Tỉnh thức để sống trong Chúa

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Nhưng suy tư cũng như cách thức thể hiện đời sống thiêng liêng hay đời sống tâm linh Kitô giáo chịu sự tác động của hai nguồn mạch khác biệt, nếu không muốn nói là đối lập nhau trong nhiều khía cạnh. Trước khi suy niệm về thái độ tỉnh thức, có lẽ chúng ta cần một chút phân biệt về những đường nét riêng của hai nguồn mạch ấy.

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

__________________

1. ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG

Nhưng suy tư cũng như cách thức thể hiện đời sống thiêng liêng hay đời sống tâm linh Kitô giáo chịu sự tác động của hai nguồn mạch khác biệt, nếu không muốn nói là đối lập nhau trong nhiều khía cạnh. Trước khi suy niệm về thái độ tỉnh thức, có lẽ chúng ta cần một chút phân biệt về những đường nét riêng của hai nguồn mạch ấy.

1.1 Ảnh hưởng của quan điểm triết học tây phương

Trong truyền thống triết học Platon, tinh thần có nghĩa là đối nghịch với vật chất. Tinh thần không những siêu việt hơn vật chất, nhưng tinh thần còn cần phải được giải thoát khỏi vật chất để có thể trở nên cao cả, siêu thoát và thể hiện nét thuần túy tinh thần. Thân xác được cấu tạo nên từ vật chất và sinh hoạt trong những điều kiện vật chất, nên chẳng những không dự phần chút nào vào lý tưởng cao cả của đời người, nhưng còn gây phương hại cho đời sống tinh thần đích thực. Đời sống tinh thần như thế được dành riêng cho những người có thể sống vượt trên những lo toan của đời sống vật chất và từ đó đó có thể hoàn toàn dấn thân cho những thế giới tinh thần, cho sinh hoạt của lý trí, cho thái độ chiêm niệm.

Quan điểm này đã ảnh hưởng rất sâu trong Giáo Hội và trở nên một linh đạo chính yếu cho đời sống thiêng liêng Kitô giáo. Vượt trên đời sống luân lý như một mức độ tối thiểu của đời sống đức Tin, những ai muốn đi sâu hơn vào đời sống thiêng liêng phải đi vào con đường tu đức, con đường siêu thoát, con đường của tránh xa những lo toan trần thế để sống sung mãn hơn đời sống nội tâm. Tuy nhiên, con đường tu đức như thế, những người sống giữa trần gian, những người giáo dân, nhưng người bận bịu với công việc gia đình, những người lãnh trách nhiệm trần thế… sẽ không thể vươn tới được.

1.2 Từ quan điểm Thánh Kinh

Trong Thánh Kinh, chúng ta thấy có một nguồn mạch khác hẳn của đời sống thiêng liêng. Người tín hữu được kêu gọi sống theo tinh thần của Chúa. Người sống theo tinh thần của Chúa [Thần Khí] sẽ sống dưới tác động của của Thiên Chúa, sống phù hợp với những điều Chúa muốn, họ thuộc về thế giới của Thiên Chúa. Tinh thần của Chúa đến với con người và làm cho con người suy nghĩ, hành động, ứng xử như Thiên Chúa. Ngược lại, người không sống theo tinh thần của Chúa nhưng theo tinh thần thế gian, tinh thần của riêng mình, sẽ suy tính và hành động theo sự độc lập, đóng kín của bản thân, theo những nguyên tắc khôn ngoan của trần thế.

Như thế, tinh thần của Chúa không đối lập với vật chất nhưng đối lập với “xác thịt”, tức những gì là thấp hèn của thế gian. Tinh thần của Chúa không đương nhiên phù hợp với tinh thần của con người và chống lại thân xác cũng như sinh hoạt vật chất của con người, nhưng Tinh thần của Chúa có khả năng thúc đẩy tinh thần con người cũng như sử dụng thân xác và những sự vật vật chất để thực hiện chương trình của Ngài. Ở đây không còn vấn đề đương nhiên khinh dễ thân xác và đương nhiên ca tụng cách tinh thần của con người; nhưng tất cả tinh thần và thân xác con người cần phải hoán cải, cần buông mình theo luồng gió của Thánh Thần. Do đó, đời sống thiêng liêng, theo nghĩa căn bản, không còn có nghĩa là xa lánh thế gian và những bận rộn của cơm áo, gạo tiền, nhưng là sẵn sàng với tiếng nói của Thiên Chúa.

2. THÁI ĐỘ TỈNH THỨC

Cách phân biệt của triết học theo đường hướng Platon lấy tiêu chuẩn là chính cái tôi để phân biệt những điều ở trong tôi và những điều ở bên ngoài tôi; đức tính chính yếu của nẻo đường này là siêu thoát khỏi vật chất. Ngược lại, các phân biệt của truyền thống Do Thái – Kitô giáo lấy mối tương quan chân thật với Chúa là trung tâm để phân biệt những gì chân chính và những gì giả hình; đây là cặp đối lập giữa những gì thể hiện mối tương quan chân thành giữa Thiên Chúa với con người, khác với thái độ chống đối Thiên Chúa hoặc những mối tương quan cứng đọng trong nghi thức, trong lề luật, trong khuôn mẫu hoàn thiện…. Do đó, đức tính chính yếu của đời sống tâm linh Kitô giáo là thái độ trung tín; hoặc diễn tả cách khác, đó là thái độ không ngừng sám hối, tỉnh thức, sẵn sàng [xin vâng] trước lời mời gọi của Chúa.

Chúng ta có thể duyệt xét mối tương quan này theo một số khía cạnh như sau :

2. 1. Những thái độ lệch lạc

- Một em bé được học tập để chào ông bà ngoại. Em học nói, học làm những cử chỉ… nhưng trong khi áp dụng, em khó lòng thể hiện được tấm lòng của mình đối với ông bà. Em phải làm đúng nghi thức và nỗi bận tâm về nghi thức ấy chiếm trọn cả sự chú ý của em. Ở một lúc khác, bình thường và tự nhiên hơn, có lẽ em sà vào lòng ông bà và nói một lời hồn nhiên khiến ông bà nhận được chính tấm lòng của cháu.

- Một linh mục, có nhiệm vụ dâng lễ. Khi khoác chiếc áo lễ, và ca đoàn hát ca nhập lễ, vị linh mục nhập vai một người tế lễ chính thức. Khi ấy, mọi sự diễn tiến theo một qui luật, qui luật của phụng vụ, qui luật của nghi thức… Trong khi tế lễ, linh mục có thể cũng chẳng thấy gì, chẳng thích thú gì… nhưng những lời đạo đức của nghi thức đã có sẵn và linh mục có thể làm xong một “ván lễ” mà lòng vẫn để đâu đâu hoặc chán ngấy…

Chuyện trẻ con hoặc chuyện yếu đuối của con người thì không có gì mà ầm ĩ; nhưng chuyện đáng nói là thái độ ấy, rất thường, lại trở thành một nếp sống bình thường khiến người ta an tâm với hình thức được thể hiện, khiến người ta biện minh cho bản thân mình bằng cách khẳng định sự cần thiết không thể thay thế của những thái cử bên khuôn phép cứng đọng ấy. Đó là thái độ “nghiêm nghị”. Khi đó, tôn giáo không còn là mối tương quan ngôi vị. Thái độ bên ngoài thay thế sự gặp gỡ bên trong; cuộc sống con người trở thành kỹ thuật; sinh hoạt bên ngoài thay thế cho tâm hồn, khuôn phép luân lý thay cho lòng tri ân cảm tạ…

2.2. Một thứ tôn giáo “ngái ngủ”

Tinh thần Dân Israen có một nét tiêu biểu không thể lẫn lộn vào đâu được : sống với Chúa trong một quá trình lịch sử. Dân Israen không suy ra Thiên Chúa, nhưng kinh nghiệm thấy hành động của Thiên Chúa trong cuộc sống. Chính cuộc sống thường ngày trước nhan Chúa như thế làm nên lịch sử ơn cứu độ. Tuy nhiên, cám dỗ lớn của Dân là tìm an tâm trong những qui luật, trong những nghi thức phượng tự, trong thái độ tự hoàn thiện bản thân bằng đời sống luân lý gương mẫu… Thái độ này biểu hiện rõ nét nhất trong những người biệt phái, luật sĩ và nhóm Saducéo thời Chúa Giêsu.

* Yếu tố làm nên sự thống nhất và vững bền của Dân Israen chính là Lề luật. Tuy nhiên, đây không phải là luật của sự khôn ngoan con người, cho dù người ta thấy được khá điều điều trổi vượt của lề luật Mai sen so với những triết gia ngoại giáo. Đối với Dân Chúa, Lề luật gắn liền với Giáo Ước, và vì thế chỉ có Luật Mô sen mà thôi, vì Mô sen là trung gian của Giao ước. Do đó, từ ngữ Luật [Tôra] của người do thái có ý nghĩa rộng hơn và ít chuyên về pháp luật như từ pháp luật [Nomos] của Hy Lạp. Luật của Dân Chúa là giáo huấn của Thiên Chúa và người ta tuân giữ luật là trung thành với Thiên Chúa mà họ đã giao ước. Tuy nhiên, theo dòng lịch sử, Dân đã biến lề luật thành một mớ qui định tỉ mỷ; các nhà giải thích luật đã làm cho luật nên quá chi tiết và qua tế vi. Điều ấy đưa đến một hệ quả tai hại : người ta nên công chính do giữ kỹ lưỡng lề luật chứ không còn phải do tấm lòng chân thành với Chúa; luật trở nên gánh nặng và chỉ có một số rất ít người có thể giữ được cách tương đối; người ta ganh đua nhau tuân giữ lề luật và tưởng như ơn cứu độ là do chính công sức của mình. Đức Giêsu đã phải chống lại quan niệm vụ luật như thế và những cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu với người Do Thái về lề luật trở nên một vấn đề nóng bỏng. Đức Giêsu không bãi bỏ lề luật nhưng kiện toàn từng chấm từng phẩy [Xc. Mt 5,17]. Cách thức hoàn tất từnt chấm từng phẩy như thế không phải là giữ luật chi li, hình thức, nhưng là trả lại cho Luật cái hồn của lòng trung tín với Luật Chúa và thể hiện ý muốn đích thực của Chúa : Ngài chữa bệnh ngày Sabát, Ngài cảm thông với người đói cần ăn trong ngày Sabát, Ngài vượt qua luật ô uế… Nhất là Chúa Giêsu công bố Ngài là Luật mới, Ngài là Thầy duy nhất [Xc. Mt 23,10], ngài giảng dạy như Đấng có uy quyền, Ngài là hơn cả ngày sabát nữa [Xc. Mc 2,22-27]…

* Ngay từ đầu, ý nghĩa căn bản của nền phượng tự trong Dân Chúa phải là thể hiện thái độ của tâm hồn [Xc. St 4,3 tt]. Tuy nhiên, theo đà suy thoái, Dân Chúa lại thường giản lược việc thờ phượng Chúa thành những lễ nghi hoàn toàn hình thức. Các ngôn sứ đã hết sức nặng lời để thức tỉnh Dân về thái độ sa đọa này :

“Đức Chúa phán : ngần ấy hy lễ của các ngươi, đối với Ta, nào có nghĩa lý gì ? Lễ toàn thiêu chiên cừu, mỡ bê mập, Ta đã chán ngấy. Máu bò, máu chiên dê, Ta chẳng thèm ! Khi các ngươi đến trình diện ta, ai khiến các ngươi phải dẫm lên khuôn viên của Ta. Thôi đừng đem những lễ vật vô ích đến nữa. Ta ghê tởm khói hương; ta không chịu nổi ngày đầu tháng, ngày sabát, ngày đại hội, không chịu nổi những người cứ phạm tội ác rồi lại cứ lễ lạt linh đình. Ta chán ghét những ngày đầu tháng, những đại lễ của các ngươi. Những thứ đó đã trở thành gánh nặng cho Ta, Ta không chịu nổi nữa.” [Is 1, 11-14 [Xc. Hs 6,6; Am4,1-5; Ed 7,21 …].

Tiếp nối truyền thống ngôn sứ, Đức Giêsu phục hồi ý nghĩa phượng tự chân chính khi khẳng định rằng : “Nhưng giờ đã đến - và chính là lúc này đây – giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế” [Ga 4, 23]. Hơn nữa, Chúa Giêsu còn thiết lập nền phượng tự mới bằng chính hy lễ bản thân mình chứ không phải chỉ là những nghi thức hoàn toàn bên ngoài.

* Theo quan niệm chung của các tôn giáo cổ xưa, nguyên nhân làm cho con người nên trong sạch và nhơ uế thường không phải do hành vi luân lý nhưng do những úy kỵ và nghi thức. Người ta ra như uế là do chạm phải đồ vật nhơ uế chứ không phải do thái độ luân lý xấu xa, “Ai đụng vào người chết, bất cứ người chết này là ai, đều bị nhiễm uế trong bẩy ngày liền” [Ds 19, 11]. Cũng thế, người ta thanh tẩy khỏi nhơ uế bằng nghi thức “Để thanh tẩy người bị nhiễm uế, người ta sẽ lấy một chút tro của con vật đã được hỏa tế làm lễ tạ tội mà pha với nước lã trong một chiếc bình. Rồi một người còn thanh sạch lấy nhành hương thảo nhúng vào nước mà rẩy lên lều, lên tất cả các vật dụng cùng mọi người ở đó, lên kẻ đụng vào xương cốt vào người bị gươm đâm, hoặc tử thi hay là mồ mả” [Ds 19, 17-18; Xc. Ds 19; Xh 29,37]… Các ngôn sứ, tuy vẫn bảo vệ nghi thức phượng tự nhưng không ngừng nhắc nhở một thái độ của tâm hồn, nhơ uế chính là do hành vi gian ác và thanh tẩy không phải chỉ là nghi thức tế tự “Hỡi con người, con cái nhà Israen đang cư ngụ trên đất của chúng, đã làm cho đất ấy ra ô uế vì lối sống và cá hành vi của chúng” [Ed 36, 17]; “Rồi Ta sẽ rảy nước thanh sạch trên các ngươi và các ngươi sẽ được thanh sạch, các ngươi sẽ được sạch mọi ô uế và mọi tà thần. Ta sẽ ban tặng các ngươi một quả tim mới, sẽ đặt thần khí mới vào lòng các ngươi…” [Ed 36, 25-26]

Đức Giêsu khẳng định rõ ràng “Xin mọi người nghe tôi nói đây và hiểu cho rõ : không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế được; nhưng chính cái từ con người xuất ra, là cái làm cho con người ta ô uế” [Mc 7, 14-15].

***

Quả thật, khi những thái độ bên ngoài trở thành mẫu mực, không thể khác đi, không thể thêm bớt… người ta đánh mất “tinh thần” và rơi vào thái độ nghiêm nghị. Thái độ này khiến cho người ta chỉ còn cách bộc lộ bản thân mình theo những tiêu chuẩn hoàn thiện của mình và tìm thấy một sự an tâm, giả dối.

Đối với Kinh Thánh, tinh thức luôn luôn là tỉnh thức để đón nhận một Đấng chứ không phải chỉ là thái độ khôn ngoan hay đạo đức mà thôi. Tỉnh thức là nhận ra Thiên Chúa đằng sau một lề luật, mọi nghi thức và qui định. Đây không phải là một thứ đạo “nội tâm”, nhưng chính là sự gặp gỡ chân chính, là chính tấm lòng gặp gỡ nhau. Tỉnh thức là không rơi vào thái độ an tâm vì những sinh hoạt quen thuộc, không hoàn thiện bản thân bằng những công việc tự mình tô vẽ cho bản thân mình, và tỉnh thức là nghe được tiếng Chúa nói trong đời mình, nói với lòng mình, và nói về chính Ngài cho chúng ta trong tương quan yêu thương.

3. ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG CHÂN THẬT

Suy niệm Tin Mừng Lc 5, 1-11 : Đức Giêsu kêu gọi bốn môn đệ đầu tiên và "Các ông đã bỏ mọi sự mà theo Người"

Câu chuyện trong Tin Mừng Luca hôm nay ghi dấu một giai đoạn trong sứ vụ công khai của Chúa. Cho đến lúc này, Chúa Giêsu chỉ rao giảng trong các hội đường, người ta thán phục nhưng chưa ai theo Chúa cả. Từ chương V trong Tin Mừng Luca, Chúa Giêsu bắt đầu cách thức thi hành sứ vụ công khai của Ngài một cách khác, Chúa gọi những người môn đệ để sống với Ngài và cùng chia sẻ sứ vụ với Ngài.

Từ bài Tin Mừng này, tôi xin được suy niệm cùng cộng đoàn một số khía cạnh của sự gặp gỡ chân chính.

3.1. Gặp gỡ là chia sẻ công việc với nhau

- Tôi lên xe đò đi từ Cù Lao Giêng về Sài gòn, và trên xe ấy, tôi bỗng có một cái tên thân thương, “chú Ba”, trên xe đò ấy tôi gia nhập vào những câu chuyện thường ngày, chuyện lũ lụt, chuyện giá cả, chuyện lúa má. Nhưng bây giờ tôi chẳng biết những người trên chiếc xe ấy ở đâu, tên gì, và nếu có gặp lại tôi cũng chẳng biết mặt.

- Khi học đại học, tôi có một vài người bạn. Lớp chúng tôi đã từng đi chơi với nhau ở Động Đình Hồ Thủ Đức, đã có những buổi ca hát, và nhẩy đầm tại nhà một người bạn trong lớp.. Những ngày ấy thật vui… nhưng khi tôi cố giữ mối liên hệ ấy mà cũng chẳng được… Những quan tâm chung chẳng còn, không biết có lý do gì đề đến thăm nhau hoặc không biết nói gì khi điện thoại cho nhau; và những mối liên hệ ấy cứ xa dần. xa dần…

Trong cuộc sống của chúng ta có biết bao nhiêu mối liên hệ như thế, những qua đường, những người bạn trong một lãnh vực nào đó, những người cùng làm ăn chung…. Nhưng những cuộc gặp gỡ ấy chỉ dừng lại ở mức độ : đường ai nấy đi, đời ai nấy sống; và những nỗi đau sau xa nhất của từng con người thì vẫn là của ai nấy chịu...

Chúa Giêsu bước vào thuyền đời của Phêrô, Chúa chia sẻ công việc đánh cá của Phêrô và đó là bước khởi đầu của một cuộc gặp gỡ mỗi ngày mỗi sâu xa và trọn vẹn hơn. Từ biến cố này, Phêrô không còn thấy Chúa Giêsu là một ngôn sứ cho mọi người cách chung chung nữa; Chúa Giêsu dính dáng vào cuộc đời ông, Chúa Giêsu chia sẻ công việc với Phêrô và mời gọi ông chia sẻ sứ vụ của Ngài. Chúa Giêsu bước vào thuyền của Phêrô, và cuộc gặp gỡ này không phải chỉ là một cuộc gặp gỡ qua đường, nhưng là một cuộc gặp gỡ thay đổi cuộc đời, một cuộc gặp gỡ có bề dầy nghĩa tình, có lịch sử thăng trầm.

Vâng Kitô giáo là một lịch sử ơn cứu cứu độ, nghĩa là một qua trình sống với Chúa, chia sẻ công việc với Chúa và để cho Chúa chia sẻ đời sống của mình, chính bề dầy lịch sử nghĩa tình ấy làm nên gặp gỡ Chúa, làm nên mối thân quen với Chúa. Chúng ta có thể khẳng định rằng một đời sống đạo không có kỷ niệm với Chúa mà chỉ là sống theo một lý tưởng, sống theo một ý thực hệ, sống theo một bộ luật luân lý thì chưa phải là một đời sống đức Tin Kitô giáo đích thực.

3.2. Gặp gỡ là biết chiều ý nhau

Tôi vào một quán ăn, gọi một tô phở 10.000 đồng. Ở đây, tất cả vấn đề chính yếu chỉ là sự “công bình” giữa phẩm chất tô phở của quán ăn và 10.000 đồng tôi bỏ ra từ túi tiền của tôi. Nếu một tô phở tồi, tôi tự nhiên hối tiếc, hậm hực; hoặc tôi có thể “kiện tụng”, kêu trách và có thể có một cuộc tranh cãi.

Nhưng nếu tôi gặp một người bạn và người bạn ấy mời tôi về nhà dùng cơm. Khi ấy, phẩm chất của bữa cơm không còn là điều quan trọng và dù tôi có phải bỏ ra một số tiền nào đó, mua chai rượu chẳng hạn, thì số tiền ấy cũng không phải là điều quan trọng. Tất cả chỉ là những phương tiện của cuộc gặp gỡ trong tình bạn, tất cả chỉ là những diễn tả giới hạn của một tình bạn chân thật hơn, thắm thiết hơn; mối liên hệ ấy thuộc lãnh vực tình người chứ không phải lãnh vực công bằng của việc so sánh những đồ vật với nhau.

Quả thật, khi đối diện với những sự vật, khi xoay sở trong thế giới sự vật, ta không ngu gì chấp nhận sự thua lỗ, thiệt thòi. Chỉ khi gặp gỡ con người, ta mới có thể vượt qua được những so đó tính toán trong thế giới sự vật.

Galilée đành phải tuyên thệ chấp nhận mặt trời quay chung quanh trái đất, dù ông tin rằng trái đất quay chung quanh mặt trời. Cũng thế, nếu ai dí súng vào lưng để bắt tôi nhận rằng hai với hai là năm, tôi sẽ chấp nhận ngay, thậm chí nếu muốn tôi tuyên thệ rằng hai với hai là mười cũng được. Tôi không ngu gì chịu hy sinh, mất mát, thua lỗ thiệt thòi vì một chân lý vô ngã như thế. Khi đối diện với thế giới sự vật, tôi phải tính toán điều gì tốt nhất cho bản thân tôi… Nhưng khi gặp gỡ con người với nhau, tiêu chuẩn của vấn đề đã đổi khác.

Trước lời đề nghị của Chúa Giêsu : “Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lới bắt cá”, Phêrô có quyền từ chối, vì “Chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả !”. Phêrô có quyền từ chối chịu mất mát thêm thì giờ và công sức, nếu đây chỉ là một chuyện làm ăn, chuyện mua bán, chuyện hơn thiệt. Thế nhưng, Phêrô đã quyết định cách khác : “dựa vào Lời Thầy, tôi sẽ thả lưới”. Lý do quyết định của Phêrô không còn là chuyện thành công hay thất bại trong công việc, nhưng là chuyện tình chuyện nghĩa. Dựa vào Lời Thầy, Phêrô sẳn sàng phiêu lưu. Điều quan trọng không phải chỉ là phiêu lưu làm ăn nhưng chính là bắt đầu đi vào sự gặp gỡ, bắt đầu phiêu lưu trong mối tương quan gặp gỡ.

Thưa cộng đoàn, xã hội ngày nay càng ngày càng mất dần chiều sâu tình nghĩa, và tất cả mối tương quan con người đang dần dần biến thành mối tương quan sòng phẳng, theo tiêu chuẩn hơn thiệt, và đó là nguồn gốc sâu xa của biết bao nhiêu tranh giành, kiện tụng, đấu đá, chiến tranh. Trước đây, trong tình làng nghĩa xóm, khi một gia đình có việc, cả xóm giềng và anh em họ hàng cùng xúm vào để giúp nhau và điều đó làm cho cuộc sống đầy những gặp gỡ thân quen. Hiện nay, ta thuê nhà hàng, trao cho dịch vụ… Công việc sẽ gọn gàng hơn, không phải phiền tới ai và có khi sẽ đỡ tốn hơn. Ở Pháp, tôi nghe nói nhà dòng cũng chẳng thuê một người làm bếp để phải liên đới phiền hà, nhưng thuê công ty nấu ăn, và mọi việc cứ theo lý là sử. Thái độ không gặp gỡ như thế đi liên với với thái độ tính toán hơn thiệt : chẳng ai muốn theo tiêu chuẩn ”của ít lòng nhiều”; “đêm tân hôn, hồi hộp nhất là lúc đếm phong bì…!!!”.

3.3. Gặp gỡ là tri ân nhau

Phêrô “bắt được nhiều cá đến nỗi hầu như rách cả lưới”. Nhưng, Phê rô không dừng lại ở chuyện cá mú, chuyện lời lỗ, hơn thiệt, vì sau đó ông “bỏ hết mọi sự mà theo Người”. Mẻ cá lạ lùng ấy làm cho hầu như lưới cá của ông muốn rách; nó vượt qua lãnh vực kinh tế để mở bung vào lãnh vực nghĩa tình. “Lạy Chúa, .. .. con là kẻ tội lỗi”. Chỉ trong trên bình diện tình thương, người ta mới nhận ra điều thiếu sót của mình. Chỉ khi đón nhận tình thương chân chính, người ta thấy mình mắc nợ nhau trong tình tương thân tương ái. “Ai đem hết gia tài sự nghiệp mà đổi lấy tình yêu, ắt sẽ bị người đời khinh dể”, sách Diễm Ca 8,7 nói với chúng ta như thế. Không một điều gì có thể mua lấy tình thương, nghĩa là không một điều gì có đủ giá trị để đổi lấy tình thương; và thái độ chân chính nhất trong tình thương luôn luôn là “mắc nợ nhau trong tình tương thân tương ái” như thánh Phaolô đã nói.

Tương quan tình thương là "vô cùng", đúng như người ta nói "giới hạn của tình yêu là tình yêu không giới hạn". Không bao giờ được coi những công lao, những danh giá, cả những hy sinh nữa... là đủ cho tình yêu. Đối diện với tình thương, thái độ chân chính nhất chỉ có thể là nhận ra điều siêu việt của tình thương, nhận ra tính chất không đủ của mọi đổi chác và đón nhận với lòng tri ân … Trong mọi trường hợp, chỉ có tình thương mới đáp trả tình yêu, chỉ có lòng tri ân mới xứng với tình thương. “… con là kẻ tội lỗi”, câu nói ấy cho thấy cõi lòng Phêrô đã được mở bung ra trong lãnh vực tình thương.

KẾT

Tất cả những điều ấy giúp chúng ta hiểu ra phần nào cách thế Chúa Giêsu ở trong, Chúa ở trong Chúa Cha và ở trong môn đệ; đồng thời cách thế môn đệ ở trong Chúa Giêsu như Chúa Giêsu ở trong Chúa Cha.

“Chúa Cha yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy, Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy, như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy ở lại trong tình thương của Người. Các điều ấy, Thầy đã nói với anh em để anh em được hưởng niềm vui của Thầy, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn” [Ga 15, 9-11]

Mùa Vọng 2002

Tư Cù

Gợi ý suy niệm

1. Chúng ta thường cảm thấy vui khi bộc lộ mình một cách ngon lành trước người khác hay khi chúng ta được sống trong sự gặp gỡ thân thương ?

2. Bạn có thấy những trường hợp người ta, hoặc chính mình, đã chọn thái độ “nghiêm nghị”, nghĩa là cương quyết bám lấy cái vỏ bề ngoài, cái phong cách, thái độ, hoặc lời nói, để rồi đánh mất chính tâm tình chân thật ?

3. Có bao giờ chúng ta nhận ra hành trình cuộc đời mình được Thiên Chúa dẫn dắt, chứ không phải do hên xui, hoặc do tài năng của mình ?

4. Có bao giờ chúng ta dám thay đổi một thái độ, thay đổi một công việc hay thay đổi một tâm tình vì nhận ra ý muốn của Chúa khác ý muốn của ta không ?

5. Có bao giờ chúng ta hạnh phúc trong gian lao, vui mừng trong khó khăn vì tri ân Thiên Chúa đang trao ban cho ta chính Ngài trong nhưng chuyện nhỏ nhoi hằng ngày ?