Tư Tưởng Của Friedrich Nietzsche Phá Đổ Hay Xây Dựng Tôn Giáo? (P1)

Giáo dân Công giáo · · Triết học Tôn giáo

‘Thượng Đế đã chết!’ là một câu nói rất nổi tiếng nhưng cũng rất “khó nuốt” của triết gia hiện sinh Friedrich Nietzsche. Thoạt nghe qua, có lẽ nhiều người sẽ nghĩ rằng Nietzsche là người phá đổ tôn giáo. Nhưng sự thực có phải như vậy hay không?Tác giả bài viết nỗ lực đi tìm câu trả lời cho vấn nạn này qua việc giải thích các hạn từ của Nietzsche, trình bày và phân tích những phê bình tôn giáo của Nietzsche cũng như trình bày “tôn giáo mới” của Nietzsche. Qua những bước như thế, tác giả bài viết đi đến việc nhận định và đánh giá về tư tưởng tôn giáo của Nietzsche.

Giáo sư hướng dẫn: Vũ Uyên Thi, S.J.

Học viên thực hiện: Đinh Văn Trọng, S.J.

Tháng 5 năm 2017

GIỚI THIỆU

Nhiều ý kiến cho rằng Friedrich Nietzsche là người đã phá đổ và triệt hạ hoàn toàn tôn giáo bằng những phê bình của ông. Nhưng cũng không ít người nhận ra nơi Nietzsche một con người trăn trở với tôn giáo, và ước vọng xây dựng một tôn giáo đúng nghĩa. Riêng Martin Heidegger khi bàn về Nietzsche thì cho rằng: “chúng ta chưa bao giờ đủ chín muồi, đủ trưởng thành để hiểu câu nói ‘Thượng Đế đã chết!’ của Nietzsche”. Một cách đọc vội vàng về Nietzsche dễ đưa đến những kết án bất công. Bài luận văn này là nỗ lực tìm hiểu về tư tưởng tôn giáo của Nietzsche, để qua đó thử xem Nietzsche đang phá đổ hay thực sự đang giúp ích cho việc xây dựng tôn giáo?

NIETZSCHE & THỜI CUỘC

Friedrich Nietzsche (1844-1900) được mọi người nhìn nhận là triết gia hiện sinh vô thần. Ông được sinh ra và hun đúc đức tin trong một gia đình Tin Lành đạo hạnh có lòng yêu mến Chúa từ nhỏ. Về sau này, chính Nietzsche bị ảnh hưởng về tinh thần tự do linh hứng của Tin Lành. Tức là, chính tôi hiểu Kinh Thánh theo những gì Chúa nói với tôi chứ không theo một huấn quyền nào. Tuy nhiên, ông chính thức rời bỏ đức tin Kitô giáo trong thời gian học tập ở trường đại học. Có thể, đại học là cơ hội để ông tiếp xúc với nhiều tư tưởng lớn, khi mà không còn bị “khuôn đúc” bởi những giáo thuyết cục bộ, nhưng mở ra với những suy tư phóng thoáng hơn. Lúc bấy giờ, Nietzsche tìm đọc các tác phẩm của những nhà tư tưởng lớn như: Arthur Schopenhauer, Wagner, David Strauss, Friedrich Albert Lange… Cả cuộc đời lẫn tư tưởng của Nietzsche sau này phần lớn ảnh hưởng từ triết gia Schopenhauer. Đọc tư tưởng của Nietzsche, người ta dễ nhận thấy ông là người thô kệch và ít tình cảm, nhưng Nietzsche cũng từng trải qua giai đoạn yêu đương mùi mẫn, hay những cơn bệnh thập tử nhất sinh. Điều ấy cho thấy, trong khi mở ra với các tư tưởng mới, Nietzsche cũng phần nào sống nỗi day dứt của con người hiện sinh.

Kế đến, bối cảnh của khoa học, chính trị và tôn giáo thời đó là một trong những nguyên do chính đưa Nietzsche đến những phê bình tôn giáo. Thế kỷ 19 và trước đó đánh dấu sự phát triển của khoa học kĩ thuật. Theo đó là cuộc đối diện và cả đấu tranh của Kitô giáo và khoa học về vấn đề chân lý. Chính trị ghi nhận các cuộc đấu tranh của quân đội Pháp, Đức và đồng thời mộng bá quyền bị lan rộng. Đánh chú ý hơn cả là bối cảnh tôn giáo. Kitô giáo đối diện với chủ nghĩa tự do chính trị. Trước đây, thay vì thần quyền có vị thế trên thế quyền, thì bây giờ các quốc gia có âm mưu biến hàng Giáo phẩm thành công cụ của chính quyền[1]. Nhiều quốc gia tuyên bố Công Giáo không còn là quốc giáo. Thêm vào đó, Công Giáo không những bị tấn công bởi thần học Tin Lành, mà còn bởi nhiều lớp tri thức khi đề cập về đức tin và khoa học.

Cuộc đời Nietzsche và thế cuộc bấy giờ cho ta thấy có đủ lý do để Nietzsche đi đến phê bình tôn giáo. Tuy nhiên, trong khi đọc các tác phẩm của Nietzsche, người ta dấy lên nhiều hoài nghi tôn giáo mà Nietzsche phê bình. Có ý kiến nói rằng, Nietzsche, do ảnh hưởng của Schopenhauer, đứng về phía Phật giáo để chỉ trích Kitô giáo. Hoặc ý kiến khác nói, Thượng Đế của Nietzsche thật khó hiểu, làm sao ông có thể “khai tử” một Thượng Đế “bất tử” ? Những thắc mắc ấy nằm trong giải thích về một số hạn từ chính được sử dụng trong bài luận văn này.

DẪN NHẬP

Hầu hết trong các tác phẩm của Nietzsche ít nhiều đều thấy bóng dáng của tôn giáo, đặc biệt trong hai tác phẩm chính Zarathustra Đã Nói Như Thế và Kẻ Phản Kitô. Để có thể triển khai tư tưởng Nietzsche về tôn giáo trong bài luận này, trước hết phải hiểu và khoanh vùng phạm vi tôn giáo và Thượng Đế mà Nietzsche sẽ bàn tới.

Hạn từ “tôn giáo”(religion) hiểu theo Nietzsche

Song song với vấn đề luân lý (morality), thì tôn giáo là chủ đề chung nhất của Nietzsche. Theo tư tưởng của Nietzsche, tôn giáo là một thể chế, và cơ bản hơn là một phương thức của đời sống (mode of life). Nó hoặc là cùng tồn tại với loài người, hoặc là một ý đồ chính trị của các tầng lớp giáo sĩ lập ra để dành cho những mục đích riêng của họ[2]. Khi Nietzsche phê bình tôn giáo, ông thường nhắm đến: Kitô giáo, Do thái giáo, Ấn giáo hay Phật giáo… Trong số đó Nietzsche chủ yếu phê bình Kitô giáo.

Cốt tuỷ của Kitô giáo hay bất kì tôn giáo nào khác được đi qua ba chặng: mặc khải (thánh kinh và thánh truyền) – huấn quyền (cách tôn giáo hiểu về mặc khải) – thực hành (cách giáo hữu hiểu về huấn quyền). Hiểu đúng mới có cơ may thực hành đúng. Thí dụ như nhiều nhóm phần tử Hồi giáo trở nên cực đoan khởi đi từ việc hiểu sai kinh Koran. Chủ trương tự do đọc hiểu Kinh Thánh của Tin Lành dẫn đến nhiều trường phái khác nhau trong Hội Thánh. Tuy được huấn quyền hướng dẫn, Kitô giáo cũng không tránh khỏi những cách hiểu sai chân lý đức tin, dẫn đến thái quá trong lối sống đạo. Những phê bình của Nietzsche chỉ bắt đầu ở chặng cuối (phê bình lối sống), tức là chỉ tập trung vào lớp vỏ bên ngoài của Kitô giáo chứ chưa đi vào trong cốt tuỷ.

Hạn từ “Thượng Đế”[3] (God or gods) hiểu theo Nietzsche

Trong tư tưởng của mình, khi nói về tôn giáo, Nietzsche đề cập nhiều đến Thượng Đế. Ngoài ra, ông cũng liên hệ đến các thần minh khác của người Hy Lạp. Thượng Đế hay các thần minh đó đều là những đối tượng thờ phượng của tôn giáo, mà theo Nietzsche, nó chỉ là phóng chiếu của những nhu cầu của con người mà thôi[4]. Đối với các tôn giáo, cách riêng là Kitô giáo, đó là những nhu cầu yếu đau, bệnh tật, trả thù[5]. Nietzsche cho rằng, các tôn giáo suy tôn Thượng Đế là độc thần (monotheism) thì đáng nguy hiểm hơn cả. “Đức tin độc thần (như một Chúa duy nhất) là một tội ác chống lại cuộc sống”[6]. Có lẽ bởi vì độc thần thường dễ gắn liền với độc đoán hơn là đa thần.

Câu nói nổi tiếng của Nietzsche: “Thượng Đế đã chết” không có nghĩa rằng Nietzsche tin vào một Thượng Đế thực, người tồn tại đầu tiên và nay đã chết theo nghĩa đen, nhưng Thượng Đế không còn là nguồn gốc của vòng xoay ý nghĩa và luân lý. Con người trở nên những “người vô thần thực tiễn”, đức tin chỉ còn trên danh nghĩa, các thực hành niềm tin bị kéo ra khỏi đời sống hiện sinh. Nietzsche tin rằng, hầu hết người ta không nhận ra cái chết này ngoài cảm giác sợ hãi và lo lắng sâu thẳm chế ngự tâm hồn. Vì vậy, khi cái chết này được thừa nhận rộng rãi, con người sẽ thất vọng và chủ nghĩa Hư vô[7] sẽ lan tràn. Đây là lý do mà Nietzsche nhìn Kitô giáo như thực hành của hư vô chủ nghĩa.

Lý do Nietzsche phê bình tôn giáo

Là một triết gia quan tâm đến cái gì đó hiện sinh, Nietzsche lấy các giá trị hiện sinh làm nền tảng. Trái lại, Kitô giáo lấy những giá trị siêu việt (thuộc mặc khải đức tin) làm chuẩn mực cho đời sống con người. Cũng như các triết gia duy vật, với một giọng điệu hùng hồn, Nietzsche chỉ trích tôn giáo là nhu nhược, và là sản phẩm của con người bệnh tật, hèn yếu… vì không thể hưởng những giá trị đích thực của đời này, nên mới tạo ra những giá trị của đời sau.[8] Phê bình tôn giáo của Nietzsche khởi đi từ câu nói nổi tiếng: “Thượng Đế đã chết”. Sự ra đi của Thượng Đế đã làm sụp đổ các nền tảng của Kitô giáo. Đã đến lúc con người được quyền tháo bỏ những quan niệm niềm tin đè nén con người bấy lâu nay. Không ai có thể nhân danh bất cứ một cái gì đó không có mặt trên trần gian để phán quyết con người trừ chính bản thân con người. Với tư cách là “triết gia với cây búa tạ”[9] và mục đích “thúc đẩy nhân loại đi đến quyết định về tương lai”, Nietzsche đã lật đổ tất cả quan niệm của Kitô giáo về con người, vũ trụ và nhân sinh.

PHÊ BÌNH CỦA NIETZSCHE VỀ TÔN GIÁO

“Hãy trung thành với mặt đất”

Phần dẫn nhập đã cho thấy phần nào ý định của Nietzsche dành cho Kitô giáo. Vì ngay mở đầu tác phẩm Zarathustra Đã Nói Như Thế rất nổi tiếng của mình, Nietzsche cho thấy sứ mạng của mình (ngang qua nhà tiên tri Zarathustra) là đi thức tỉnh thời đại đang ngủ mê bởi các giáo lý mà ông cho là bệnh hoạn. Ông chỉ cho thấy cách thực hành đức tin đang kéo con người xa rời trách nhiệm với đời sống hiện sinh. Thế nên, nhiệm vụ của Zarathustra, trong khi rao giảng về Siêu Nhân thì đồng thời loại bỏ tất cả những thù nghịch và chướng ngại của nó. “Hãy trung thành với mặt đất”[10] là lời van xin của Zarathustra dành cho những người đang ảo tưởng bởi những lời lẽ truyền dạy về những hy vọng lững lờ trên trời. Lời lẽ gay gắt của Zarathustra cho rằng, kẻ nào không trung thành với mặt đất là kẻ sống thừa, thà nó đừng sinh ra thì hơn. Cũng trong tác phẩm, Nietzsche triển khai phê bình Kitô giáo qua bốn điểm chính: (a) Đức hạnh Kitô giáo “ru ngủ” con người; (b) Những ảo tưởng về cõi bên kia; (c) khinh miệt thân xác; (d) Rao giảng về sự chết.

Đức hạnh Kitô giáo “ru ngủ” con người

Đức hạnh (virtue) gắn liền với cả con người hiện sinh hay tôn giáo. Người có đức hạnh là người sống ôn hòa và bình an, lấy nhu thắng cương. Đồng thời, người đức hạnh xa tránh tội lỗi, lòng tham hay thù ghét không những bên ngoài nhưng cả trong ước muốn nội tâm. Nietzsche đã chỉ ra căn bệnh của đức hạnh Kitô giáo: “ru ngủ” con người. Giấc ngủ được tôn vinh nơi “tòa giảng về đức hạnh” của các giáo sĩ trong Zarathustra Đã Nói Như Thế. Người ta tìm đến với đức hạnh chỉ để tìm kiếm một giấc ngủ ngon, không mộng mị. Khi ấy đức hạnh không còn được yêu mến vì chính nó, nhưng bị lạm dụng như là công cụ cho mục đích riêng của con người. Mục đích riêng của con người là ham muốn phần thưởng của Đức Hạnh như hạnh phúc cõi thiên đàng[11], thích sự êm dịu của đức hạnh đến nỗi không dám đối diện với thực tế đau thương. Hay nói cách khác, ước muốn đức hạnh hãy còn là ước muốn được đền bù, trả công cho đức hạnh của mình.

“Hỡi những con người đức hạnh! Các ngươi hãy còn muốn được đền bù, trả công! Các ngươi muốn được tưởng thưởng cho đức hạnh mình, muốn có trời cao thay cho mặt đất và vĩnh cửu thay cho hiện tại của các ngươi? Giờ đây các ngươi thù ghét ta vì ta rao dạy rằng chẳng có phần thưởng cũng như đấng đứng ra ban thưởng?”[12]

Qua trích đoạn trên đây, phải chăng Nietzsche đang ám chỉ tới “Bài giảng Bát Phúc” trong Tin Mừng: “Phúc cho ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.”[13] Tức là, ở hiền lành để nhận được Đất Hứa. Hay ở mối phúc sau cùng, Đức Giêsu nói: “Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa…phần thưởng dành cho anh em ở trên Trời thật lớn lao.” Vì vậy, theo Nietzsche, người Kitô hữu thực hành mối phúc để chuộc lợi. Thế nhưng, Kinh Thánh và những lời truyền dạy của Đức Giêsu luôn giả thiết người nghe một nền tảng lòng tin và lòng mến. Trước tiên, người Kitô hữu sống đức hạnh dựa vào lòng tin. Họ tin vào Đấng mời gọi họ kết hiệp với Ngài ngang qua đức hạnh. Khi ấy, đức hạnh có một giá trị cao quý, giá trị của gặp gỡ. Sau cùng, người Kitô hữu sống đức hạnh bằng lòng mến Chúa nơi một nhân vị đầy tự do. Lòng mến Chúa cũng như câu nói nổi tiếng của thánh Âu tinh: “hãy yêu đi rồi muốn làm gì thì làm.” Khi yêu mến Chúa, con người tự nguyện sống các đức hạnh của mình. Tương tự, khi thương mến con người, Thiên Chúa cũng tự do ban tặng cho con người những điều tốt đẹp (các mối phúc). Hơn nữa, cũng như Aritotle, Kitô giáo quan niệm đức hạnh là con đường đưa tới hạnh phúc (Thiên Chúa).

Tuy nhiên, điều Nietzsche chỉ ra không phải bản chất của đức hạnh (vì chính Nietzsche thừa nhận đức hạnh là tốt) nhưng là những nguy cơ của đức hạnh Kitô giáo. Nguy cơ của những thực hành đức hạnh của người Kitô giáo rất dễ trở nên những hành vi quy kỉ. Chúa Giêsu cũng nhìn thấy điều ấy khi Ngài kể về Người Pharisêu và Thu Thuế của Tin Mừng Luca, người Pharisêu liệt kê một chuỗi các việc lành mình làm, trong khi chà đạp nhân phẩm người thu thuế bằng chính đức hạnh của mình. Chúa Giêsu đã kết luận: “người Pharisêu thì không được nên công chính” bởi vì ông ta đã được lãnh phần thưởng của riêng ông là sự cầu an, tìm mình và khinh miệt người khác, mà Nietzsche gọi đó là sự trả thù. Nietzsche chỉ trích thậm tệ những kẻ dùng đức hạnh khinh chê người khác: “Họ muốn đâm vỡ mắt những kẻ thù bằng đức hạnh của mình, và họ chỉ vươn cao lên để hạ thấp những kẻ khác.”[14] Những tiêu cực ấy khiến Nietzsche suy nghĩ nhiều về động lực mà người ta sống đức hạnh của mình: “Các người yêu đức hạnh của mình như người mẹ yêu con; nhưng có bao giờ người ta nghe một bà mẹ muốn được trả tiền thưởng cho tình yêu của mình?”[15] Ông cho rằng đức hạnh cần được yêu mến một cách vô vị lợi. Tương tự như lời giảng của Đức Giêsu: “khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm.”[16] Nếu hiểu cho đúng, đức hạnh Kitô giáo không phải để quy về mình hay tìm kiếm phần thưởng, nhưng hướng về Thiên Chúa bằng sự dâng hiến tự nguyện và trọn vẹn trong tình yêu.

Thêm vào đó, Nietzsche liên tục chỉ ra nhiều lối sống đức hạnh tiêu cực khác trong đời sống Giáo Hội. Ông cho rằng, đức hạnh Kitô giáo không chỉ là mong muốn phần thưởng, nhưng còn sợ hãi hình phạt, khiến người ta buộc phải chọn đức hạnh: “Đức hạnh cốt ở chỗ quằn quại hình hài dưới những ngọn roi, những chiếc phanh của những bánh xe đang trên đà trượt dốc.”[17] Vì mong cho được đức hạnh, người ta đành mang vác những yếu đuối và giới hạn của con người “với hàm răng nghiến chặt”[18]. Tức là, trong Giáo Hội không thiếu những người sống đức hạnh như là một gánh nặng phải mang vác, thiếu tự do và lòng mến. Theo Nietzsche, “sống đức hạnh thiếu tự do” cũng tương tự như những người sau khi la liệt trong tội lỗi và đau khổ, mới nhìn về Thượng Đế với một tinh thần căng thẳng[19]. Chắc có lẽ Nietzsche chưa nhìn thấy một dấu hiệu tốt của sự sám hối như là một sự “giằng co”. Xét cả về tâm lý lẫn thiêng liêng, nếu tội nhân thiếu đi những xung động hay bối rối lương tâm, thì khó có thể trở về sống theo chân-thiện-mỹ. Nhưng dù sao đi nữa, cũng như Nietzsche, con người hiện sinh cần vươn lên cả phần thưởng hay hình phạt để sống trong tự do. Hoặc như thánh Têrêsa Hài Đồng nói: “Tôi sẵn sàng xuống hoả ngục, nếu ở đó có Chúa.” Nghĩa là tôi yêu Chúa không phải vì thiên đàng hay hoả ngục, tôi yêu Chúa vì chính Chúa.

Chưa dừng lại ở đó, Nietzsche tiếp tục chỉ ra những thái độ kém hiểu biết về đức hạnh của nhiều nhóm Kitô hữu. Có nhóm thực hành đức hạnh như hành vi nửa mùa, và “đức hạnh chỉ là sự lười biếng của những tật xấu nơi họ.”[20] Nhóm khác sống một cách máy móc giống như “chiếc đồng hồ quả lắc bị người ta lên dây cót sẵn.”[21] Nietzsche thấy đáng buồn hơn với những kẻ cho rằng đức hạnh là sự dửng dưng với thời cuộc, gió ngả chiều nào theo chiều ấy. Hoặc là có nhiều kẻ thực hành đức hạnh chỉ ở những điệu bộ bên ngoài, trong khi cũng không thiếu những người sống đức hạnh chỉ trên môi miệng, họ kêu lớn: “đức hạnh là cần thiết” nhưng “ngôn hành bất nhất”. Có nhóm vì không biết gì về đức hạnh nên bèn gọi những thấp hèn là đức hạnh. Nhóm khác muốn nghe biết và được giáo huấn về đức hạnh nên cũng tự nhận mình là đức hạnh. Chắc chắn, không riêng gì Nietzsche mà bất kì ai cũng có thể nhìn thấy những cực đoan ấy trong các tôn giáo, không riêng gì Kitô giáo.

Qua đây càng cho thấy rõ hơn Nietzsche đang phê bình lối sống và thái độ đức tin (chặng thực hành) hơn là chính đức tin. Có lẽ, tự bản chất, Đức Tin không chủ trương những thái độ tiêu cực, nhưng đó lại là thực tế của việc sống đức tin? Con đường từ “biết – hiểu – sống” đức tin là cả một con đường dài. Cũng như, chân lý tự nó không thể nào sai lầm, việc chọn một lăng kính hay cách giải thích về đức tin có thể dẫn đến sai lầm. Cùng là mặt trăng, nếu nhìn dưới mặt nước, qua khe cửa, bằng mắt thường hay bằng kính thiên văn đều cho thấy những cái nhìn khác nhau về trăng. Điều quan trọng hơn cả là động lực nào hay đam mê nào (nếu nói như Nietzsche) để tôi dấn thân. Cả Nietzsche và Kitô giáo điều nhìn nhận động lực sống đức hạnh là quan trọng, nhưng sự khác biệt chính yếu của cả hai đó là: Nietzsche chủ trương thực hành và yêu mến đức hạnh vì chính đức hạnh; riêng Kitô giáo đi xa hơn, sống đức hạnh vì lòng tin và lòng yêu mến Thiên Chúa, vì Ngài là chân-thiện-mỹ (vượt lên trên cả đức hạnh con người).

Những ảo tưởng về cõi bên kia

Không chỉ đức hạnh bị lạm dụng, mà còn sự sống đời sau của Kitô giáo, với Nietzsche, cũng bị xem như liều thuốc độc. “Đau khổ và bất lực, đấy là cái đã tạo nên những cõi-bên-kia”[22]. Như đã biết, theo Nietzsche, tôn giáo là phóng chiếu các nhu cầu của con người. Cụ thể, con người ảo tưởng về cõi bên kia để né tránh đối diện với những khổ đau kiếp này. “Đối với kẻ đang chịu đựng thống khổ, quả là một niềm vui ngây ngất khi được rời mắt khỏi nỗi khổ đau và được tự quên lãng mình.”[23] Giống như trong tâm lý, khi gặp một căng thẳng hay một cú sốc cực độ, người ta phải tìm cách trốn chạy thực tại phũ phàng ấy: hoặc là tâm thần, hoặc là tự tử. Cũng vậy, trong đời sống tâm linh, để chữa lành những thất vọng đang tràn trề trong tâm hồn, con người tự chế cho mình một liều thuốc giảm đau bằng những mơ tưởng xa rời thực tế. Cũng như Plato khi quan niệm thế giới khả giác này chỉ là phóng ảnh của thế giới linh tượng, Kitô giáo cũng xem trần gian này là tạm bợ, đời sau mới là cõi phúc vĩnh cửu. Thậm chí, như trong Zarathustra cho thấy, các Kitô hữu được dạy phải bóp nghẹt lý trí, thỏa hiệp với lương tâm trước những “cám dỗ” mách bảo họ sống cho thế giới vật chất này.

Hãy để cho thế giới là thế giới. Đừng nhích động dẫu là một ngón tay chống lại nó! Hãy để dân chúng bị siết cổ, bị cắt họng, bị đối xử bạo ngược, bị lột da bởi những kẻ nào muốn làm thế: đừng nhích động dẫu là một ngón tay để cản ngăn điều đó. Như thế, họ sẽ học biết khước từ thế giới. Lý trí của mi, mi phải nhai nuốt, bóp nghẹt nó đi; bởi lý trí ấy thuộc về thế giới này. Như thế, mi sẽ học biết khước từ thế giới![24]

Tuy nhiên, đâu phải chỉ có những người nghèo hay bất hạnh mới nghĩ đến cõi-bên-kia, cả những người giàu có, tài giỏi, những hàng vua chúa cũng mơ về cõi vĩnh cửu. Tâm lý học của Abraham Maslow cũng công nhận, sau khi vượt qua các nhu cầu căn bản, con người hướng đến nhu cầu siêu vượt (nhu cầu lớn nhất). Vì thế, nếu Nietzsche chỉ xem tôn giáo là công trình của những người nghèo, kém cỏi thì quả là một nhận xét còn nhiều hàm hồ.

Theo Nietzsche, bất kì sự sống nào, dù ngắn dù dài, cũng đều bắt đầu trên mặt đất này. Sự sống là tôi, nên tôi không thể chối bỏ chính mình được. Cõi-bên-kia chỉ là những hy vọng lững lờ và bất khả tri. Vì nó được cho là cõi vô hạn nên người đời dễ phủi chân với cõi hữu hạn này.

Hỡi những người anh em, ta van xin các ngươi, hãy trung thành với mặt đất và chớ có tin những kẻ nói với các ngươi về những hy vọng lững lờ bên trên mặt đất! Họ là những kẻ đầu độc, dẫu họ có ý thức điều đó hay không. Họ là những kẻ khinh miệt đời sống, những kẻ hấp hối và cũng chính là những kẻ bị đầu độc, mặt đất đã quá mỏi mệt chán chê họ: họ hãy cút đi cho khuất mắt!

Xưa kia, báng bổ Thượng Đế là lời báng bổ nặng nhất, nhưng Thượng Đế đã chết và cũng chết theo Thượng Đế là những kẻ báng bổ ấy. Giờ đây, điều đáng kinh khiếp hơn nhiều, là báng bổ mặt đất và coi trọng ruột rà của cái bất khả thấu nhập hơn ý nghĩa, chiều hướng của mặt đất.[25]

Không chỉ riêng Nietzsche mà các triết gia duy vật thời cận đại cũng thấy những điều tương tự vậy. Denis Diderot (1713 – 1784), một triết gia Pháp từng cho rằng: “Địa Ngục, Thiên Đường quá xa xôi, trong khi những cái cần cho sự sống lại ở ngay trước mặt”[26], hay “Chúa của những người Kitô giáo, đó là những người cha chỉ biết coi trọng những đám mây chứ không lưu tâm gì đến những đứa con của ông ta đang hiện hữu trên mặt đất”[27]. Với Baron Holbach (1723 – 1789), “thoát ly cuộc sống trần thế, con người trở thành kẻ ở nhờ trong ngôi nhà của chính mình.”[28] Cả Nietzsche và các triết gia duy vật đều nhắm đến trách nhiệm của con người trong ngôi nhà trái đất của mình. Vì Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ và sự sống dành riêng cho con người, nên sống là trách nhiệm của họ. Mọi thái độ bê trễ, vô trách nhiệm đều là phản nghịch lại ý định của Thượng Đế.

Tuy vậy, “thế gian” mà Kitô giáo muốn tìm cách thoát ly có thực sự cực đoan như vậy không? Đành rằng trong Giáo Hội xuất hiện những nhóm người đang thực hiện tinh thần “ngày tận thế”, bỏ nhà cửa và sự nghiệp chỉ để ăn chay cầu nguyện mong chờ ngày Chúa đến lần cuối. Có thể, những nhóm này hiểu sai điều thánh Phaolô rao giảng về ngày cánh chung, khi ngài cho rằng Nước Thiên Chúa đã gần kề và kêu gọi mọi người ăn năn sám hối. Lời rao giảng về Nước Trời (cõi-bên-kia) hay Ngày Tận Thế (sẽ đến bất ngờ) là để cho Kitô hữu biết sám hối và sống tốt theo Tin Mừng. Mọi lý tưởng đều có một cánh cửa hi vọng để phấn đấu. Chẳng có gì bất công và nghịch lý cho bằng cả cuộc đời miệt mài xây dựng cho hư vô. Phật giáo qua nhiều kiếp tu luyện cũng mong mỏi được vào niết bàn. Cả đến Siêu Nhân của Nietzsche cũng mang niềm hi vọng tiếp tục vòng xoay hiện sinh trong Quy Hồi Vĩnh Cửu. Vì vậy, Thiên Đàng là niềm hi vọng của người Kitô hữu, hi vọng được nên một với Đấng họ yêu mến. Hơn nữa, Giáo hội từ bao đời nay vẫn thiết tha với cuộc sống hiện sinh của con người, hướng đến những con người nghèo khổ bất hạnh, chống lại những bất công xã hội… Thật vậy, “thế gian” mà Giáo hội dạy Kitô hữu loại trừ chính là chủ nghĩa hưởng thụ, tham lam và tàn nhẫn. Hay nói cách khác, “thế gian” là những gì thuộc thế lực đen tối, đã đi vào trong thế giới từ tội nguyên tổ A-đam và E-và.

Nói cho cùng, cả Giáo Hội hay Nietzsche đều chủ trương rằng, con người không thể nhảy một bước đến cái tận cùng, vì họ sẽ nhận lấy một cú té thật đau đớn và rơi vào vô vọng. Có biết bao gương sáng Kitô hữu, là những thánh nhân như Têrêsa Hài Đồng hay Phanxicô Át-si-di, đã can đảm sống cuộc đời đau khổ hiện sinh này. Những người hùng ấy xem hiện sinh đau khổ như của lễ hi sinh dâng lên Chúa, Đấng mà họ rất mực yêu mến. Chỉ khác rằng, hiện sinh với Nietzsche là cùng đích, còn Kitô giáo chỉ xem như con đường dẫn đến cứu cánh là Thiên Chúa.

Khinh miệt thân xác

Khởi đi từ ước vọng về cõi-bên-kia, Kitô hữu xem cuộc sống này là tạm bợ và trần tục, và biểu trưng của cuộc sống trần thế là thân xác. Cho mãi đến thế kỷ 18, nhiều trường phái thần học vẫn cho rằng thân xác dục vọng là cội rễ sinh ra mọi thứ tội lỗi, thế nên cần phải trừng phạt thân xác bằng cách đánh tội hay hành hạ nó. Lịch sử Giáo hội thời Trung cổ ghi nhận những cuộc thi hành án, hành xác, và những đoàn-đánh-tội đến ghê rợn, đặc biệt là nơi các dòng tu của Giáo hội bấy giờ. Hơn nữa, do chịu ảnh hưởng thuyết nhị nguyên của Plato, Thánh Âu-tinh đã chủ trương xem con người là xác và hồn, đồng thời coi thân xác này chỉ là tạm bợ còn linh hồn mới là vĩnh cửu. Nếu xem đời này hay thân xác chỉ là “tạm bợ” thì cũng đồng nghĩa với việc nó không đáng sống, hoặc ít được quan tâm. Cũng có nhiều người chủ trương rằng, con người là tổ hợp của “phần con” và “phần người”. Phần con thuộc về thân xác và ham muốn, nhiều khi không vâng lệnh lý trí, tức phần người. Do vậy, đôi khi người ta cũng phải dùng hình phạt cho “những con vật” cứng đầu. Thêm vào đó, nhiều ý kiến cho rằng Kitô giáo dùng phạt xác hay đánh tội là để chê ghét điều xấu xa tội lỗi, cho nên những việc làm đó là hữu ích.

Quan điểm của Nietzsche ngược lại hoàn toàn. Thân xác mới là đáng quý, vì con người sống bằng thân xác, tư duy bằng thân xác, và sự gặp gỡ giữa người với người bằng thân xác. “Tôi là xác và hồn”[29], Nietzsche đã nhấn mạnh điều ấy như một chân lý vững vàng, đến độ một đứa trẻ còn phát ngôn được như vậy[30]. Linh hồn chỉ là một chữ dùng để chỉ về thân xác, và mọi lý trí hay tinh thần chỉ là khí cụ của thân xác mà thôi. Do vậy, kẻ kinh chê thân xác là kẻ đang báng bổ vào chính mình.[31] Hoặc kẻ nào chối bỏ thân xác kẻ ấy đang chối bỏ chính mình. Để khẳng định thêm về xác hồn hợp nhất, Nietzsche biện luận rằng: “Thân xác là tôi khi hiện hữu, và nó là tôi khi hành động; hay tôi không phải là người (là hữu thể người) nếu tôi không có thân xác.” Thân xác ấy chính là tự-ngã[32]. Tự ngã xuất hiện trước và là chủ nhân của bản-ngã. Nietzsche còn nhấn mạnh thêm, nếu thân xác không khỏe mạnh thì không thể có tư duy minh mẫn. Linh hồn là một đại lượng phiếm chỉ, trong khi thân xác luôn có một cái tên, cái họ. Kitô giáo dạy người ta cái chết bắt đầu bằng sự ra đi của linh hồn, nhưng sự thật, bao giờ sự chấm dứt hiện hữu của một kiếp người cũng bắt đầu từ thân xác. Vì vậy, nếu đem ra để so sánh thì thân xác phải trọng hơn linh hồn. Thiên Chúa đã tạo ra con người, ban cho con người thân xác, chẳng lẽ Ngài lại khinh chê ngay sản phẩm do chính mình sáng tạo nên sao?

Đành rằng việc khinh miệt thân xác là một điều đáng lên án, nhưng lối giải thích của Nietzsche dễ đưa đến việc “tôn sùng thân xác” quá đáng. Đúng là thân xác thể lý là những biểu hiện tỏ tường của đời sống con người, nhưng nó cũng gắn liền với các nhu cầu thể lý, dục vọng. Niezsche nói rằng “một tinh thần cường tráng nhờ một thân xác khỏe mạnh”, nhưng cũng có thể nói ngược lại “một thân xác lành mạnh nhờ một tinh thần thanh tao.” Nhiều bạn trẻ ngày nay, do nuông chiều thân xác theo ham muốn, đã giản lược tình yêu thành tình dục. Có lẽ, cả Kitô giáo hay Nietzsche cần trả về một thái độ trung dung cho thân xác và linh hồn. Cả thân xác và linh hồn cần phải phấn đấu và tôn vinh những giá trị cao đẹp trong con người. Người Kitô hữu thay vì phạt xác nặng nề, có thể hãm dẹp những tham lam và ham muốn của thể xác, nghĩa là không khước từ những nhu cầu căn bản nhưng không nuông chiều chúng thái quá.

Kế đến, trong Kinh Thánh có dạy rằng, cần xem thân xác là linh thánh: “Anh em lại chẳng biết rằng thân xác anh em là Đền Thờ của Thánh Thần sao?”[33] Vì vậy, thân xác không bao giờ là xấu xa, vì là tặng phẩm tốt đẹp của Thiên Chúa dành cho con người. Xúc phạm tới thân xác là xúc phạm tới chính Thiên Chúa. Hơn nữa, trong quan điểm của Giáo Hội, nhất là sau Công đồng Vaticanô II, thân xác được xem là thánh thiêng bởi vì chính Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa đã xuống thế mang lấy thân xác yếu hèn của con người; và chính Ngài đã biến đổi thân xác ấy thành thân xác phục sinh.

Sau cùng, người ta cũng cần phân biệt giữa thân xác và tội lỗi. Tội lỗi không phải là của thân xác, nhưng là của con người. Con người phạm tội là cả xác và hồn đều tham dự. Cho nên, trong Linh Thao của Thánh I-nhã, để chừa tội lỗi (gây ra do dục vọng), ngài mời gọi thao viên không những chế ngự phần xác (tức là hãm dẹp những hành vi nào thái quá theo phương pháp làm ngược lại [agere contra]) mà còn tham dự cả phần tâm trí (tức là hướng tâm trí về lòng mến Thiên Chúa với quyết tâm chừa bỏ). Như vậy, thay vì khinh miệt thân xác, con người phải khinh miệt tội lỗi cùng như thói hư tật xấu mới đúng.

Rao giảng sự chết

Cũng giống như cõi-bên-kia và khinh miệt thân xác, rao giảng sự chết là rao giảng về sự tuyệt vọng nơi những gì con người đang xây dựng trên trần gian này. Con người đối diện với một sự thật phũ phàng, cả đời vất vả ngược xuôi lo cho sự nghiệp công danh, vật lộn với thân phận khắc khổ, cuối cùng thì cũng phải chết. “Kẻ nào còn bám víu vào đời sống là một tên điên khùng.”[34] Đối với Kitô giáo, cái chết là một kết thúc bất công dành cho những kẻ bám lấy đời tạm, chỉ biết lo tìm kiếm vơ vét cho bản thân. Nietzsche cho rằng, những người Kitô hữu nhìn về cái chết cách bi quan như vậy, nhất là khi gặp người già hay xác chết, họ thường thốt lên: “đời sống bị khước từ.”[35] Con người thấm nhập lý thuyết về sự-chết là người ít ràng buộc với đời sống hơn, họ cho rằng “cuộc đời toàn là đau khổ”[36], thậm chí họ tránh xa cả những nhu cầu căn bản của con người như “sinh đẻ con cái”[37] vì coi đó là khoái lạc nhục thể. Ngay cả Phật giáo cũng chủ trương “đời là bể khổ, tất cả là hư vô trước sự chết”.

Đối với Nietzsche, rao giảng về sự chết hay rao giảng về đời sống vĩnh cửu chỉ là một. Nó xuất phát từ hiện tượng tâm lý của bản năng sinh tồn: “ham sống sợ chết”. Con người ngập tràn nỗi sợ hãi về sự chết nên phải ảo tưởng về sự sống vĩnh cửu để tự chữa lành mình. Kết quả cho thấy, họ trốn tránh trách nhiệm với cuộc sống của mình, sống thụ động, hay sống cho qua ngày đoạn tháng. Nietzsche gọi những người này là “những kẻ đã chết ngay khi còn đang sống”, “những quan tài biết đi.”[38]

Nhưng có khi nào sự chết lại trở nên ý nghĩa cho sự sống ? Con người được sinh ra, thì cũng báo hiệu họ sẽ phải chết đi. Sự chết có giá trị của nó. Sự chết biểu hiện tính giới hạn mong manh của kiếp sống người. Sự chết trở nên vô nghĩa nếu nó không phải là cánh cửa hi vọng bước vào một thế giới mới. Sự chết ngăn cách giữa thế giới hữu hạn (thế gian) và thế giới vô hạn (thực tại vĩnh cửu). Thế giới vô hạn trở nên ý nghĩa nhờ sự chết; đồng thời sự chết có ý nghĩa nhờ thế giới hữu hạn. Do vậy, bất kể đời sau hay sự chết sẽ chẳng có nghĩa lý gì nếu con người hiện sinh không thành-toại chính mình (nghĩa là sống kiếp người trọn vẹn với tự do và lý tưởng). Vì thế, người Kitô hữu đích thực nhìn vào sự chết bằng tinh thần lạc quan vì tin vào sự sống phục sinh. Hiện sinh là để người Kitô hữu thành-toại ơn gọi của mình trước giờ chết.

Luân lý Kitô giáo là “luân lý nô lệ”

Theo Nietzsche, tôn giáo không chỉ làm người ta thụ động và nhu nhược, nhưng tính giáo điều của nó còn bóp nghẹt đời sống của con người Siêu Nhân. Nietzsche cho rằng: “Kitô giáo trong tư cách giáo điều đã bị làm cho tàn lụi bởi chính nền luân lý của nó…”[39] Ông coi luân lý Kitô giáo là công cụ quyền lực trong tay những kẻ yếu đuối. Giáo sĩ là tác giả của các bộ luật luân lý, vì theo ông, các tôn giáo được thành lập bởi một “sự dối trá thánh thiện (holy lie)”, một sản phẩm của giáo sĩ (như sẽ trình bày ở phần sau). Họ điều kiện hóa tín hữu bằng các luật luân lý, thêm vào đó là gia tăng quyền lực của mình. Theo Nietzsche, “sự dối trá thánh thiện” của giáo sĩ sáng tạo: (1) một Thiên Chúa thưởng phạt, Đấng quan sát cẩn thận những cuốn sách luật của họ; (2) một đời sống bên kia có thưởng phạt; (3) một lương tâm; (4) một bộ luật luân lý; (5) và một đức tin bất-khả-ngộ của tín điều. Vì vậy, đối với Nietzsche, luân lý Kitô giáo không làm cho các cá nhân phát triển, thay vào đó là sự suy yếu và khước từ đời sống.

Trong cuốn Bên Kia Thiện Ác, Nietzsche nhận định có hai nền luân lý khác hẳn nhau: Luân lý ông chủ và Luân lý nô lệ. Nietzsche coi Kitô giáo là luân lý nô lệ, trong khi luân lý ông chủ thuộc về Siêu Nhân. Luân lý ông chủ có nghĩa là “cao thượng”, hùng mạnh và tập trung quyền lực. Vì thuộc giai cấp thống trị nên là kẻ sáng tạo và quyết định các giá trị. Họ không cần tìm ở bên ngoài sự tán thành các hành vi của mình. Luân lý ông chủ tự phán đoán về chính họ. Ngược lại, luân lý nô lệ phát sinh với những yếu tố thấp kém nhất trong xã hội. Họ là tầng lớp bị lạm dụng, bị đàn áp, nô lệ, và là những kẻ không chắc chắn về bản thân mình. Đối với nô lệ, “tốt” là biểu tượng cho tất cả những đức tính giúp làm nhẹ đời sống đau khổ của con người, như “sự cảm thông, sẵn sàng giúp đỡ, sự nồng nhiệt, kiên nhẫn,…” Nietzsche xem luân lý nô lệ này chẳng khác nào chủ nghĩa vị lợi, tức là cái gì tốt và có lợi cho những kẻ yếu đuối. Vì thế, tất cả những gì gây ra sợ hãi đều là “xấu” với luân lý nô lệ. Ngược lại, luân lý ông chủ coi người “tốt” là người gây lên sự sợ hãi[40].

Nietzsche phản đối luân lý Kitô giáo vì nó chấp nhận giá trị thô thiển của “bầy đàn”. Ông tin Kitô giáo là “mưu đồ” ý thức và vô thức để tự bảo toàn chính mình của tầng lớp nô lệ. Tinh thần “yêu mến kẻ thù” chỉ là một chính sách giả tạo để tự duy trì sự nhu nhược của nô lệ. Nhưng thực ra, kẻ thù lớn nhất của Kitô giáo, tức là thứ luân lý nô lệ, chính là tầng lớp thống trị (luân lý chủ ông). Đơn cử như trường hợp của Luther (nhà cải cách Tin Lành) bị coi là kẻ tội lỗi xấu xa và lầm lạc khi đứng lên chống đối lại những tín điều của Giáo Hội. Sự phẫn hận và trả thù ăn sâu vào tinh thần bầy đàn, cho những gì độc lập, cai trị và quyền lực đều là xấu xa.

Vì thế, Nietzsche chủ trương phải vượt lên thiện và ác, tức là phải vượt lên thứ luân lý bầy đàn đang thống trị của Kitô giáo, phải đánh giá lại mọi thứ luân lý đã có. Đánh giá lại các giá trị không phải là đưa ra các giá trị mới, nhưng là sự đảo lộn các giá trị trở lại. Vì thế, Nietzsche cho thấy cái mà người ta gọi là “tốt” hoàn toàn không phải là đức hạnh, và cái người ta coi là chân lý chỉ là sự ngụy trang của tính ích kỷ và sự yếu đuối mà thôi. Cho nên, Kitô giáo là sự sáng tạo khéo léo của các vũ khí tâm lý để giúp người lùn thuần hóa các gã khổng lồ tự nhiên. Một khi sự ngụy trang này bị gỡ bỏ khỏi nền luân lý Kitô giáo, các giá trị đích thực sẽ xuất hiện.

Nguồn: https://sjjs.edu.vn/

Xem tiếp Phần 2

[1] Cf. Lm. Bùi Đức Sinh, O.P., Lịch sử Giáo hội Công Giáo (Canada: Veritas Edition Calgary, 1999), p. 213.

[2] Douglas Burnham, The Nietzsche Dictionary (Bloomsbury), p. 277.

[3] Người viết dùng từ Thượng Đế thay vì Thiên Chúa có ý rằng, Nietzsche không chỉ nhắm đến phê bình Thiên Chúa của Kitô giáo, nhưng còn là Đấng Duy Nhất, Thượng Đế, Ông Trời… của các tôn giáo khác, đặc biệt là những tôn giáo chủ trương Độc Thần.

[4] Cf. Friedrich Nietzsche, Kẻ Phản Ki-tô, Hà Vũ Trọng chuyển ngữ (Hà Nội: Nxb Tri Thức, 2013), p. 53.

[5] Cf. Douglas Burnham, The Nietzsche Dictionary, p. 153.

[6] Cf. Douglas Burnham, The Nietzsche Dictionary, p. 154.

[7] Chủ nghĩa Hư vô (nihilism) hay tư tưởng đoạn tuyệt cho rằng cuộc sống này không có mục tiêu nào có ý nghĩa, mục đích, hoặc giá trị nội tại. Nơi đó, mọi giá trị đạo đức chỉ là giả tạo, không tồn tại.

[8] Cf. Trần Thái Đỉnh, Triết Học Hiện Sinh (Hà Nội: Nxb Văn Học, 2005), p. 130-131.

[9] F.Nietzsche, Nazathustra đã nói như thế, Trần Xuân Kiêm chuyển ngữ (Sài Gòn: Nxb An Tiêm, 1971), p. 170.

[10] F.Nietzsche, Nazathustra đã nói như thế, p. 9.

[11] Cf. F.Nietzsche, Nazathustra đã nói như thế, p. 60.

[12] F.Nietzsche, Nazathustra đã nói như thế, p. 184.

[13] Trích Tin Mừng Mát-thêu (Mt 5, 4)

[14] F.Nietzsche, Nazathustra đã nói như thế, p. 187.

[15] F.Nietzsche, Nazathustra đã nói như thế, p. 185.

[16] Trích Tin Mừng theo Thánh Mát-thêu (Mt 6,3)

[17] F.Nietzsche, Nazathustra đã nói như thế, p. 186.

[18] Cf. F.Nietzsche, Nazathustra đã nói như thế, p. 186.

[19] Cf. F.Nietzsche, Nazathustra đã nói như thế, p. 186.

[20] F.Nietzsche, Nazathustra đã nói như thế, p. 186.

[21] Cf. F.Nietzsche, Nazathustra đã nói như thế, p. 187.

[22] F.Nietzsche, Nazathustra đã nói như thế, p. 47.

[23] F.Nietzsche, Nazathustra đã nói như thế, p. 46.

[24] F.Nietzsche, Nazathustra đã nói như thế, p. 419-420.

[25] F.Nietzsche, Nazathustra đã nói như thế, p. 9.

[26] Nguyễn Tiến Dũng, Lịch sử triết học Phương Tây (Tp.HCM: Nxb Văn nghệ, 2009), p. 352.

[27] Nguyễn Tiến Dũng, Lịch sử triết học Phương Tây, p. 358.

[28] Nguyễn Tiến Dũng & Hoàng Đức Bình, Vấn Đề Tôn Giáo Trong Tác Phẩm “Zarathustra Đã Nói Như Thế” Của Friedrich Wilhelm Nietzsche (Tạp chí Nghiên Cứu Tôn Giáo – số 01, 2014), p. 3-13.

[29] Điều này đã được các triết gia hiện sinh về sau sử dụng như Marcel và Merleau Ponty khi cũng phát biểu rằng: “Tôi là xác tôi.”.

[30] Cf. F.Nietzsche, Nazathustra đã nói như thế, p. 53.

[31] Cf. F.Nietzsche, Nazathustra đã nói như thế, p. 53-54.

[32] Tự ngã là một khái niệm bắt nguồn từ Phật giáo. Tự ngã là một cái ngã độc lập tồn tại bên cạnh một thân thể và “làm chủ” thân thể.

[33] Trích thư của Thánh Phao-lô gởi cho giáo đoàn Cô-rin-tô (1Cr 6,19)

[34] F.Nietzsche, Nazathustra đã nói như thế, p. 82.

[35] Cf. F.Nietzsche, Nazathustra đã nói như thế, p. 81.

[36] F.Nietzsche, Nazathustra đã nói như thế, p. 82.

[37] Cf. F.Nietzsche, Nazathustra đã nói như thế, p. 83.

[38] F.Nietzsche, Nazathustra đã nói như thế, p. 81.

[39] Gilles Deleuze, Nietzsche và Triết học, Nguyễn Thị Từ Huy chuyển ngữ (Hà Nội: Nxb Tri Thức, 2010), p. 135.

[40] Cf. Samuel Enoch Stumpf, Triết học và các luận đề, dịch bởi Đỗ Văn Thuấn và Lưu Văn Hy (Hà Nội: Nxb Lao Động, 2004), p. 339.