- Tám mối phúc : sự tặng không của Thiên Chúa (Mt 5,1-12)

- Làm chứng cho Chúa (Mt 5, 13-16)

- Kiện toàn luật Môsê từ trong tinh thần (Mt 5, 17-19. 21-48)

- Sự công chính của anh em phải phong phú dư dật hơn sự công chính của kinh sư và pharisêu (Mt 5,20)…..

2.2 Sự công chính mới

Giao Ước cũ là một bản văn luật pháp, đòi buộc mọi người dân phải tuân giữ. Đó là luật chung và là luật bắt buộc. Mọi người dân phải chu toàn lề luật chung ấy, những yếu đuối, những khó khăn, những hoằn cảnh riêng, nói chúng không được tính đến. Mặc dù trong lúc ký giao ước, người dân có quyền tự do quyết định, nhưng việc tuân giữ hằng ngày một thứ luật đòi buộc khiến cho người dân không còn một thứ tự do hiện sinh. Vì đó là luật chung, nên mọi người thi đua nhau giữ luật như đi vào một cuộc thi, có một đề bài chung; và như thế, người ta cũng có thể so sánh với nhau, nhận định về nhau theo một thang điểm chung. Cách thức đó tạo nên một thứ công bằng bên ngoài, nhưng thực sự không hoàn hảo, vì không tính đến những hoàn cảnh riêng của những người bé mọn. Cuối cùng, vì nỗ lực giữ luật như thế, người ta chỉ tìm thấy một thứ niềm vui vì tìm được sự hoàn hảo cho bản thân mình, chứ không phải một niềm vui vì ai khác, niềm vui vì tình nghĩa. Thái độ công chính trước mặt Thiên Chúa dựa vào lề luật như thế chỉ là một tình trạng bất toàn, bởi vì, một cách nào đó, một Thiên Chúa sống động và yêu thương bị giới hạn, bị qui định trong khuôn khổ của luật pháp. Mặt khác, điều ấy không đủ khả năng làm sinh động, tươi mát lòng người.

Tình trạng của người Do Thái thuộc Cựu Ước giống như một người độc thân, tìm sự chính trực cho đời sống của mình bằng một nếp sống ổn định thời khoá biểu sinh hoạt, ổn định của những đồ vật chung quanh, ổn định của một nếp sống đều đặn và trật tự. Sự ổn định ấy có thể mang lại sự an ổn, nhưng không mang lại niềm vui gặp gỡ.

Trong khi đó, sự công chính mới là một lời đáp trả cá nhân, trong tự do và tình nghĩa, đối với ý muốn của Chúa như một lời đề nghị. Cá nhân mỗi người được quyền tự do nhận lời hay không; và khi nhận lời, thì đó không phải là một sự ép buộc của luật lệ, mà là do tình nghĩa. Đây không còn phải là một giao ước luật pháp, nhưng là lời mời gọi sống nghĩa tình. Đó là một sự tôn trọng của Chúa đối với mỗi con người, và nhờ sự tôn trọng ấy con người có thể đạt đến một sự dâng hiến trọn vẹn bản thân.

Trong trong ý nghĩa ấy, chúng ta thấy hai nhân vật tiêu biểu của thời đại Tân Ước, Đức Maria và thánh Giuse, quả thật có một “thần khí” mới. Trong cuộc đời của hai ngài, ta thấy chương trình cá nhân bị đảo lộn; và việc tuân giữ lề luật không còn đủ tác dụng để sống một đời sống mới. Đức Maria nói lời “Xin Vâng” với Thánh Ý Chúa để chấp nhận làm mẹ dù điều đó không có trong chương trình của Mẹ. Hơn nữa, lời “Xin Vâng” ấy không phải chỉ để đón nhận một bào thai; nhưng đức Maria sống niềm “Xin Vâng” trong suốt cả cuộc đời. Khi ấy, mọi biến cố trong cuộc đời của Mẹ không còn qui chiếu vào lề luật nhưng qui chiếu vào Thánh Ý cụ thể của Thiên Chúa, Thánh Ý mà bình thường Mẹ không thể hiểu ngay được. Cũng thế, tác giả Tin Mừng khẳng định thánh Giuse là người công chính (Mt 1,19). Những ở đây ta không hề thấy sự ưng thuận của thánh Giuse có một qui chiếu lề luật nào; ngược lại Giuse đã làm khác với điều lề luật chỉ dạy. Giuse thực sự là người công chính khi sẵn sàng chấp nhận Thánh Ý Chúa, luôn thi hành điều sứ thần truyền dậy một cách mau mắn (Xc. Mt 1,24; 2,19-21).

Những con người của Tân Ước, như thế, không còn dựa vào luật pháp như tiêu chuẩn căn bản của niềm tin, không còn biết đến sự ổn định của đời sống nhờ ăn theo sự vững vàng của lề luật; nhưng tìm thấy một sự bình an trong mối liên hệ tình nghĩa. Sự bình an ấy dựa vào một Thiên Chúa đang đồng hành, một Thiên Chúa đang cùng chia sẻ và hướng dẫn cuộc đời mình. Sự bình an do sống-với có khả năng đón nhận ý Chúa để sống trong bấp bênh và phiêu lưu.

Một tâm hồn không sẵn sàng trước cuộc phiêu lưu của mối tương quan mới trong nhiệm cục cứu độ sẽ dễ dàng tìm thấy những lý do để chống cưỡng, để bào chữa, để bảo vệ sự ổn định vẫn có của mình. Một tâm hồn nhát đảm và dễ dãi sẽ dễ dàng tìm ra những lý lo để khước từ một đề nghị không có nền tảng trong lề luật. Ngược lại, sự công chính mới giúp người tín hữu sống trong Thánh Ý Chúa như “ngôi nhà”, như tiêu chuẩn, như điểm tựa cho những quyết định của mình.

Thái độ của đức công chính mới giống như thái độ của những người “có đôi bạn”; họ sống trong cuộc phiêu lưu và tìm thấy từng ngày, trong từng biến cố một sự liên đới, một sự hiệp nhất để ứng phó và giải quyết những vấn đề cuộc sống hằng ngày. Không còn một nếp sống ổn định của thời khóa biểu, không còn một sự quen thuộc trong cách sắp xếp đồ dùng, các món ăn, các công việc quen thuộc, nhưng là liên tục nghe, chấp nhận ý muốn của nhau, là liên tục xây dựng sự hiệp nhất từ những quyết định tự do và bình đẳng. Chính điều đó mới tạo nên niềm vui đích thực và chân chính của các ngôi vị, của phẩm giá con người trong tương quan ngôi vị.

2.3 Sống với Đức Giêsu Kitô

Hình như con người có thể có hai con đường thể hiện tình yêu : hoặc là lập gia đình, chọn lấy riêng cho mình một người yêu, lập thành một tổ ấm, rồi lan tỏa tình yêu ấy dần dần đến những người chung quanh; hoặc là đi tu, không chọn cho mình một gia đình riêng, không có người chồng/vợ riêng và những đứa con của riêng mình, để có thể rộng bước chân đi đến với mọi người, yêu thương mọi người…

Thật ra, con người đứng trước một mâu thuẫn căn bản : tình yêu luôn có tính chất rộng mở; nếu tình yêu đóng kín, tình yêu sẽ có nguy cơ biến thành ích kỷ. Thế nhưng con người không thể thênh thang đi vào con đường yêu thương chân chính. Người ta yêu thương và thường xuyên rớt vào tình yêu đóng kín; hoặc khi người ta sống thái độ rộng mở, thì sự tình của thái độ rộng mở ấy lại làm cho người ta không còn sống đủ phẩm chất đích thực của tình yêu. Tình yêu vợ chồng con cái thật là tuyệt vời, nhưng không thể dễ dàng rộng mở đến người khác. Đời sống tu trì thật là đáng quí, nhưng nó cũng không thể tìm thấy động lực chân chính trong một tình yêu chân chính. Đời sống tu trì dễ trở thành công việc, là trách nhiệm, hoặc là một ích kỷ trá hình khi người ta chỉ biết vun đắp cho bản thân mình.

Nẻo đường duy nhất của con người chỉ có thể là gặp gỡ cá nhân với một Đức Giêsu Na-gia-ret. Ơn cứu độ chính là đón nhận Đức Giêsu Kitô, bởi vì Đức Giêsu là Đấng Emmanuel (Thiên Chúa ở cùng chúng ta). Trong đức Giêsu, ta tìm lại được ơn gọi sống-với như hình ảnh con người được sáng tạo.

Đức Giêsu Kitô như người Thầy, như Người Bạn, như người Anh. Chỉ mình Ngài có thể đón nhận trọn vẹn bản thân ta; và chỉ mình Ngài có thể trung tín với ta trong trọn cuộc hành trình. Rồi trong Đức Giêsu cá thể ấy, người ta lại tìm gặp được một Đấng Kitô, Đấng cứu độ muôn dân. Đức Giêsu Kitô là Ngôi Hai Thiên Chúa làm Người. Ngài có thể giao tiếp với ta, vì Ngài là con người; nhưng Ngài lại có thể đưa ta đến với muôn người, vì Ngài là Thiên Chúa. Sống-với Thiên Chúa, giờ đây, chính là kết hiệp với Đức Giêsu Kitô trong ý muốn, trong chương trình cứu độ cụ thể Ngài.

Như thế, trong thời đại Tân Ước, Thiên Chúa can dự sâu xa hơn vào đời sống con người. Sống với Đức Giêsu không phải chỉ là giữ những luật lệ cố định, nhưng là sống tình nghĩa với Thiên Chúa.

* Tạm Kết

Nếu người ta muốn tìm một sự “chắc tâm”, người ta chơi với sự vật. Sự vật luôn là nó, trong nọa tính của nó và con người có quyền sử dụng nó hoàn toàn theo ý của mình. Nhưng “chơi với sự vật” là đánh mất chính mình, đánh mất khát vọng sống-với ai khác, đánh mất niềm vui được phiêu lưu, mới mẻ. Chơi với ai-khác thì chấp nhận phiêu lưu. Tha nhân không phải là đồ vật mà ta chiếm hữu và sử dụng; tha nhân cũng không phải là một phương tiện để ta thực hiện chương trình của đời ta. Chơi với ai-khác thì phải có khả năng dám liều, dám tin vào nhau và tìm thấy sự bình an trong bước đường phiêu lưu, chứ không phải thứ bình an mà sự vật mang lại.

Ta có dám tin vào sợi giây tình nghĩa và sống cuộc đời như một cuộc “đi giây” đầy phiêu lưu không ?

II. Giao Ước bản thân

3. Mâu thuẫn căn bản của con người

3.1 Nỗi xao xuyến của người độc thân

Độc thân thì “khoẻ” hơn lập gia đình nhiều, vì không phải vướng víu nhiều chuyện, không phải chiều ý nhau trong nhiều chuyện vô duyên, hoặc vô lý. Nhưng đời sống độc thân không giải quyết được nỗi cô đơn sâu xa của con người. Đến một độ tuổi nào đó, người sống đời sống độc thân cảm thấy mình không thuộc về ai, và cũng không ai thuộc về mình. Vì không ai thuộc về mình, nên người sống độc thân không dại gi “bung ra” hết mình, cho đi trọn vẹn những gì cần thiết để bảo đảm cho cuộc sống của mình. Vì mình không thuộc về ai, nên người sống độc thân không dám phó đời mình cho ai cả, phải tính toán kỹ lưỡng cho cuộc đời mình, phải tìm mọi cách để có thể tự mình đón nhận những khó khăn của bệnh tật, của biến động …Cuộc sống không có mối liên hệ vói ai khác một cách sâu xa dễ làm cho người sống độc thân tìm cách bảo vệ đời mình bằng những sự vật. Người sống độc thân thường tìm cách ổn định đời mình bằng thời khóa biểu, bằng những sự vật quen thuộc, những cách thức sống quen thuộc… mà tự thâm tâm vẫn man mác một sự xao xuyến về tương lai của mình. Rồi khi bệnh tật, người sống độc thân cũng thường tìm cách giải quyết mọi sự theo tiêu chuẩn là tìm sự an toàn cho mình chứ không phải vì lợi ích cho những người thân.

3.2 Hai nhu cầu căn bản

Con người ta có hai nhu cầu căn bản, nhu cầu được chấp nhận và nhu cầu khẳng định bản thân. Hai nhu cầu này tương tác mật thiết với nhau, nhưng không phải là dễ hoà hợp một cách đúng đắn. Trong rất nhiều trường hợp, trong phần lớn cách tính toán của con người, khi người ta tìm cách thoả mãn nhu cầu này, thì một cách nghịch lý, người ta lại khoét sâu chỗ thiếu hụt của nhu cầu kia. Nhu cầu được chấp nhận là nhu cầu căn bản, nhưng vì không muốn được chấp nhận như là một sự thương hại, người ta phải tìm cách khẳng định bản thân. Tuy nhiên, nếu như ta tính toán phương trình của cuộc sống theo kiểu cần khẳng định bản thân để được chấp nhận, người ta sẽ rơi vào tình trạng không được chấp nhận chính bản thân, mà chỉ được chấp nhận như là tài năng, như là tiền bạc, như là sắc đẹp…, tức là những gì có thể mất đi trong khi bản thân của ta vẫn còn đó.

Nhưng nếu không khẳng định bản thân, thì người ta có thể tìm ở đâu được một sự chấp nhận vô điều kiện, hoặc hơn nữa là một tình yêu tha thứ ? Nếu không khẳng định bản thân, người ta có rơi vào một thái độ sống bèo bọt, gặp chăng hay chớ ?

Con người giống như kẻ đứng ở dưới nước sâu, chân không đụng đất mà đầu thì cứ muốn vươn lên để được bằng chị bằng em. Nhiều khi muốn vươn lên bằng một sự khẳng định bản thân tốt, thì người ta lại rơi vào tình trạng chân không chạm đất, nghĩa là thực sự mình phải dấu đi rất nhiều khuyết điểm, sai sót, tội lỗi của mình; và đó cũng là tình trạng không được chấp nhận từ bên dưới, không được chấp nhận trong con người thật của mình, không được chấp nhận chính bản thân của mình.

Thật ra, chỉ có một con đường chân chính, con đường dám để chân mình chạm đất, nghĩa là trước tiên chính mình dám chấp nhận con người thật của mình, dù là bị “ngập nước” trong tình trạng không được bằng chị bằng em. Nhưng con đường này cần phải được một ai đó dám chấp nhận bản thân mình, ai đó dám đỡ nâng cuộc đời mình “ở bên dưới”… Khi đó, cuộc đời sẽ được cấu trúc theo phương trình : được chấp nhận bản thân, ra sức khẳng định bản thân để đáp lại nghĩa tình vì mình đã được chấp nhận rồi. Đây là một phương trình không dễ “cân bằng”, vì không dễ mà người ta có được sự chấp nhận bản thân cách đơn thuần, vô điều kiện và tha thứ.

Chúng ta có thể thấy rõ sự khác biệt của hai nhu cầu căn bản khi so sánh thế giới trong nhà và thế giới ngoài đường. Khi ta đi ra đường, mọi sự đều là đổi chác. Trong thế giới ngoài đường, từ những đồ vật cho đến thân xác con người, từ những tài năng cá nhân cho đến vị thế xã hội, và cả đức độ của một con người, tất cả đều được đưa vào bài toán kinh tế thị trường, nghĩa là được đặt lên một bàn cân để cân nhắc lời lỗ của một cuộc trao đổi. Nét đặc trưng của việc buôn bán này là làm sao hai bên cùng có lợi, nghĩa là bên nào cũng phải thu lời được cho mình. Mặt khác, việc mua bán đổi chác ấy luôn là chuyện thời vụ, hiểu theo nghĩa là trong từng “hợp đồng” có tính ngắn hạn, bởi vì đó không phải là giao ước đụng chạm đến bản thân.

Trong khi đó, khi về đến gia đình, người ta sống trong một bầu không khí khác, bầu không khí của một sự chấp nhận bản thân của nhau. Khi đó, những tương quan hằng ngày không phải là đổi chác, không phải là những trao đổi theo nguyên lý của sự công bằng.

Cuộc trao đổi của thế giới ngoài đường không đụng đến được bản thân của con người, chỉ là những trao đổi những sự vật (sự vật là tất cả những gì không phải là bản thân của con người). Trong thế giới trao đổi sự vật đó, nếu người ta có xúc phạm đến phẩm giá, hoặc đối sử lịch sự với nhau, thì thật ra đó cũng chỉ là chuyện “lễ nghĩa” mà thôi. Trên nền tảng ấy, cuộc đối thoại ngoài đường thật ra cũng chẳng phải là cuộc đối thoại thoả mãn được khát vọng sống với của con người.

Ở trong gia đình, người ta chấp nhận bản thân của nhau. Nơi đây, những gặp gỡ, trao đổi hằng ngày, không phải là trao đổi, nhưng hướng mở tới một sự liên kết sâu hơn, làm dày lên nghĩa tình trong hành trình cuộc sống. Trong gia đình, mọi “trao đổi sự vật” chỉ là một cách diễn tả của bản thân cho nhau; trong khi đó, nơi thế giới ngoài đường, chính bản thân lại có nguy cơ bị giản lược vào “sự vật” để đổi chác.

Gia đình là một lý tưởng đẹp trong đó con người có thể cảm nhận mình được chấp nhận. Tuy nhiên, không phải ai cũng tìm được một đời sống gia đình, và không phải gia đình nào cũng thể hiện được trọn vẹn lý tưởng chấp nhận bản thân của nhau. Chỉ trong Đức Tin Kitô giáo, mọi người mới thực sự tìm được nơi chốn an bình căn bản cho tâm hồn mình.

3.3 Giao ước bản thân với Chúa Giêsu

Khi người ta làm một căn nhà tạm thời, một căn nhà không có móng, thì điều quan trọng là phải nối kết kèo cột với nhau thật chắc. Nhưng khi người ta muốn dựng một căn nhà vững bền, thì điều quan trọng hơn là phải có nền móng vững chắc. Với căn nhà tạm thời, khi kèo cột bung ra, căn nhà sụp đổ. Nhưng với một căn nhà có móng, khi kèo cột rời ra, lung lay, lắc lư, nó vẫn có thể đứng được. Rồi người ta lại tìm cách nối kết kèo cột lại với nhau. Hình ảnh căn nhà như thế giống với những mối tương quan con người với nhau. Khi người ta “gá nghĩa” tạm thời, theo tình đồng nghiệp, tình nghĩa làng xóm… thì cần phải biết cư xử với nhau cho đẹp, phải biết điều, biết ngó trước nhìn sau, biết liệu cơm gắp mắm… bởi vì nếu “kèo cột” không ăn khớp với nhau, thì mọi sự sẽ đổ bể hết.

Tuy nhiên, trong đời sống gia đình, khi người ta chấp nhận bản thân của nhau, thì mặc dù những điều ăn khớp trên kèo cột vẫn luôn cần thiết, nhưng điều quan trọng nhất lại chính là một sự “thuộc về nhau”, thuộc trọn về nhau; đây là một sự liên kết trong móng nền. Nhiều khi, trong gia đình, anh chị em không hợp tính nhau, thường xuyên cãi vã… nhưng dù sao họ vẫn là anh chị em của nhau, vẫn thuộc về nhau từ trong dòng máu của mẹ cha. Do đó, dù nói gì thì nói, dù tức bực với nhau sao đó, người ta vẫn phải dành ưu tiên những gì quí nhất cho những người thuộc về mình chứ không phải cho một người ngoài, dù đây là người rất hợp tính với mình.

Như thế, chúng ta hiểu ra rằng bí quyết của tình yêu không phải là sự ăn khớp tính tình, không phải chỉ là yêu thích những nét đẹp của nhau, nhưng căn bản hơn, đó là sống trong một nền tảng “thuộc về nhau”. Bí quyết đó là một thực tế hết sức quen thuộc của đời thường, ta có thể dễ dàng kiểm chứng và mọi người có thể sống được. Một khi đã xây dựng được một sự thuộc về nhau, tức là một sự đón nhận bản thân của nhau, người ta có khả năng vượt qua được những mâu thuẫn, những xung đột, hoặc những chướng ngại của một tật xấu nào đó, để có thể đón nhận người thuộc về mình một cách quảng đại và vô điều kiện.

Nếu như trong Cựu Ứơc, giao ước giữa Giavê với Dân còn có phần tính toán, tìm lợi lộc và chưa dính dáng trọn vẹn đến bản thân của mỗi người, thì Tân Ước mới thực sự là giao ước ở mức độ bản thân. Nơi đây, Thiên Chúa trao trọn bản thân của Ngài trong Đức Giêsu, Ngôi Hai Thiên Chúa, và người Kitô hữu cũng dâng trao trọn vẹn bản thân mình cho Chúa.

"Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. (Ga 3,16)

Chúng ta có thể thấy rõ giao ước của bí tích Rửa Tội không phải là một thứ giao ước thuận mua vừa bán. Trong loại giao ước như thế, mỗi bên chỉ góp vào một phần sự vật nào đó của mình chứ không đóng góp chính bản thân mình. Ngược lại, trong giao ước “móng nền”, giao ước “ngôi vị” sẽ làm nên một “cộng đồng ngôi vị”, trong đó, người ta đem chính bản thân mình ra để “ký kết”. Trong giao ước ngôi vị như thế, mỗi bên trao phó trọn vẹn bản thân mình cho nhau và cũng đón nhận trọn vẹn bản thân của người kia.

Thiên Chúa đã ban Con Một của Ngài cho chúng ta; và mỗi người Kitô hữu, khi lãnh bí tích Rửa Tội, chấp nhận chết đi cho con người cũ để sống một con người mới hoàn toàn, con người mới hoàn toàn thuộc về Chúa, từ lối sống cho tới cả những ý nghĩ thầm kín nhất….

* "Thật vậy, không ai trong chúng ta sống cho chính mình, cũng như không ai chết cho chính mình. Chúng ta có sống là sống cho Chúa, mà có chết cũng là chết cho Chúa. Vậy, dù sống, dù chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa" (Rm 14,7-8)

* "Đức Ki-tô đã chết thay cho mọi người, để những ai đang sống không còn sống cho chính mình nữa, mà sống cho Đấng đã chết và sống lại vì mình". (2Cr 5,15)

Có thể nói, tất cả đời sống Kitô hữu không là gì khác hơn sự triển khai nguồn sức sống mới từ bí tích Rửa Tội. Sống trong giao ước “móng nền” của bí tích Rửa Tội, người Kitô hữu nhận ra Thiên Chúa là Đấng “cùng phe” với mình, Thiên Chúa giúp mình “trả nợ đời” chứ Ngài không phải là ông chủ nợ. Thiên Chúa là người Cha với tất cả phẩm chất của người Cha chứ không phải là một ông chủ :

"Nhưng người cha liền bảo các đầy tớ rằng : 'Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép vào chân cậu, rồi đi bắt con bê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng ! Vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy.' Và họ bắt đầu ăn mừng." (Lc 15, 21-24)

Trong Tân Ước, Thiên Chúa trao ban chính bản thân mình, chứ không phải chỉ là trao ban một đồ vật, một món hàng nào đó. Điều đó giống như một người “nắm đàng lưỡi” chứ không nắm đàng chuôi, chỉ có niềm tin vào tình yêu được đáp trả là sức mạnh duy nhất để đợi chờ. Tình yêu trao bao cần phải được chờ đợi, để lãnh nhận chính bản thân của người tín hữu tự do trao tặng. Thiên Chúa đã muốn chọn con đường yêu thương như thế.

* Tạm Kết

Chỉ khi quyết định ký giao ước bản thân với ai khác, người ta mới thoát khỏi được nỗi cô đơn “siêu hình”, nỗi cô đơn bám chặt vào thân phận người. Nhưng ký giao ước bản thân, đó cũng là một khởi đầu của hành trình ra khỏi bản thân, là bắt đầu biết sống vì ai khác, sống cho ai khác, và hướng tới dám chết vì ai khác. Bắt đầu sống giao ước bản thân là một quyết định có tính sinh-mệnh của ý nghĩa đời sống con người, đặc biệt là đời sống Kitô giáo. Ta có thực sự dám sống giao ước bản thân với Chúa Giêsu ?

xem tiếp Phần 2