TÌNH TỰ YÊU THƯƠNG
Chuyện tình yêu là câu chuyện xưa như trái đất nhưng lại vẫn luôn luôn là chuyện mới trong cuộc sống hằng ngày. Lịch sử con người gắn liền với chuyện tình yêu, và bao giờ còn con người thì vẫn còn những chuyện tình yêu. Mặt khác, mỗi người chúng ta cũng đều cảm thấy nhu cầu tình yêu sâu xa trong tâm hồn mình. Sống và được yêu, đó là hai điều quan trọng nhất và là hai điều luôn gắn liền với nhau.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
__________________
Suy niệm Tin Mừng Ga 15,13 :
“Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu”
1. TẠI SAO CON NGƯỜI LẠI CẦN YÊU THƯƠNG ?
1.1 Tình tự cuộc đời
Chuyện tình yêu là câu chuyện xưa như trái đất nhưng lại vẫn luôn luôn là chuyện mới trong cuộc sống hằng ngày. Lịch sử con người gắn liền với chuyện tình yêu, và bao giờ còn con người thì vẫn còn những chuyện tình yêu.
Mặt khác, mỗi người chúng ta cũng đều cảm thấy nhu cầu tình yêu sâu xa trong tâm hồn mình. Sống và được yêu, đó là hai điều quan trọng nhất và là hai điều luôn gắn liền với nhau.
Nếu chúng ta hiểu tình yêu không phải chỉ là chuyện nam nữ yêu nhau, nhưng còn là tất cả những thứ tình thương, muôn mầu muôn vẻ, là một sự gắn bó người này với người kia, cá nhân với cộng đồng, qua những mối giây thân thương của tổ quốc, gia đình, đồng hương, như cha mẹ với con cái, anh chị em với nhau, bạn bè, đồng chí ... thì quả thật tình thương chính là hồn sống của đời người, là sinh lực của mỗi người, là ý nghĩa cao cả nhất của cõi nhân sinh.
Tất cả bản chất tôn giáo của Do thái – Kitô giáo nằm trong dòng cuộc tình tự yêu thương ấy; và hơn nữa, tôn giáo ấy còn thần thánh hóa cuộc tình tự yêu thương đến mức độ siêu việt cao vời, cũng như phổ quát hóa cuộc tình tự yêu thương ấy để rộng mở bao hàm tất cả những gì huyền nhiệm nhất của toàn thể vũ trụ và nhân sinh.
Nhờ ánh sáng soi dẫn của Thượng đế, truyền thống Do Thái – Kitô giáo nắm bắt được điều căn cốt ấy. Bằng câu chuyện thần thoại trong sách Sáng Thế, Do Thái – Kitô giáo trình bầy nền tảng sâu xa của toàn bộ cuộc sống ở mức độ một cuộc tình, một cuộc tình giữa Thiên Chúa với con người, trong đó bao hàm mọi cuộc tình giữa con người với nhau.
Con người được sáng tạo nên giống Thiên Chúa.
“Thiên Chúa phán : ‘Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm bá chủ cá biển chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới mặt đất. Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ” [St 1, 26-27].
Và “hình ảnh Thiên Chúa” Thiên Chúa ấy, một Thiên Chúa ở số nhiều, một Thiên Chúa không cô độc, không yên hàn tự tại nhưng là chính tình yêu thương sống động nội tại giữa lòng Ba Ngôi, hình ảnh Thiên Chúa yêu thương ấy được thể hiện tha thiết trong dòng lịch sử cứu độ, để rồi cuối cùng thánh Gioan có thể thốt lên :
“Thiên Chúa là tình yêu” [1 Ga 4,8]
Do đó, khi con người được sáng tạo nên giống Thiên Chúa, con người cũng chẳng là gì khác hơn tình yêu thương. Tất cả ý nghĩa sâu xa nhất của bản chất con người, của vận mang con người đã được bộc lộ trong khẳng định căn bản ấy: con người chỉ có thể hoàn thành cuộc đời mình khi được sống trong tình yêu thương của Thượng đế; và nhờ tình yêu thương của Thượng Đế, con người có thể sống yêu thương nhau. Chỉ trong tình yêu thương như thế, con người mới có thể sống xứng đáng phẩm chất và phẩm giá con người. Đối với Kitô giáo, đời sống ai không biết yêu thương là coi như đồ bỏ.
“Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu” [1 Ga 4,8]
Con người khao khát yêu thương như kẻ xa quê khao khát được nghe tiếng Việt được nói tiếng Việt, được ăn món ăn Việt. Con người chỉ thành đạt đời mình khi thể hiện được tình thương; ai biết yêu thương, đó là con người thành toàn đời sống của mình :
“Ai yêu thương anh em mình, thì ở lại trong ánh sáng “ [1 Ga 2,10]
Do vậy, tất cả giới luật của Kitô giáo được Chúa Giêsu khẳng định là gồm tóm trong giới răn yêu thương :
“Đức Giêsu đáp : Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn lớn nhất và điều răn đứng đầu. Con điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là : ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Tất cả Luật Mô-sê và các sách ngôn sứ đều tùy thuộc vào hai điều răn ấy” [Mt 22, 37-40]
1.2 Cuộc đấu tranh yêu thương
Nhìn lại cuộc sống thực tế, chúng ta có thể nhận ra điều căn bản của cuộc sống con người là tình yêu thương và có những tình yêu thương thật đẹp. Tuy nhiên, có một thực tế khác cũng rõ ràng hiển nhiên : không phải ai cũng biết yêu thương và không phải ai cũng có thể sống yêu thương. Cuộc sống chung quanh ta có biết bao điều bi thảm, biết bao điều ác, những sự ác chống lại tình yêu thương. Kitô giáo giải thích nguồn gốc của sự ác là ma quỉ. Ma quỉ chống lại Chúa yêu thương và ma quỉ gieo vào lòng con người thái độ từ chối tình yêu thương của Chúa. Chính thái độ từ chối yêu thương ấy là căn nguyên của tất cả mọi đổ vỡ trong cuộc sống nhân sinh : lao động trở thành cay cực; vợ chồng đổ lỗi cho nhau và sống với nhau theo kiểu thống trị/lệ thuộc; anh em giết nhau, đề cao sự trả thù, những sự phóng đãng và ham mê của cải, ham mê hưởng thụ hơn là trung thành với tình yêu của Chúa và yêu thương nhau. . . [Xc. St chương 3-11]
“Ai phạm tội, thì là người của ma quỉ, vì ma quỷ phạm tội từ lúc khởi đầu. Sở dĩ Con Thiên Chúa xuất hiện, là để phá hủy công việc của ma quỷ” [1 Ga 3,8]
Như thế, bên dưới tất cả mọi trục trặc của cuộc sống, vấn đề căn bản theo kitô giáo chỉ là cuộc đấu tranh giữa tình yêu và một thế lực chống lại tình yêu mà ta tạm gọi chung là “ích kỷ”. Tất cả mọi tội lỗi đều là ích kỷ, tất cả mọi nhân đức đều là yêu thương. Nói cụ thể hơn, tội ác chính là do lòng ích kỷ được gieo trồng vào trong một “mảnh đất” nào đó; tham lam chính là ích kỷ được gieo trong mảnh đất tiền bạc; gian dâm chính là ích kỷ được gieo trong mảnh đất dục vọng xác thịt… Thế giới còn biết bao nhiêu đau khổ cũng chỉ vì người ta không biết yêu thương nhau.
Ở đây, ta hiểu được tất cả ý nghĩa đời sống đức Tin Kitô giáo : làm cách nào để củng cố sức mạnh của tình yêu, gia tăng “diện tích” mảnh đất tình yêu; và nhờ đó mà hóa giải tận căn những khổ ải trong cuộc sống con người. Cách thức chính để nhổ cỏ dại [ích kỷ] chính là gieo trồng thật nhiều những bông hoa [yêu thương]. Tất cả ý nghĩa của đời sống đức Tin không là gì khác hơn trông chờ, đón nhận lại tình yêu lớn lao của của Thiên Chúa để biến cuộc sống khổ ải của con người trở thành Nước Trời của Thiên Chúa, nơi đó:
“Bấy giờ sói sẽ ở với chiên con, beo nằm bên dê nhỏ. Bò tơ và sư tử non được nuôi chung với nhau, một cậu bé sẽ chăn dắt chung. Bò cái kết thân cùng gấu cái, con của chúng nằm chung một chỗ, sư tử cũng ăn rơm như bò. Bé thơ còn đang bú giỡn chơi bên hang rắn lục, trẻ thơ vừa cai sữa thọc tay vào ổ rắn hổ mang. Sẽ không còn ai tác hại và tàn phá trên khắp núi thánh của Ta, vì sự hiểu biết Đức Chúa sẽ tràn ngập đất này, cũng như nước lấp đầy lòng biển. Đến ngày đó, cội rễ Giê-sê sẽ đứng lên làm cờ hiệu cho các dân. Các dân tộc sẽ tìm kiếm Người, và nơi Người ngự sẽ rực rỡ vinh quang” [Is 11,6-10]
Nhân loại không ngừng khao khát một thế giới an hòa, hạnh phúc, và nhân loại đi tìm đủ mọi phương cách để xây dựng thế giới ấy : bằng ngoại giao hay bằng khoa học, bằng kinh tế hay chính trị, bằng luân lý hay triết học. . . Kitô giáo chấp nhận thấy cả những phương thế tốt đẹp ấy, nhưng luôn khẳng định rằng chỉ có tình yêu thương mới là nguyên lý giải quyết căn bản. Tình thương là nguyên lý chính yếu để cải đổi tật xấu, gia tăng đức tính tốt, nhờ đó con người có thể sử dụng phẩm vật của vũ trụ như những món quà yêu thương trao tặng cho nhau, chứ không phải như bãi chiến trình mà người ta giành giật và chà đạp lẫn nhau.
2. LÀM SAO ĐỂ YÊU THƯƠNG ?
2.1 Câu hỏi của những người bé mọn
Nói yêu thương thì dễ nhưng thật lòng yêu thương thì không phải là dễ. Thế lực của bóng tối, của sự dữ, của ích kỷ không phải là nhỏ ! Biết bao người đã bị thế lực của sự dữ giằng xé, giam hãm không thể thoát ra được.
Các bậc thánh nhân thì cũng có thể, phần nào đó, nhờ tu luyện mà vượt qua được sự ích kỷ. Nhưng trong cuộc đời, luôn có những người nghèo, những người bé mọn, những người thiếu thốn mọi sự, cả vật chất lẫn tinh thần. Trong cuộc đời còn có đầy những người “nghèo hèn sinh đạo tặc”, những người bị đẩy vào vũng lầy cuộc đời, nhưng người không có cơ may được giáo dục tốt, những người không có được một ai yêu thương mình để khơi dậy phẩm chất cao quý nhất trong tâm hồn của mình. ….
Tôn giáo nào cũng dạy người ta ăn ngay ở lành, nhưng làm thế nào để những người tầm thường bé mọn có thể nuốt được bài học yêu thương và sống trọn vẹn phẩm giá con người biết yêu thương ? Có những người, nhiều người, không thể chỉ nhờ những bài học đạo đức, bài học phân biệt phải trái, đúng sai là có thể sống tốt; có nhiều người không thể chỉ nhìn vào mẫu gương thánh hiền là có thể quyết chí học đòi và thăng tiến trên đường đức hạnh.
2.2 Câu trả lời của cuộc sống gia đình
Trong đời sống gia đình, chúng ta thấy một mẫu mực yêu thương rất cụ thể, rất đời thường nhưng cũng rất trọn vẹn : chấp nhận nhau vô điều kiện và trao tặng cho nhau hết bản thân của mình. Cha mẹ yêu thương con cái không phải vì chúng tốt hơn mọi đứa trẻ khác; cha mẹ vui mừng nếu con cái nên người, nhưng cũng chẳng nỡ từ bỏ mà không tê tái cõi lòng nếu con cái trở thành đứa con hư; tình yêu thương đó không đặt ra một điều kiện nào để đón nhận và yêu thương. Cũng vậy, cha mẹ không chỉ trao tặng cho con những bữa ăn, những áo quần, những tiền bạc, nhưng là trao tặng chính bản thân, trọn vẹn và cho đến hết đời, để cùng vui buồn với những thành công và thất bại của con; để đau nỗi đau của con còn hơn nỗi đau của chính mình và để vui điều vui của con còn hơn chính niềm vui của mình. Tình thương ấy là những “bông hoa” đẹp nhất trong cuộc đời; và điều kỳ diệu là, tuy không phải là tất cả, nhưng ta có thể thấy phần lớn, trong đó có cả những người tầm thường nhất, đã và vẫn thể hiện được tấm lòng cao cả ấy.
Người cha không thể bằng lòng với thái độ đứng bên ngoài để chỉ bảo, hoặc đặt một giới hạn cho tình yêu của mình theo kiểu : “tao đã nói cho nó rồi; chịu nghe lời tao hay không là chuyện của nó; thành công thì nó được hưởng và thất bại nó phải chịu”. Người cha, người mẹ liên đới, hy sinh, lo toan cho con cái nhiều hơn thái độ “chỉ đường ăn ngay ở lành” rất nhiều.
Quả thật, con người, nhất là những người bé mọn không chỉ cần những bài học hay những mẫu gương, nhưng nhất là cần liên đới, hiệp thông, cần có người giơ tay ra để nắm lấy, cần có một ai chấp nhận mình, và cần có người đồng hành với mình.
Từ kinh nghiệm đời sống gia đình, ta có thể nói rằng con người khao khát yêu thương tức là con người khao khát được gặp gỡ, được sống với, được liên đới, được chấp nhận, được chia sẻ với nhau trên hành trình cuộc đời; và để có thể sống yêu thương, con người rất cần được yêu thương trước đã. Đó là cách căn bản nhất và cũng là cách duy nhất để những người nghèo hèn bé mọn nhất có thể sống yêu thương.
3. THIÊN CHÚA GIÚP TA YÊU THƯƠNG NHƯ THẾ NÀO ?
3.1 Thiên Chúa là Cha
Từ trong đời sống gia đình, ta có thể nhìn thấy dung mạo Thiên Chúa giống như một người cha. Thư Epheso nói rằng : “ . . . tôi quỳ gối trước mặt Chúa Cha, là nguồn mọi gia tộc trên trời dưới đất” [Ep 3,14]. Như thế, nét đẹp trong đới sống gia đình không là gì khác hơn chính tình yêu của Thiên Chúa được tỏ hiện trong việc sáng tạo con người giống hình ảnh Ngài. Thiên Chúa là nguồn gốc gia tộc và Ngài còn thể hiện mình là Cha hơn mọi người cha thể xác của chúng ta. Chúa Giêsu đặc biệt tỏ bầy cho chúng ta biết Thiên Chúa là Cha, Ngài quan tâm chăm sóc cho mọi người, kẻ lành người dữ :
“Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính” [Mt 5, 45]
Tình thương của người cha/mẹ luôn là tình thương bao dung mọi đứa con, chứ không phải thứ so kè, tỵ nạnh, phân biệt và phe nhóm. Trong khi con cái dễ có thái độ so sánh hơn thiệt giữa mình với anh chị em, thì cha mẹ là người yêu thương mọi đứa con, và cha mẹ đặc biệt yêu thương hơn, chăm sóc chu đáo hơn đối với những đứa con bé mọn, tầm thường nhất. Đạo của Thiên Chúa là Cha là đạo kêu mời tất cả mọi người và tìm mọi cách để cả những người tầm thường bé mọn nhất có thể gặp thấy tình thương cứu độ.
“Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” [Mt 11,28]
Thiên Chúa là Cha, Ngài đặc biệt yêu thương những người bé mọn. Thiên Chúa là Cha, Ngài bao dung hết tất cả mọi người chứ không phải chỉ lọc lựa những người tốt để tưởng thưởng. Thiên Chúa là Cha, như người cha trong gia đình, luôn tìm cách giúp cho những đứa con bé mọn nhất. Đạo yêu thương của Chúa như thế, luôn thể hiện nét đặc trưng : đạo của những người nghèo, những người bất lực trước thế lực của sự ác. Với những người tỵ nạnh muốn hơn người khác, Chúa Giêsu cảnh cáo :
“Đức Giêsu nói : Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Hãy về học cho biết ý nghĩa của câu này : Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế. Vì tôi không đến để kêu gọi người công chính mà để kêu gọi người tội lỗi” [Mt 9,12-13]
3.2 Thiên Chúa liên lụy vào cuộc sống con người
Để thực hiện ơn cứu độ Thiên Chúa không đứng ngoài để chỉ bảo, không như kẻ bàng quan để phân xử, nhưng Ngài can thiệp vào lịch sử nhân loại, chấp nhận những phiền lụy của cuộc sống con người để dẫn dắt con người trên đường đời. Chính vì thế, Ngài chuẩn bị một dân, rồi Ngài giao ước với dân, Ngài tín trung với giao ước và nhất định không từ bỏ nẻo đường yêu thương cứu độ mà Ngài đã cam kết.
Tình yêu Kitô giáo cho thấy Thiên Chúa luôn đi bước trước, chứ không phải là Đấng giữ gìn uy tín của mình, hoặc ngồi chờ đợi dửng dưng với bao đau khổ của con người :
“Tình yêu cốt ở điều này : không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta và sai Con của người đến làm của lễ đền tội, vì tội lỗi chúng ta” [1 Ga 4, 10]
Chính vì thế, Thiên Chúa đã thực hiện chương trình cứu độ con người ngay khi con người còn là tội nhân, đây là tình thương vô điều kiện :
“Thế mà Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta” [Rm 5,8]
3.3 Thiên Chúa trao tặng chính Ngài
Thiên Chúa liên lụy, hiệp thông với con người qua giao ước của Ngài với con người. Tuy nhiên, giao ước cũ chưa diễn tả được sự trao tặng chính bản thân cho nhau. Giao ước cũ chỉ là một sự liên lụy theo luật “công bằng”, Thiên Chúa bảo vệ Dân, còn Dân giữ lề luật của Ngài. Chỉ trong Giao Ước mới Ngài mới nói ngôn ngữ tình yêu của Ngài một cách đặc biệt, khi ấy Thiên Chúa trao ban chính Ngài, Ngài cho Con của Ngài, Đức Giêsu Kitô, chịu chết để khẳng định tình yêu trọn vẹn, vô cùng, tuyệt đối của Ngài dành cho con người. Giao ước của con người với Chúa trong Kitô giáo không phải chỉ là giao kèo làm ăn, sở thích, hoặc như hai bên góp phần hùn của mình… nhưng là chấp nhận chính bản thân của nhau, chấp nhận nhau vô điều kiện, liên đới trách nhiệm với nhau, y như trong đời sống gia đình vậy. Quả thật, tình yêu thương chỉ đạt đến cao điểm khi ta trao ban chính bản thân cho người mình thương, khi ta thuộc trọn vẹn về nhau.
“Đức Giêsu Kitô
Vốn dĩ là Thiên Chúa
Mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì
Địa vị ngang hàng với Thiên Chúa,
Nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang,
Mặc lấy thân nô lệ,
trở nên giống phàm nhân
Sống như người trần thế.
Người lại còn hạ mình
vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết,
chết trên cây thập tự” [Pl 2, 6-8]
4. KẾT QUẢ CỦA TÌNH YÊU THIÊN CHÚA
4.1 Con người được làm con Thiên Chúa
Con người được sáng tạo do tình yêu Thiên Chúa, con người là tình yêu và con người được cứu độ cũng do tình yêu Thiên Chúa; do vậy, điều chung cuộc của cuộc đời con người cũng không thể là gì khác hơn được đón nhận vào một thế giới yêu thương. Nước Trời chung cuộc không phải là một nơi ta được hưởng thụ, được sung sướng, nhưng, một cách chính yếu, là nơi ta được sống tràn ngập trong tình yêu thương. Thực tại Cánh chung không là gì khác hơn một Nước Trời “tứ hải giai huynh đệ”.
Thiên Chúa không chấm điểm và tưởng thưởng cho những ai “thi đậu”, loại trừ những kẻ thi rớt. Ngược lại Thiên Chúa tích cực thu hợp con người, tìm tòi từng con chiên lạc và mong ước được đón nhận mọi người. Ngài chỉ “chịu thua” những đứa con hoang đàng không chịu trở về.
Như thế, “phần thưởng” của người chỉ có thể là chính bản thân Ngài. Con người được đón nhận trở nên người em của Đức Giêsu Kitô :
“Vì những ai Người đã biết trước, thì Người đã tiền định cho họ nên đồng hình đồng dạng với Con của Người, để Con của người làm trưởng tử giữa một đàn em đông đúc”. [Rm 8,29]
Khi đó, con người được đón nhận vào gia đình của Thiên Chúa và được lãnh nhận địa vị làm con của Thiên Chúa Cha :
“Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên : Áp-ba, Cha ơi ! Vậy anh em không còn phải là nô lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con thì cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa” [Gl 4, 6-7]
“Vậy đã là con thì cũng là thừa kế, mà được Thiên Chúa cho từ kế, thì tức là đồng thừa kế với Đức Kitô” [Rm 8, 17]
4.2 Con người trở nên chính mình
Thế là, từ một cuộc ra đi, nguyên tổ loài người đã ra đi để khẳng định chính mình, ra đi tìm cách để “nên như những vi thần” [St 3,5], nhân loại đã đi một vòng thật xa, trong một thời gian thật lâu, để rồi cuối cùng con người lại được Thiên Chúa dẫn dắt để trở về với địa vị làm con Thiên Chúa và sống trong tình thân nghĩa thiết với Thiên Chúa như trước kia và hơn hẳn trước kia.
“Anh em hãy xem, Chúa Cha yêu thương chúng ta dường nào, đến nỗi chúng ta được gọi là Con Thiên Chúa – mà thực sự chúng ta là con Thiên Chúa” [1 Ga 3,2]
Chỉ khi ấy, con người mới tìm lại được “thiên đàng đã mất” của bản thân mình. Được sống trong tình yêu của Thiên Chúa, con người được “sống trong ánh sáng”, được “bước vào cõi sống”, được hân hoan đón nhận nhau trong tình yêu thương :
“Ai yêu thương anh em mình, thì ở lại trong ánh sáng “ [1 Ga 2,10]
“Chúng ta biết rằng, chúng ta đã từ cõi chết bước vào cõi sống, vì chúng ta yêu thương anh em. Kẻ không yêu thương, thì ở lại trong sự chết” [1 Ga 3,14]
Khi ấy, con người thoát khỏi nỗi sợ ám ảnh và có thể sống trong hân hoan, tự do :
“Trong tình yêu không có sự sợ hãi; trái lại, tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi, vì sợ hãi gắn liên với hình phạt và ai sợ hãi thì không đạt tới tình yêu hoàn hảo” [1 Ga 4, 18]
“Chính để chúng ta được tự do mà đức Kitô đã giải thoát chúng ta” [Gl 45,1]
KẾT
Với tình yêu của người Cha, Thiên Chúa thực hiện một kế hoạch yêu thương vĩ đại bao trùm tất cả mọi con người và tất cả lịch sử nhân loại.
Kế hoạch tình yêu ấy được thực hiện trong Đức Giêsu Kitô, Ngài trao cho các môn đệ một tình thương thân ái : đón nhận các môn đệ như bạn hữu:
“Thầy không còn gọi anh em là bạn hữu nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu” [Ga 15,15]
Vì tình thương với bạn hữu như thế, Chúa Giêsu hy sinh mạng sống mình, và đó là tình yêu lớn lao nhất :
“Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu” [Ga 15,13]
Trong tình thương ấy, Chúa Giêsu chia sẻ cho ta những gì quí trọng nhất của mình, chia sẻ tình yêu thâm sâu bên trong Thiên Chúa
“Vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha của Thầy, Thầy đã cho anh em biết” [Ga 15,15].