TRUNG TÍN KITÔ GIÁO
Cũng như hạnh phúc không phải chỉ là vắng mặt đau khổ, thì trung tín cũng không đơn thuần chỉ là không có sự phản bội. Trung tín là mối giây liên kết tích cực giữa con người với nhau, bao hàm một hướng mở giúp cho cuộc sống con người thêm phong phú chứ không phải chỉ là bảo đảm một tình trạng an toàn nào.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
__________________
Cũng như hạnh phúc không phải chỉ là vắng mặt đau khổ, thì trung tín cũng không đơn thuần chỉ là không có sự phản bội. Trung tín là mối giây liên kết tích cực giữa con người với nhau, bao hàm một hướng mở giúp cho cuộc sống con người thêm phong phú chứ không phải chỉ là bảo đảm một tình trạng an toàn nào.
Thái độ trung tín diễn tả một thứ tình yêu được thể hiện trong dòng đời, vượt qua những thăng trầm của thời cuộc và đón nhận được toàn vẹn bản thân một ai khác. Con người chỉ trọn vẹn là mình trong dòng đời. Trong dòng cuộc sống thực và cuộc sống lâu dài, con người mới thể hiện chân chính bản thân mình và mới thực sự biết mình là ai. Do đó, cũng chỉ trong dòng cuộc đời thật, tình yêu thương của một người này với người kia mới thực sự được chứng nghiệm một cách đúng đắn. Trung tín chính là thước đo của tình yêu thương đích thực.
1. Thăng tiến trong "trình độ" và trung tín trong "liên lụy"
1.1 Người cha và người thầy
Người thầy là người dạy cho học trò những kiến thức cần thiết trong chương trình học. Người thầy sau khi đã làm đầy đủ bổn phận, thì có thể an tâm đối với trách nhiệm của mình. Khi học trò đi thi, người thầy không thể là người làm bài thay cho học trò. Có thể người thầy cũng buồn khi thấy ngươì học trò của mình thi rớt, những điều ấy cũng không đến nỗi chi phối, hoặc có những ảnh hưởng quan trọng đến cuộc đời của thầy. Ngược lại, người cha là người gắn bó cả cuộc đời với con. Người cha không thể nghĩ rằng mình đã hoàn thành trách vụ làm cha khi dạy cho con một bài học hay, nhưng người cha được thôi thúc để tiếp tục dính dáng vào cuộc đời của con, tiếp tục thực hiện mãi tất cả những gì có thể để đứa con của mình được thành công trong cuộc đời.
Việc học của học trò được chuẩn hóa theo một chương trình, được đánh giá theo một thang điểm để xác định trình độ cao thấp và người thầy phải áp dụng thang điểm ấy để đánh giá học trò. Trách nhiệm chính yếu của người cha thì không phải là đánh giá khả năng, đức tính của con trong một chương trình huấn luyện nào đó, nhưng là người đồng hành với con trong suốt cuộc đời của mình. Cuộc đời là một hành trình có rất nhiều bất ngờ, có rất nhiều tình huống không thể áp dụng đơn giản một phương cách giải quyết nào; chính vì thế, cuộc đời con người cần có người cha. Có khi đứa con rơi vào tình trạng mất hết tất cả những gì là tốt đẹp của một con người, đứa con tội phạm, hoặc đứa con mang căn bệnh thời đại, đứa con vô ân bội nghĩa… thì người cha lại là người có khả năng liên lụy với đứa con trong những lúc khó khăn nhất, những lúc bi đát nhất, những trường hợp đau thương nhất.
Người thầy là một tấm gương, tấm gương về tư cách, và tấm gương về kiến thức cho học trò. Người thầy có khả năng sư phạm để giúp cho trình độ của đứa học trò được nâng cấp. Người cha không đương nhiên là người có khả năng sư phạm để dạy dỗ; người cha, là người sống sát bên cạnh con cái, nên cũng khó có thể dấu được những lối lầm, những tật xấu của một kiếp người vốn "nhân vô thập toàn". Nhưng người cha lại là người liên lụy với con trong những lúc khó khăn và có một khả năng đồng hành với đứa con trên chiều dài của dòng đời.
1.2 Thế giới trong nhà và thế giới ngoài đường
Nơi thế giới ngoài đường, người ta đòi hỏi con người phải có trình độ để có thể chơi với đời, trình độ về năng lực cũng như trình độ về đạo đức. Trong cuộc sống xã hội, người ta không chấp nhận cho một người không có năng lực đảm nhận một vị trí quan trọng, người ta không chấp nhận thu nhận một công nhân không có tay nghề, và người ta cũng không chấp nhận một người không có đức độ. Đó cũng là điều hết sức bình thường trong qui luật sống của xã hội. Tuy nhiên, thế giới ngoài đường là thế giới đón nhận một con người trong một giai đoạn của tài năng, trong một "nhiệm kỳ" của chức vụ. Khi một ai đó không còn năng lực, thế giới ngoài đường sẽ loại bỏ anh ta như một quy luật bình thường của cuộc sống.
Trong đời sống gia đình, người ta có thể thấy một qui luật trái ngược. Cha mẹ, anh chị em ruột thì, theo quy luật bình thưng, là những người biết đón nhận trọ vẹn bản thân của nhau. Do đó, người sống trong gia đình mới tìm được một sự an hòa sâu xa trong tâm hồn. Trong nhà, chính những đứa con kém nhất lại là những đứa con được cha mẹ chăm sóc riêng và được yêu thương nhiều hơn hết. Cha mẹ không đánh giá đứa con mình theo trình độ, trừ khi người ta bị chi phối của cuộc sống xã hội và chơi theo quy luật của xã hội. Những khi cha mẹ biết mình sắp qua đi, thì lời trăn trối có lẽ bao giờ cũng là những lời trăn trối làm sao để những đứa con có điều kiện thuận lợi biết chăm lo cho những đứa con kém may mắn nhất.
Thế giới ngoài đường là thế giới của "trình độ", thế giới trong nhà là thế giới của lòng "trung tín".
1.3 Cám đỗ thăng tiến trong "trình độ"
Sống trong cuộc đời, người ta luôn có cảm tưởng rằng, khi mình có trình độ cao, mình sẽ được một sự bảo đảm cho cuộc đời của mình. Khi ta có một bằng cấp cao, một tay nghề cao, một khả năng giỏi trong một lãnh vực nào đó…ta thấy tự tin và vững bước trên đường đời. Đó là điều qua rõ ràng và người ta có thể kiểm nghiệm sự đúng đắn của nẻo đường này một cách thực tế.
Tuy nhiên, cũng có một thực tế trở thành gần như quy luật, đó là khi người ta càng tự tin vào mình, khi người ta càng thăng tiến về trình độ, khi người ta càng có khả năng giải quyết nhiều chuyện trong cuộc đời của mình, thì người ta lại càng ít cảm thấy cần tới người khác, hoặc chỉ cần tới người khác như một sự chiếm hữu, thống trị, chứ không phải như một sự cần thiết của sự truy nhận tầm quan trọng thiết yếu của một người mình yêu thương.
Mặt khác, một người ưu tư quá về "trình độ" thực sự là người ướm đời mình vào một thang điểm chứ không phải là người thể hiện cuộc đời mình trong tương quan nghĩa tình. Vì thang điểm là một thứ chuẩn mực chung, nên người như thế thường có mối quan tâm so sánh, nhìn người này để tự tôn và nhìn người kia rồi tự ty. Người ưu tư về trình độ, thật ra là người ưu tư về bản thân mình, sống vì mình, cho mình, chứ không phải sống vì ai khác. Cuối cùng, con đường thăng tiến trong trình độ là con đường của những người ưu tuyển, con đường lọc lựa để gạt ra bên ngoài những gì thấp kém… và con đường đó cũng dẫn đến việc loại ra ngoài cả những người thấp kém… Xã hội thiếu nghĩa tình luôn là một cuộc thi gắt gao mà những người bé mọn dĩ nhiên là những kẻ bị loại trừ.
Con đường của thăng tiến trình độ là con đường của những người muốn khẳng định chính mình, khẳng định chính mình bằng năng lực của mình, bằng sự vun đắp cá nhân mình. Trong khi đó, con đường trung tín là con đường của tình thương chân chính, là con đường người này có thể chấp nhận được người kia trên suốt hành trình dài của cuộc đời, để làm nên một bề dày nghĩa tình…
Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu nhiều lần khẳng định một sự đảo ngược kỳ lạ : "Và kìa có những kẻ đứng chót sẽ lên hàng đầu, và có những kẻ đứng đầu sẽ xuống hàng chót." (Lc 13,20). Đó không phải là một ý định kỳ cục nhằm khẳng định một Thiên Chúa toàn năng muốn làm gì thì làm, nhưng điều đó, có thể nói, diễn tả một quy luật của tình thương, khác với quy luật của sự thăng tiến trong trình độ. Chính những người Biệt phái là bằng chứng rõ ràng nhất của một thứ "cám dỗ của trình độ".
2. Đón nhận một con người và một cuộc đời
2.1 Cuộc sống của một con người là một hành trình huyền nhiệm
Con người vốn đã là một huyền nhiệm, nghĩa là chẳng ai có thể hiểu thấu được. Từ thế kỷ XX, người ta đã không còn muốn định nghĩa con người như là một "động vật có lý trí" hay bất cứ một định nghĩa minh bạch nào khác. Bây giờ, người ta thích điều mà thánh Âu Tinh nói : Con người, ôi bao la sâu thẳm dường bao. Đối với con người, không một điều gì sẽ xẩy ra một cách đương nhiên. Trao cho con người bất cứ điều gì cũng có thể hoặc tốt hoặc xấu. Một con dao, một chiếc xe, một gia tài kếch xù, hoặc một tài năng lớn lao….tất cả đều có thể trở nên hoặc tai họa, hoặc là một cơ may.
Hon nữa, con người trong dòng cuộc sống lại là một điều không một học thuyết triết học nào có thể minh giải một cách trọn vẹn. Con người đi vào cuộc đời, đó là một bài toán chưa có lời giải. Cuộc sống con người cứ như một chân trời mở ra mà không ai biết trước được một cách chắc chắn điều gì sẽ xẩy ra, điều gì sẽ hoàn thành. Có những con người tưởng chừng như chắc chắn sẽ thành công nhưng đáp số cuối cùng lại là một sự thất bại lớn; và ngược lại cũng thế. Chúng ta có thể thấy được điều đó bằng vô số thí dụ xẩy ra hằng ngày trong cuộc sống.
Những ai có một chút kinh nghiệm trong cuộc sống thì hiểu ra được rằng… cuộc đời không phải là một con đường bằng phẳng… Dĩ nhiên, có trình độ, thì người ta có nhiều khả năng để vượt qua những khó khăn trong cuộc sống nhiều hơn. Tuy nhiên, cuộc sống còn có những lúc đụng vào những "giới hạn căn bản" của kiếp sống con người. Sinh lão bệnh tử là những điều mà dù một người có trình độ đến đâu cũng không thể tránh được. Nhân vô thập toàn, hay "con người là sinh vật có bệnh"… đó là những chân lý ở một mức độ cao hơn.
2.2 Tình yêu mang tính chất cứu độ
Nếu cuộc sống con người là một huyền nhiệm vượt quá khả năng tiên đoán của con người, thì cũng còn một điều vốn cũng vô cùng kỳ diệu trong cuộc sống ấy, đó là tình yêu chân chính mà con người, tự căn bản, được mời gọi để sống. Chính tình yêu là khả năng Thiên Chúa ban cho con người để con người có thể sống với nhau trong hành trình huyền nhiệm của cuộc đời. Tuy nhiên, tình yêu ở đây chắc chắn không phải chỉ là một chút hứng khởi của tình cảm, không phải chỉ là một sự đánh giá nhau trong mức độ thăng tiến, mà là một sự đón nhận trọn vẹn bản thân của một con người trên hành trình phức tạp của cuộc đời.
Tình yêu thương Kitô giáo không phải chỉ là một chút hứng khởi kiểu Eros (một thứ điên loạn xuất thần), nhưng là một tình yêu hướng tới lý tưởng "Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình." (Ga 15,13). Người Kitô hữu không được quyền nói như người ta vẫn nói : hôn nhân giết chết tình yêu. Người Kitô hữu, sống theo lý tưởng tình yêu Agapê, cần đón nhận đời sống hôn nhânnhư một hành trình yêu thương hướng tới lý tưởng hy sinh mạng sống cho nhau, nơi đó không còn những hứng khởi thăng hoa, nhưng lại đầy tràn những liên lụy trong những khó khăn của cuộc sống thật.
Như thế, tình yêu theo tinh thần Kitô giáo không phải chỉ là một chút hứng khởi, không phải chỉ là một sự thăng hoa để thêm vào cho cuộc sống thêm mặn mà, nhưng tình yêu là điều thực sự cần thiết để con người có thể sống trọn kiếp người. Con người cần sống tình yêu để có thể hướng đến một sự sống lý tưởng của hạt lúa "thối đi" và trổ sinh những bông hạt khác, lý tưởng "hy sinh tính mạng vì bạn hữu"; cũng như con người cần được yêu thương, một thứ tình yêu dám liên lụy trọn vẹn cuộc đời với người mình yêu, để có thể giúp nhau vượt qua được những thử thách bất ngờ của một đời người. Tình yêu thương Kitô giáo mang một ý nghĩa căn bản là "tính chất cứu độ". Chính vì con người cần được liên lụy trong suốt hành trình cuộc đời, mà Chúa cho con người, bình thường, được có cha có mẹ…. Và tình yêu vợ chồng cũng không đi ra ngoài qui luật chung của tình yêu, nghĩa là đón nhận nhau " khi thinh vượng cũng như lúc gian nan, khi ốm đau cũng như lúc mạnh khoẻ…"…
2.3 " Thiên Đàng" ở trần gian
Cuộc sống trần gian này không phải là thiên đàng. Cuộc sống luôn có lỗi lầm, luôn có khổ đau và ít nhiều gì vẫn là "vũng lầy nước mắt". Chúa Giêsu đã chọn một đường lối cứu độ tuyệt vời khi Ngài không dễ dàng thiết lập ngay một thế giới THIÊN ĐÀNG ở trần thế, Ngài chỉ gieo hạt và men Nước Trời để chúng lớn lên từ từ trong cuộc sống trần gian. Nói cách khác, thiên đàng ở trần gian này đã được Chúa thiết lập, nhưng đó là thiên đàng ở dạng men, dạng hạt :
"Đức Giê-su còn trình bày cho họ nghe một dụ ngôn khác. Người nói : "Nước Trời cũng giống như chuyện hạt cải người nọ lấy gieo trong ruộng mình. Tuy nó là loại nhỏ nhất trong tất cả các hạt giống, nhưng khi lớn lên, thì lại là thứ lớn nhất ; nó trở thành cây, đến nỗi chim trời tới làm tổ trên cành được." Người còn kể cho họ một dụ ngôn khác : "Nước Trời cũng giống như chuyện nắm men bà kia lấy vùi vào ba thúng bột, cho đến khi tất cả bột dậy men." (Mt 13, 31-33)
Thiên đàng trên trời mai sau thi thật là hoàn hảo, là khi đó mọi người giống như cùng gẩy lên cung đàn hoà điệu một cách tuyệt với. Thiên đàng trần gian này lại là những tiếng đàn ngang phè phè của người này với người kia. Tuy thế, khi biết mình chơi đàn lạc điệu, mỗi người lại biết xin lỗi, cười xòa và cùng làm lại bài hòa âm của mình.
Thiên đàng trần gian này vẫn có những lỗi lầm, những sai sót, nhưng điều quan trọng là có thể chấp nhận được sai lỗi của nhau :
"Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế, anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hoà và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau. Trên hết mọi đức tính, anh em phải có lòng bác ái : đó là mối dây liên kết tuyệt hảo. Ước gì ơn bình an của Đức Ki-tô điều khiển tâm hồn anh em, vì trong một thân thể duy nhất, anh em đã được kêu gọi đến hưởng ơn bình an đó. Bởi vậy, anh em hãy hết dạ tri ân." (Cl 3, 12-15)
3. Tình yêu trung tín
3.1 Tình yêu mang tính cách dấn thân
Đi vào nhịp bước tình nghĩa, người ta được mời gọi ra khỏi bản thân, dấn thân vì tha nhân và dấn thân cho đến cùng. Tiếng gọi của tình yêu chân chính bao giờ cũng thôi thúc con người đến một cách sống yêu thương trọn vẹn, triệt để, yêu thương đến cùng. Hành trình của tình yêu không phải nhằm đạt đến một sự an hòa cho bản thân, nhưng là vượt quá bản năng bảo vệ bản thân. Đó luôn luôn là một cuộc “vượt qua”. Tình yêu thương, trong khía cạnh dính dáng đến vận mạng con người, không thể được giải quyết bằng thái độ “đi giầy cao gót”, thái độ “đi cà khêu” trong cuộc đời. Để đến với ai khác trong tình yêu, ai khác như một bản thân có giá trị tuyệt đối, ai khác như vận mạng một đời người, ai khác với tất cả sự phức tạp của cuộc đời, người ta cũng phải hy sinh cả một đời.
Những người làm cha làm mẹ, những người có kinh nghiệm “cưu mang” một cuộc đời, “mang vác” một phận người,… có lẽ dễ hiểu được điều đó. Mang vác một cuộc đời là cả một hành trình gian nan, khốn cực mà người nào nhát đảm, an thân không thể nào đi trọn được. Để đồng hành với một phận người, người ta không thể đứng bên lề cuộc đời để khỏi vướng bùn nhơ, không thể đứng xa xa, cầm cây khều khều, gẩy gẩy… nhưng là xắn quần lên, là lội vào bùn, là ngụp lặn trong bùn. Có lẽ chính vì con người cần được cưu mang, cần được mang vác như thế mà Chúa cho con người có cha có mẹ.
3.2 Tên gọi khác của tình yêu
Ta có thể tạm nói có hai thứ tình thương, một thứ "tình thương hàng ngang" của bạn bè với nhau, vợ chồng với nhau, hay anh chị em với nhau… và một thứ "tình thương hàng dọc" của cha mẹ với con cái…
Trong tình thương "hàng ngang", người ta thường tìm những điều hay điều tốt của người mình yêu để có thể yêu thương nhiều hơn, tha thiết hơn, theo chiều hướng tỷ lệ thuận với những điều hay điều tốt của người mình yêu. Thứ tình yêu hàng ngang có chiều hướng "nhìn lên", có tính cách dễ thần tượng hóa người mình yêu quý. Chẳng hạn khi hai người nam nữ gặp nhau, đó là cuộc gặp gỡ của "người dưng khác họ", thì dĩ nhiên là người này quí trọng người kia là vì người kia có những đức tính tốt, có những điều hay điều đẹp… cuộc gặp gỡ của những người "hay, đẹp, tốt" như thế thật bay bổng biết bao; nhưng cũng thật "ảo tưởng" biết bao. Tình thương "hàng ngang" rất dễ bị ngưng đọng khi gặp một chướng ngại, khi thần tượng bị sụp đổ, khi mà "nhìn lên" chẳng còn thấy điều gì là "hay, tốt, đẹp" nữa. Đó là nguyên nhân đổ vỡ của biết bao nhiêu cuộc tình thắm thiết. Tình yêu hàng ngang đặt nền tảng trên sự đánh giá nhau về "trình độ".
Trong khi đó, tình thương "hàng dọc" lại có một chiều hướng khác : "nước mắt đổ xuống". Tình thương của cha mẹ với con cái thì không phải vì điều hay điều tốt của con, mà vì chính bản thân của đứa con. Bằng chứng là ngay khi đứa con của mình là một đứa con khuyết tật, hoặc ngu dốt, hoặc tệ hơn nữa là đứa con tội phạm thì cha mẹ vẫn đau lòng, vẫn thiết tha và còn thiết tha hơn nữa với nó. Tình thương đổ xuống có khả năng vượt qua mọi chướng ngại để đến được tói bản thân của người mình yêu thương. Thứ tình thương này đặt nền tảng trên sự liên lụy.
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, trong thông điệp "Thiên Chúa là Đấng từ bi thương xót", nói rằng : ở trần gian này, tình yêu có một tên gọi khác, đó là lòng nhân từ. Ta có thể nhận ra một chân lý lớn của Kitô giáo trong khẳng định này. Tình yêu thương của con người với nhau trong cuộc sống trần gian này không thể bền vững được nếu không được "đổi tên". Cuộc sống có nhiều cạm bẫy, và mỗi con người đều có phần "nhân vô thập toàn" của mình; nên người ta chẳng thể sống trọn vẹn được thứ tình thương hàng ngang trong cuộc đời này. Tình yêu thương trong cuộc đời này luôn phải được thông phần vào một nguồn mạch của tình yêu hàng dọc. Khi Chúa Giêsu muốn trao cho thánh Phêrô trách nhiệm chăm sóc đoàn chiên, Chúa đã chẳng đòi hỏi thánh Phêrô một thứ tình yêu hàng ngang là "yêu chiên", nhưng Chúa mời gọi để đi vào nguồn mạch của thứ tình yêu "chiều dọc", đó là yêu Thầy :
"Khi các môn đệ ăn xong, Đức Giê-su hỏi ông Si-môn Phê-rô : "Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có mến Thầy hơn các anh em này không ?" Ông đáp : "Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy." Đức Giê-su nói với ông : "Hãy chăm sóc chiên con của Thầy. Người lại hỏi : "Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có mến Thầy không ?" Ông đáp : "Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy." Người nói : "Hãy chăn dắt chiên của Thầy". Người hỏi lần thứ ba : "Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có yêu mến Thầy không ? "Ông Phê-rô buồn vì Người hỏi tới ba lần : "Anh có yêu mến Thầy không ?" Ông đáp : "Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự ; Thầy biết con yêu mến Thầy." Đức Giê-su bảo : "Hãy chăm sóc chiên của Thầy. (Ga 21, 15-17)
Chỉ có tình yêu với Thầy mới có thể đưa thánh Phêrô vào nguồn mạch của tình yêu thương của người mục tử nhân lành : "Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên" ( Ga 10,11), để Phêrô có thể chu toàn được trách nhiệm của người mục tử chân thật. Phêrô chỉ có thể chăn chiên của Chúa khi yêu chiên bằng tình yêu của Chúa, nghĩa là bằng một thứ tình yêu đã được đổi tên, tức bằng lòng nhân từ. Sự kiện vừa nói không phải là một điều đặc biệt dành riêng cho người mục tử, nhưng là quy luật chung của tình yêu Kitô giáo, như chúng ta thấy trong các dụ ngôn tha thứ, dụ ngôn về người Samarie nhân hậu…
Nói một cách nào đó, sống tình yêu Kitô giáo, chính là nhận ra ai cũng đáng thương; tôi cũng đáng thương và anh chị em tôi, bạn bè và người yêu của tôi cũng đáng thương. Đó thực sự là thân phận con người trong cuộc đời này. Tuy nhiên, cần phân biệt ở đây, vị thế của tôi để nhận ra anh chị em của tôi đáng thương không phải là vị thế của chính tôi, như thể tôi hơn người khác, tôi tội nghiệp cho người khác, mà là vị thế của Chúa. Mặt khác, thái độ "tội nghiệp" có nghĩa là "tôi chẳng thương bản thân của em, tôi chỉ tội nghiệp cho nỗi khổ của em…", trong khi đó, tình thương chiều dọc, tình thương đổ xuống một cách chân chính thì lại luôn bao hàm ý nghĩa đón nhận bản thân của người mình yêu thương một cách "vô điều kiện".
Kết
1/ Người ta thường nói Kitô giáo là đạo yêu thương, Điều đó hoàn toàn đúng, nhưng cũng rất dễ bị hiểu lầm vì tình yêu cũng có ba bẩy thứ. Có lẽ cần phải nói đạo của Kinh Thánh dựa trên nền tảng là "Đạo Sống Với Ai Khác". Trên nền tảng đó, có một đức tính gần như tương đương với tình yêu, đó là trung tín. Đỉnh cao của sống với và trung tín đó là tình yêu, và là tinh yêu hy sinh mạng sống cho bạn hữu.
2/ Trung tín với Chúa để trung tín với nhau
Con đường của người Kitô là con đường vòng : muốn tha thứ thì trước tiên phải đón nhận sự tha thứ của Thiên Chúa trong đức Kitô; muốn chăn dắt con chiên thì phải yêu mến Chúa Giêsu và từ đó tìm thấy lý tưởng cao vời của đời mục tử; muốn sống chân thật với tha nhân thì phải đối diện với Thiên Chúa, Đấng thấu suốt cõi lòng để có thể buông bỏ được những chiếc mặt nạ giả tạo; muốn phục vụ tha nhân thì hãy để cho đức Giêsu phục vụ mình và ra đi bằng chính động lực phục vụ đến cùng của Đức Giêsu; muốn xót thương người thì hãy nhận ra lòng thương xót của đức Giêsu . . .
Chính niềm tin vào Chúa giúp con người có thể tin vào nhau. Niềm tin nơi Chúa là chân trời rộng mở để con người có thể dám tin vào nhau mà không sợ rơi vào ảo mộng phù phiếm của một thứ chủ nghĩa anh hùng cá nhân.Chính khi ta tin vào Chúa, ta đã vượt qua thái độ “thuận mua vừa bán”, khi đó ta mở rộng khung trời để có thể bao bọc, chấp nhận những con người cụ thể, ngay cả khi bị phản bội. Chỉ có con người mới có thể phản bội, còn Thiên Chúa thì không bao giờ phản bội cả; và Thiên Chúa chẳng để cho sự “lầm lẫm” do đã quá tin một con người, nếu có, lại trở thành một thái độ xấu.
Nguyễn Trọng Viễn O.P.
Gợi ý trao đổi :
1. Cho đến nay, bạn thường hiểu tình yêu theo cách nào, có phải là một tình yêu trung tín không ?
2. Để "cứu" một con người, ta phải chấp nhận "mang vác một cuộc đời", bạn có thấy điều đó cần thiết khi làm cha mẹ không ?
3. Con đường trung tín trong đời sống gia đình có phải là một lý tưởng quá cao mà ta không thể nào thực hiện được chăng ? Làm cách nào để thực hiện được tình yêu trung tín trong gia đình ?
Các mức độ khác nhau của sự hiệp nhất
Tình yêu hướng tới sự hiệp nhất. Sự hiệp nhất trong tình yêu là một sự hiệp nhất hết sức phong phú, mở ra trong nhiều lãnh vực và đưa vào những nẻo đường mới mẻ trong dòng lịch sử. Sự hiệp nhất của con người với nhau có thể ví như sự hiệp nhất của một thân thể “cao cấp”. Trong khi các sinh vật cấp thấp tìm thấy khả năng sống một thân thể duy nhất bằng sự đồng nhất tối đa các chức năng trong thân thể, thì những sinh vật cao cấp lại thống nhất bản thân mình bằng một sự đa dạng của các bộ phận khác nhau trong thân thể. Một sinh vật càng cao cấp thì càng có những cơ quan khác nhau để đảm nhận những chức năng khác nhau. Thế nhưng, chính trong sự khác biệt ấy mà sự hiện diện của mỗi bộ phận lại càng thêm cần thiết đối với các bộ phận khác; mỗi bộ phận đều được sắp xếp để đảm nhận một công việc chuyên môn trong thân thể và hết sức cần tới những bộ phận khác để có thể chu toàn “trách nhiệm” của mình. Chính vì sự khác nhau ấy mà mỗi bộ phận được phát triển trọn vẹn chức năng của nó. Thay vì tìm sự gắn bó với nhau bằng sự đồng nhất, một cơ thể cao cấp sẽ gắn bó với nhau bằng một sức sống chung, sự sống của bộ phận này cũng là sự sống của các bộ phận khác. Trong thư 1 Cr, thánh Phaolô ví mỗi thành phần trong Giáo Hội như những bộ phận khác nhau trong thân thể; và thánh nhân cho thấy mối giây liên kết các thành phần với nhau không là gì khác hơn chính đức ái. {Xc. 1 Cr, 13,1-13}. Chính sự sống chung mới là tiêu chuẩn căn bản của một sự hiệp nhất; và sự sống chung, dĩ nhiên, không phải chỉ là một giây phút, trong một vài giờ, mà là một sự sống trong dòng đời.
Nơi nào có sự hiệp nhất trong sự sống đích thực, thì nơi đó, người ta không đánh giá nhau theo một thang điểm trung bình cộng, nhưng như là những con người độc đáo, như là những người có cá tính và nhất là có khả năng hòa hợp với cộng đồng. Chúng ta cùng khám phá những khía cạnh khác nhau và bổ túc cho nhau trong các mức độ hiệp nhất.
2.1 Hiệp nhất ở mức độ “sự vật” và trong thân xác
Mức độ thấp nhất của hiệp nhất của con người với nhau là mức độ sự vật. Người ta có thể gặp gỡ một ai khác khi cùng làm việc chung, cùng sống trong một ngôi nhà, hoặc cùng ăn một bàn ăn với nhau, hoặc cùng chia sẻ cho nhau những của cải vật chất hoặc tinh thần … Hiệp nhất như thế, chỉ là một thứ “bao bì” trong đó, hai hay nhiều con người được bỏ chung vào nhau; và mức độ vững bền của nó chỉ là một sức ép hoàn toàn ở bên ngoài. Nó có thể bị phá tan vì một sức mạnh hay một sự trở lực ở bên ngoài, do ai đó ở bên ngoài, do hoàn cảnh ngẫu nhiên ở bên ngoài. Mức độ hiệp nhất của con người với nhau trong mức độ bất cứ sự gì ở ngoài con người, có thể tách rời khỏi bản thân của con người, dù là vật chất hay tinh thần, đều có thể gọi được là sự hiệp nhất trong mức độ sự vật.
Ở một mức độ cao hơn, người ta có thể tìm được sự hiệp nhất trong thân xác. Người cha có thể lôi đứa con đến trường, hoặc bắt đứa con ngồi vào bàn học để học bài. Nhưng khi đó, người cha vẫn chỉ điểu kiển được thân xác của đứa con chứ chưa điều kiển được tâm hồn, và chưa chinh phục được lẽ phải trong đầu óc của con. Đứa con sẽ còn đến trường hoặc còn ngồi học bài, khi mà sức mạnh thống trị của người cha vẫn còn mạnh. Sự tuân phục của đứa con bị khuất phục, nhưng không phải là "tâm phục khẩu phục", nó bị đè nén để rồi lúc nào đó sẽ vùng lên và chống cụ lại một cách mãnh liệt. Người cha muốn áp đặt sự vâng phục của con bằng sức mạnh vũ phu thì chỉ có thể tìm được một sự hợp nhất nơi thân xác mà thôi. Sự hòa hợp vợ chồng trong đời sống chăn gối cũng mang cùng một ý nghĩa như vậy.
2.2 Hiệp nhất trong hiểu biết và trong tình cảm
Một trong những tiêu chuẩn vẫn còn nhiều giá trị trong xã hội hôm nay, đó sự mức độ tương đối ngang hàng về trình độ văn hóa của hai người nam và nữ. Đó là một điều hợp lý, vì hai người vợ chồng, sẽ phải chia sẻ cuộc đời với nhau trong rất nhiều lãnh vực, rất nhiều vấn đề mà hai người khác trình độ văn hóa sẽ thường có những lối nhìn khác nhau, những tiêu chuẩn ưu tiên khác nhau và những giá trị khác nhau. Một mức độ văn hóa, một nói rộng ra là một sự "biết điều" sẽ là một yếu tố thuận lợi cho sự bền vững của đời sống gia đình. Tuy nhiên, lý trí không phải là cơ năng quan trọng độc nhất của con người mà là một phần trong con người toàn diện. Lý trí hướng dẫn thực hành nhưng không thay thế cho thực hành cũng như chẳng thay thế cho tấm lòng của con người. Lý trí cũng có những thách đố riêng của nó mà nếu không vượt qua được, con người có thể rơi vào thái độ duy lý, tự mãn hoặc tình trạng nói mà không làm.
Hoặc cùng có những người, một cách thực tế hơn, không căn cứ và trình độ văn hoá của bằng cấp, nhưng do sự hòa hợp tính tình với nhau. Những sở thích, những mối quan tâm, những lo toan tính toán giống nhau. Sâu xa hơn hểt, đó là sự hiệp nhất của tình yêu. Tình yêu ở đây là một thứ tình cảm nhớ thương, nồng nàn, tha thiết của người này đối với người kia. Tuy nhiên, ta cũng có thể thấy, trong thực tế của cuộc đời, có những mối tình nồng nàn biết bao, để rồi cuối cũng cũng vẫn gẫy đổ trong đời sống gia đình.
Những sự hòa hợp như thế thật là cần thiết. nhưng cũng chưa phải là tất cả; bởi vì, điều còn lại quan trọng hơn cả, đó những thứ hợp nhau của suy nghĩ và tình cảm có thể chỉ là một chút bề mặt của một giai đoạn nào đó. Khi sống chung với nhau trong một gia đình, trong chiều dài của cuộc đời, người ta mới lại khám phá ra nhiều điều không thể ngờ được nơi bản thân của người mà mình yêu thương. Cuộc sống bao giờ cũng có nhiều điều không ngờ mà một khả năng đón nhận trọn vẹn, dám phiêu lưu trọn vẹn trên hành trình cuộc đời mới có thể vượt qua được.
Nếu sự hiệp nhất trong mức độ "sự vật" là quá hời hợt, nếu sự hòa hợp trong mức độ thân xác có thể trở nên nguy hiểm khi người ta không thấy được tính cách hòa hợp "bên trong', thì sự hòa hợp nơi lý trí hoặc trong tình cảm yêu thương cũng có những thách đố, những nguy hại của chúng. Bởi vì, trong dòng cuộc sống, mọi sự đều có thể thay đổi, và khi người ta không còn tìm thấy một sự hòa hợp theo ý muốn của mình nữa, thì mọi sự đều rơi rụng.
2.3 Hiệp nhất trong dòng cuộc sống
Còn một chiều kích chính yếu của đời sống con người, đó là dòng đời, đó là cuộc sống. Sự hiệp nhất trong sự vật và thân xác, sự hiệp nhất trong lý trí và tình cảm, chỉ có thể trở nên chân chính khi nó trải qua được thách đố của thời gian, khi nó được thể hiện trong lòng trung tín. Đặt trong dòng đời, thái độ trung tín trở nên một yếu tố quan trọng hơn hết.
Cuộc sống là cả một thế giới của sự phiêu lưu. Cuộc sống có những lúc làm rơi rụng thứ hiệp nhất nơi "sự vật", làm đổ bể thứ hiệp nhất trong thân xác. Chính cuộc sống khắc nghiệt có thể làm những sự hòa hợp trong suy nghĩ và trong tình cảm trở thành những kỷ niệm đẹp của một thời yêu nhau. Tình yêu chân chính phải bao gồm những khía cạnh thực tế như chia sẻ cuộc đời với nhau, là dính dáng vào những vui buồn của nhau trên hành trình cuộc sống, là dám thông chia những khổ đau, liên lụy những rắc rối, đảm nhận trách nhiệm về cuộc đời của nhau…
Có thể nói được sự hiệp nhất trong thần khí, theo tinh thần của Kitô giáo chính là nhằm tới sự hiệp nhất trong dòng đời. Cuộc đời luôn luôn là một sự rắc rối, luôn luôn có những bất ngờ, luôn luôn là một bước đi phiêu lưu… và Chúa dến với con người, không phải như một bài học khôn ngoan, không phải chỉ là một món qua như một thứ bửu bối, một thứ bùa hộ mệnh, … nhưng là chính Chúa Thánh Thần đồng hành vào dẫn dắt người tín hữu trên bước đường đời. Người ta không thể gọi được là yêu nếu như chỉ hứng khởi nhất thời, nếu như chỉ dựa trên nền tảng của sự hiệp nhất trong sự vật hoặc trong thân xác, trong tình cảm nhất thời hoặc trong những suy nghĩ hợp nhau.
3. Đón nhận con người toàn vẹn trong cuộc sống
Tình yêu trung tín, thể hiện trong một sự vững bền trên suốt hành trình cuộc đời, thực sự là
3.1 Đón nhận bản thân của nhau
3.2 Tình yêu được thể hiện cụ thể
3.3 Bước thăng trầm trong cuộc sống : đón nhận nhau như là những “người nghèo”
3.4. Bề dày nghĩa tình
4. Không phải là đánh giá theo một thang điểm
- Chia sẻ cuộc đời của nhau,
- Liên đới trách nhiệm, đặc biệt là dám liên lụy trong khó khăn
- Dám sống tình yêu như một cuộc phiêu lưu
Kết : Nền tảng Kitô giáo là “Đạo sống với”
- Lịch sử ơn cứu độ
- Tên gọi thứ hai của tình yêu : lòng nhân từ. Từ tình yêu kiểu con người, đến tình yêu vô điều kiện và đặc biệt là tình yêu tha thứ. Tha thứ 70 lần 7…
-
-
Thiên Chúa sáng tạo con người như một tinh thần hiệp nhất với thân xác. Trong chương trình sáng tạo ban đầu của Thiên Chúa, thân xác con người không phải là kẻ thù, không phải là mối hiểm hoạ luôn đe doạ con người, nhưng chính là phương tiện cần thiết để con người sống và thể hiện tình yêu. Nói cách khác, thân xác của mỗi người góp phần quan trọng để mỗi người có thể sống tình yêu một cách chân chính. Nhờ thân xác, mỗi người là mình một cách độc đáo, riêng biệt, và mỗi người có khả năng thể hiện tình yêu của mình một cách độc đáo riêng biệt. Một người nam khác một người nữ, một người Việt Nam khác với người Tây phương, một người lùn khác một người cao, một người mập khác một người ốm, một người mặt dài khác với người có mặt tròn. . . tất cả những yếu tố của thân xác ấy sẽ là những mảnh đất riêng phong phú để trổ sinh những bông hoa “không giống ai”, nhưng lại có nét đẹp riêng của mỗi bông hoa. Như thế, con người được kêu gọi diễn tả bản thân mình qua thân xác, thể hiện tình yêu dâng tặng của mình cho người khác qua thân xác. Thật là ngụy biện nếu ai đó cho rằng yêu chỉ để trong lòng, trong khi mà người ấy có điều kiện để diễn tả tình yêu của mình trong thân xác.
Hơn nữa, tình yêu diễn tả qua thân xác, theo quan niệm Kitô giáo, không phải là cấp độ thấp nhất của con người. Nhưng, một cách trái ngược lại, tình yêu được diễn tả cụ thể ở mức độ thân xác lại chính là điểm hoàn trọn của tình yêu. Chúa Giêsu luôn nhắc nhở người nghe Lời Chúa phải biết đem ra thực hành; và chính sự thực hành mới làm cho người con, dù ban đầu đã chối không nghe lời cha, nhưng rồi hối hận và đã thi hành lời cha, trở nên người thực sự thì hành ý muốn của cha. {Mt 21,28-32}.
Tuy vậy, thân xác luôn luôn là một cạm bẫy nguy hiểm đối với con người, vì con người luôn có nguy cơ giản lược tất cả ý nghĩa cuộc đời con người vào thân xác : chỉ tìm niềm vui của thân xác, lấy vẻ đẹp của thân xác làm quan trọng hơn vẻ đẹp tâm hồn, giản lược tấm lòng của con người vào quà tặng bên ngoài… Sự hiệp nhất ở mức độ thân xác, tự nó, không phải là một sự hiệp nhất trọn vẹn xứng với phẩm giá của con người.
Cuộc sống ở thế giới “có thời gian” luôn luôn là cuộc sống bất toàn trong một thế giới bất toàn. Bản chất của thế giới “có thời gian” là có sự qua đi, sự chấm dứt để nẩy sinh những cái mới và những tiến trình mới. Tính cách “qua đi”, tính cách phải bị “chấm dứt” ấy gắn liền với tất cả mọi thực tại của thế giới và của cuộc sống con người. Do đó, một trong những phẩm tính căn bản của người trưởng thành lại là khả năng chấp nhận cái tương đối, chấp nhận giới hạn của chính mình và giới hạn của người khác cũng như của thế giới chung quanh. Con người luôn là kẻ khao khát tuyệt đối, nhưng đòi hỏi tính chất tuyệt đối nơi một thế giới “có thời gian” lại là một đòi hỏi phi lý và đưa đến những tâm tình tuyệt vọng.
Tuy nhiên, lý trí không có tình yêu là một sự hiểu biết vô ngã và không đủ để đi đến gặp gỡ.