Tư Tưởng Của Friedrich Nietzsche Phá Đổ Hay Xây Dựng Tôn Giáo? (P2)

Giáo dân Công giáo · · Triết học Tôn giáo

‘Thượng Đế đã chết!’ là một câu nói rất nổi tiếng nhưng cũng rất “khó nuốt” của triết gia hiện sinh Friedrich Nietzsche. Thoạt nghe qua, có lẽ nhiều người sẽ nghĩ rằng Nietzsche là người phá đổ tôn giáo. Nhưng sự thực có phải như vậy hay không?Tác giả bài viết nỗ lực đi tìm câu trả lời cho vấn nạn này qua việc giải thích các hạn từ của Nietzsche, trình bày và phân tích những phê bình tôn giáo của Nietzsche cũng như trình bày “tôn giáo mới” của Nietzsche. Qua những bước như thế, tác giả bài viết đi đến việc nhận định và đánh giá về tư tưởng tôn giáo của Nietzsche.

Tiếp theo từ Phần 1

“Thượng Đế đã chết”

Một vài phê bình chính yếu của Nietzsche trên đây, tuy chưa triệt để nhưng đã cho thấy ông muốn phá đổ Kitô giáo như thế nào? Tuy nhiên, cao trào của sự phá đổ ấy là lời tuyên bố: “Thượng Đế đã chết”. Cái chết của Thượng Đế có thực sự là lời khai tử của Kitô giáo hay không? Thực ra phải hiểu phá đổ Kitô giáo không phải “giải tán” một tôn giáo hữu hình, bởi vì Kitô giáo vẫn tồn tại đến ngày nay, nhưng là nhìn nhận một tôn giáo thực hành hư vô, không còn ý nghĩa hay giá trị nào cả. Vậy nên, “Thượng Đế đó là ai?” là vấn đề nhiều người lầm tưởng về câu nói của Nietzsche.

Thượng Đế chết là Thượng Đế nào?

Theo nghĩa đen, “Thượng Đế đã chết” có nghĩa là Thượng Đế đã từng sống và bây giờ Ngài đã chết. Đối với người hữu thần (theists), cách giải thích này là vô nghĩa, vì Thượng Đế của họ là tự hữu và vĩnh cửu. Đối với người vô thần (atheists), cách giải thích này cũng không phù hợp, vì làm gì có Thượng Đế – Thượng Đế chưa bao giờ sống và do đó cũng chưa bao giờ chết. Vậy phải hiểu câu nói “Thượng Đế đã chết” như thế nào cho đúng? Có lẽ phải hiểu rằng, “niềm tin vào Thượng Đế đã chết” – một niềm tin cao cả từng tạo nên nền tảng đạo lý cho xã hội Tây phương trong hàng ngàn năm, bây giờ đã lụi tàn. Do đó, lời xác nhận của Nietzsche chắc chắn không phải là lời xác nhận có tính thần học. “Tác phẩm dành cho tất cả và không dành cho một ai”[41], nghĩa là ai muốn tin thì tin. Ông cũng chẳng đưa ra một lập luận chặt chẽ và hệ thống nào để chứng minh Thượng Đế không hiện diện. Thượng Đế đã chết nghĩa là niềm tin vào Thượng Đế đã lụi tàn, và sau đó, con người tự tạo ra một Thượng Đế mới, xem nó như là một món đồ chơi để phục vụ những nhu cầu vị kỷ nơi mình. Như vậy, Nietzsche chủ trương “hai ý nghĩa” về cái chết của Thượng Đế: (1) niềm tin vào Thượng Đế (có thực) đã chết; (2) Thượng Đế mới (tự tạo) phải chết. Điều này sẽ được làm sáng tỏ trong phần kế tiếp.

Trong tác phẩm Kẻ phản Kitô của mình, Nietzsche cho thấy Thượng Đế không còn là Thượng Đế, nhưng bị sai lệch qua khái niệm và giải thích về Thượng Đế:

Khái niệm về Thượng Đế trở thành một công cụ trong tay của những kẻ kích động thuộc giới tăng lữ, bây giờ giải thích mọi hạnh phúc là một phần thưởng, mọi bất hạnh là sự trừng phạt vì không vâng lời Thượng Đế, là “tội lỗi”: cách thông giải cực kì gian dối đó, và cái gọi là “trật tự luân lý thế giới”, từ đó những khái niệm tự nhiên về nguyên nhân và hậu quả bị lật úp một lần và mãi mãi.[42]

Tuyên bố “Thượng Đế đã chết” cũng chẳng khác nào hồi chuông muốn thức tỉnh một nền văn hóa tôn giáo Tây phương thời đó, đang bị tha hóa và lún sâu dần vào chủ nghĩa Hư vô. Những cách giải thích niềm tin hay rao giảng của Kitô giáo, với Nietzsche, không phải đến từ mạc khải nhưng hoàn toàn là bịa đặt và dối trá. Vì thế mà lòng tin vào siêu hình hay Thượng Đế chân thực cũng vì thế mà mất đi. Ngay cả khi xây dựng Siêu Nhân của mình, Nietzsche cũng không đoái hoài gì đến vấn đề Thượng Đế hay siêu việt. Có lẽ không phải vì Nietzsche không tin có thực tại siêu việt, nhưng ông sợ đi lại “vết xe đổ” của Kitô giáo, để rồi vô tình giết chết Siêu Nhân. Mặt khác, lòng yêu mến các giá trị hiện sinh khiến cho Siêu Nhân không cần quan tâm đến những thực tại siêu việt.

Thượng Đế đã chết, nhưng ai là thủ phạm gây ra cái chết ấy? Thượng Đế có thực sự đáng chết hay không?

Nguyên nhân cái chết của Thượng Đế

Trong tác phẩm The Gay Science, Nietzsche tuyên bố rằng: “Thượng Đế đã chết, Thượng Đế đã thực sự chết, và chúng ta đã giết Ngài.”[43] Trước hết, Nietzsche cho rằng, con người là thủ phạm gây ra cái chết của Thượng Đế. Ông chỉ ra “lối sống mất niềm tin” của họ vào Thượng Đế đã giết chết Thượng Đế. Thượng Đế không còn là trung tâm của những thực hành nhân sinh quan của họ. Tiếng nói của Nietzsche, vào vai Gã Điên cầm đèn sáng ra giữa chợ ban ngày để tìm Thượng Đế trong The Gay Science là một tiếng nói thảm thương và tiếc nuối.

“Thượng Đế đâu rồi? Tôi nói cho các bạn hay, chúng ta đã giết Thượng Đế – tôi và bạn. Tất cả chúng ta là kẻ sát nhân. Nhưng chúng ta đã làm điều này như thế nào? Làm thế nào chúng ta có thể uống cạn biển cả?… Chúng ta đang làm gì khi tách trái đất ra khỏi mặt trời của nó?”[44]

Ông buồn rầu vì Thượng Đế bị giết dưới tay con người, nhưng ông cảm thấy thê thảm hơn khi không ai nhận ra cái chết của Thượng Đế. Ông đã tiên đoán trước lối “vô thần thực tiễn” của các Kitô hữu Tây phương ở thế kỷ 19. Cảnh chợ búa giữa ban ngày chính là đại diện cho bối cảnh trượt dốc, sa sút và mất định hướng của văn hóa tôn giáo Tây phương thời bấy giờ. Họ tuyên xưng niềm tin nhưng lệch lạc trong giáo huấn và thực hành.

Trong khi cái chết của Thượng Đế đầu tiên[45] là cái chết đáng thương và đầy tiếc nuối. Kẻ Xấu Xí Nhất Loài Người[46] đã giết chết Thượng Đế[47] vì không chịu được lòng thương xót bác ái của Thượng Đế. Nietzsche còn nói thêm trong Zarathustra rằng: “Chính lòng thương xót loài người của Thượng Đế đã giết chết Thượng Đế.”[48] Ông phê bình thậm tệ lòng thương xót của Kitô giáo vì nó chỉ là sự thương hại lẫn nhau, thậm chí làm cho người đối phương cảm thấy mình thấp kém, hèn yếu và nhu nhược. Dĩ nhiên Nietzsche không phê bình Thượng Đế cho bằng những kẻ lạm dùng lòng thương xót của Ngài. Như vậy, Thượng Đế đầu tiên đã chết bởi tay Kẻ Xấu Xí Nhất Loài Người. Và rồi chính y là người đã tấn phong một “Thượng Đế thứ hai” mà Nietzsche gọi là “con lừa” (hay con lạc đà). Nietzsche cho rằng các giáo sĩ Kitô giáo tự tạo nên một Thượng Đế mới (sự lừa dối thánh [holy lie]) để lừa gạt con người. Một mặt hắn tôn vinh và sùng bái con lừa, nhưng mặt khác y chất lên vai nó những gánh nặng để rồi bắt nó phải thốt lên tiếng “vâng” (I-A) giả tạo. Câu chuyện này cũng tương tự như câu chuyện dân Do Thái trong Kinh Thánh, sau khi mất niềm tin vào Thiên Chúa, đã tự đúc con bò vàng như một Thiên Chúa mới để sùng bái. Cũng giống như Môsê, Zarathustra của Nietzsche đã nổi giận và tìm cách phá vỡ lễ trọng dành cho con lừa[49]. Con lừa tượng trưng cho người Kitô hữu, sau cái chết của Thượng Đế, họ mang sức nặng của con người trần thế với một thái độ chấp nhận miễn cưỡng, một tiếng “vâng” giả trá. Lúc này, Nietzsche lại chủ trưởng “phải giết chết Thượng Đế thì con người hùng, tức con người Siêu Nhân mới có cơ xuất hiện.”[50] Nietzsche tìm mọi cách để vạch trần vị Thượng Đế giả ấy:

Vị Thượng Đế đó chỉ là con người, là mảnh vụn thảm thương của một con người và một “Ngã thể”: vị Thượng Đế hình ma bóng quế ấy xuất sinh từ mớ tro lạnh và từ lò than hồng của chính ta. Thực ra, vị Thượng Đế ấy không đến với ta từ cõi-bên-kia![51]

Như vậy, Nietzsche muốn nhắc đến hai lần chết của Thượng Đế. Lần đầu là cái chết đáng tiếc nuối (bị chết) của niềm tin vào một Thượng Đế chân thực. Lần hai là cái chết đáng đời (phải chết) của Thượng Đế giả tạo (con lừa). Nhưng nguyên nhân của cả hai cái chết đều do cách hiểu và lối sống niềm tin của người Kitô hữu. Các cuộc cách mạng khoa học, chủ nghĩa cá nhân, lối sống bầy đàn và thụ động từ lâu đã kéo não trạng của người Kitô hữu xuống thấp. Tự bản chất, đời sống như vậy đã dẫn đến thực hành hư vô, nhưng với Nietzsche, cả những người nhận ra cái chết Thượng Đế cũng vì thất vọng mà dẫn tới hư vô chủ nghĩa; đó là một thứ luân lý tiêu cực coi mọi sự là vô ích, vô giá trị.

Chủ nghĩa Hư vô

Với Nietzsche, thật trớ trêu cho người Kitô giáo khi họ đang thực hành chủ nghĩa Hư vô mà không hay biết. Hư vô chủ nghĩa dạy người ta rằng: “Đời không đáng sống. Tất cả mọi sự đều vô ích. Thôi, cứ sống cho qua ngày. Sống chờ đợi. Sống chờ chết”. Đó là hình ảnh của người nô lệ sống nơi lưu đày, sống thụ động, không ý vị vì không có chủ đích và dự phóng, họ sống như thể sống giúp ai. Nietzsche đã hét vào tai những kẻ trong tình trạng hư vô chủ nghĩa: “Thù địch của tôi là ai? Đó là bọn người muốn bỏ bê tất cả mọi sự và không muốn tự kiến tạo lấy mình. Chúng là những kẻ nói rằng: ‘Tất cả mọi sự đều là vô ích’ và chúng không biết tạo lấy những giá trị cho mình.”[52] Theo ông, tự tạo nên một Thượng Đế mới (con lừa) cho mình, một cách nào đó, người Kitô hữu cũng đang thực hành chủ nghĩa Hư vô. Riêng những người nhận ra cái chết của Thượng Đế là những người đáng thương nhất, vì khi nhận ra thế giới không có giá trị khách quan và vô nghĩa, họ sống với một nỗi tuyệt vọng thẳm sâu nhất. Hay nói cách khác, những gì mà Kitô giáo vẽ lên cho họ giờ đây bị dập tắt.

NIETZSCHE XÂY DỰNG MỘT “TÔN GIÁO MỚI”

Rõ ràng, cái chết của Thượng Đế và Chủ nghĩa Hư vô là dấu hiệu của một Kitô giáo lụi tàn, hay nói theo ngôn ngữ của Nietzsche, chỉ là một bãi tha ma toàn những xác người. Một tôn giáo chỉ còn là hình thức, riêng tinh thần đã chết từ lâu. Như vậy, phải nói rằng Nietzsche không phải là người chủ động phá đổ Kitô giáo, nhưng là người chỉ ra “một tôn giáo đã sụp đổ” ngang qua cái chết của Thượng Đế. Tuy nhiên, cùng lúc thấy một Kitô giáo sụp đổ, thì đồng thời Nietzsche cũng xây dựng “một tôn giáo mới”, tôn giáo nhân loại; và nơi đó con người là Thượng Đế của chính mình với những chuẩn mực giá trị do mình tự quy định. Tôn giáo mới này mang ba đặc điểm chính: (1) xây dựng Siêu Nhân với (2) Ý Chí Quyền Lực trong một lý tưởng (3) Quy Hồi Vĩnh Cửu. Tuy vậy, Ý Chí Quyền Lực (The power of will) và Siêu Nhân (Super Man) của Nietzsche có thực sự giải quyết được những vấn đề nhức nhối của Kitô giáo hay không?

Ý Chí Quyền Lực

Nếu Kitô giáo lấy Thiên Chúa làm trung tâm đánh giá chuẩn mực đạo đức và ý nghĩa của đời sống, thì Nietzsche cho rằng Ý Chí Quyền Lực mới là ý chí cương quyết, đặt mình làm trung tâm và làm quan điểm nhìn xã hội. Ý Chí Quyền Lực là ý chí thống trị, không phải bằng võ lực hay mưu mô, nhưng bằng cách đặt cho vạn vật những giá trị mới. Hay nói cách khác, con người phải tự cậy dựa vào chính mình, qua Ý Chí Quyền Lực, bước đi trên đôi chân của mình thay vì phó thác cho Thiên Chúa. Ý Chí Quyền Lực mang tính nội tại, đến từ bên trong chủ thể chứ không có bất kì tác động nào của tha lực (trợ giúp, ơn sủng). Ý Chí Quyền Lực khác với sức mạnh, bởi vì sức mạnh là cái có khả năng, còn ý chí quyền lực là cái muốn. Ý chí mạnh hơn sức mạnh vì nó là tổng hợp của tất cả sức mạnh.[53] Nhưng bởi đâu mà ý chí này được sản sinh? Nó là sản phẩm của ước muốn và đam mê nơi chủ thể. Đúng như tâm lý học cho rằng: không có đam mê, không thể đạt tới việc chi vĩ đại. Tình yêu và đam mê cuộc sống hiện sinh nơi Siêu Nhân đã phát sinh Ý Chí Quyền Lực. Tình yêu sự sống, theo Nietzsche, không phải là thái độ ham sống sợ chết, hay nô lệ cho sự sống, nhưng là dám sống một cách anh hùng, ngang tàng và nguy hiểm. “Các bạn hãy tin tôi: chỉ có một bí quyết để thu hoạch một mùa sống phong phú nhất và giá trị nhất, đó là sống cách nguy hiểm”[54]. Nguy hiểm không chỉ là dám đương đầu với đau khổ trong cuộc sống, mà còn dám tách mình khỏi đám đông, dám lật đổ mọi giá trị. Tức là, theo Nietzsche: “Hãy luôn luôn trở nên chính mình anh, hãy là chủ ông và là nhà điêu khắc để tạc nên chính mình anh.”[55] Theo Nietzsche, có thể dễ dàng nhận ra sự khác biệt giữa Nietzsche và Kitô giáo. Trong khi Kitô giáo khiến người ta bị nhu nhược, nô lệ và thụ động, Ý Chí Quyền Lực muốn kiến tạo sự chủ động, tự do và tận dụng tối đa sức mạnh con người mình. Tuy nhiên, đức tin Kitô giáo cũng đề cao một lối sống kiên cường và “nguy hiểm”. Trong Kinh Thánh xuất hiện nhiều câu chuyện về đức tin anh hùng: Abraham luôn sẵn sàng lên đường; Mẹ Maria đón nhận Ý Chúa và lên đường theo Chúa Giêsu đến chân thập giá; Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ từ bỏ tất cả (kể cả mạng sống để theo Ngài); và biết bao gương hi sinh của các vị thánh hiển tu cũng như tử đạo. Chọn lựa của Đức Tin là chọn lựa “nguy hiểm”. Nhưng điểm khác biệt ý chí của thánh nhân so với siêu nhân là tình yêu dành cho Thiên Chúa, còn Siêu Nhân là đam mê cuộc sống. Đời sống của Siêu Nhân được Nietzsche quan niệm là đời sống bi tráng. Tức là, dù cuộc sống đầy bi quan và đau khổ, con người vẫn phải sống một cách anh hùng, đối diện và không chịu khuất phục trước khó khăn bởi vì đó là cuộc sống và đam mê của tôi.

Thế nhưng, liệu rằng Ý Chí Quyền Lực có thể đương đầu với tất cả mọi vấn đề của cuộc sống? Ý Chí có thực sự không cần bất kỳ nguồn trợ lực nào khác bởi tự nhiên hay siêu nhiên?

Ý Chí Quyền Lực là ý chí tự quyết.

Theo Nietzsche, Kitô giáo khiến cho ý chí của con người trở nên ý chí non nớt bị lệ thuộc. Kitô giáo đại diện cho đám đông trong Zarathustra, đó là lũ đông chê ghét kẻ đơn nhất, dập tắt kẻ anh hùng bằng cách đặt ra một trật tự luân lý mới để dạy người ta chống lại những con người độc lập. Trong lịch sử của mình, Giáo Hội đã từng chống lại những tư tưởng thần học cấp tiến, ngăn cấm các lối giải thích Kinh Thánh khác, hay dựa vào đức tin để kìm kẹp những phát kiến mới của khoa học. Điển hình là phong trào hộ giáo chống lại các công kích từ phía Tin Lành. Vì thế, mọi tư tưởng quá khác biệt với tín điều đều bị lên án ngay khi còn trong trứng nước. Ngược lại, với Nietzsche, người mang Ý Chí Quyền Lực không nên quan tâm đến những đánh giá và phê bình của đám đông, không tái bản cuộc đời theo mẫu người thông thường của họ. Tách mình ra khỏi đám dông, người tự chủ phải là tự tìm ra lối đi, và dấn thân vào lối đi đầy nguy hiểm và đầy vinh quang đó:

Người cao thượng là người đã ý thức và tin tưởng đinh ninh rằng mình có quyền nhận định, có quyền đặt ra những giá trị mà không cần được ai chấp nhận hết. Cái gì họ nghĩ là có hại, thì đó là cái hại, cái gì họ nghĩ là danh dự, thì đó là danh dự: Người tự chủ là kẻ sáng tạo ra những giá trị (créateur de valeurs). Đó là luân lý của người tự chủ, một luân lý nêu cao vinh dự của con người.[56]

Ý Chí Quyền Lực trước hết là một ý chí độc lập và tự quyết. Nghĩa là, Siêu Nhân phải có khả năng nhận định về tất cả mọi thứ theo cái nhìn của riêng mình. Họ tự đặt mình lên làm kẻ sáng tạo cuộc đời mình, sáng tạo ra các giá trị cho riêng mình. Như vậy, Siêu Nhân là người có nét riêng và nhận ra mình không thuộc về đám đông.

Người hùng không lấy làm vinh dự khi thấy người ta cũng nghĩ như mình; trái lại ông thấy mất thể diện vì người khác cũng đồng ý với mình, vì như thế là mình chẳng hơn họ chi. Người hùng phải nói: ‘ý kiến của tôi là ý nghĩ của tôi; người khác không có quyền nghĩ như thế.’ Phải giữ mình đừng chia sẻ những ý nghĩ của quần chúng.[57]

Kierkegard chủ trương ra khỏi đám đông, xây dựng cá vị là dám sống đức tin, tức là vươn tới đời sống tôn giáo – đó là hiện sinh trung thực nhất. Bởi vì theo ông, nếu con người sống trong vòng đạo hạnh nghĩa là còn sống trong phổ thông, sống như mọi người mà thôi. Chính đời sống tôn giáo sẽ đưa con người lên tới sinh hoạt độc đáo của nhân vị.[58] Chúa Giêsu cũng dạy các môn đệ “coi chừng men Pharisêu”, “đừng rập theo thói đời này”, và chỉ ra rằng, “Ta đến để cho chiên ta được sống và được sống dồi dào.” Sống dồi dào không chỉ là lối sống bất khuất của Siêu Nhân nhưng còn là một đời sống kết hợp với Thiên Chúa.

Cũng như Schopenhauer, Nietzsche cho rằng: “vũ trụ chỉ là cái nhìn của ta; giá trị của vũ trụ ở cách ta nhìn và giải nghĩa nó.”[59] Nietzsche đã sử dụng Ý Chí Quyền Lực để khai mở con người ra khỏi mọi đóng khung của thần học hay một khuôn phép nào. Nhờ đó mà con người có thể phóng tầm nhìn của mình tới những chân trời mới mẻ và vinh quang hơn. Một mặt, cần ghi nhận tinh thần cá vị, tự chủ và dám tách mình ra khỏi tính bầy đàn của Ý Chí Quyền Lực. Nhưng mặt khác, có khi nào Ý Chí Quyền Lực sẽ rơi vào sự chủ quan và độc tài? Ý chí ấy có thực sự không cần soi sáng bởi chân lý khách quan và phổ quát? Ý chí ấy có dễ bị chính các đam mê xấu lôi kéo không?

Dẫu cho Nietzsche không quan niệm Siêu Nhân của mình là kẻ độc tài, bởi vì “các đam mê của họ sẽ được kiểm soát và bản chất động vật của họ được hòa hợp với trí khôn của họ”.[60] Về tính phổ quát, Nietzsche không chấp nhận những gì là phổ quát hay tuyệt đối, không thể có “cái tốt chung”, nên ông cho rằng con người luôn cần thẩm định lại cái có trước, đánh giá và lật đổ mọi giá trị truyền thống và sẵn sàng từ bỏ cả những ý kiến trước đây của mình. Đối với Nietzche, đồng ý với các phạm trù phổ quát cũng đồng nghĩa chỉ có một loại bản chất con người mà thôi (tức là ai cũng giống như ai)[61]. Tuy nhiên, không vì thế mà ông từ chối thâu lượm những lời dạy và giáo huấn từ những người thầy. Nietzsche cho rằng Ý Chí Quyền Lực là khả năng đánh giá mọi tư tưởng, và khả năng độc lập khỏi mọi tư tưởng. Trong Zarathustra, ông nói với học trò: “Ta báo đền ơn thầy mình một cách tệ hại nếu ta cứ mãi mãi làm học trò”[62]. Sau một thời gian tầm sư học đạo, người học trò phải tự tìm một con đường khác thầy, có khi phải “phản bội” thầy. Dù sao đi nữa, Nietzsche cũng không đồng tình với cái chung, cái phổ quát hay bình đẳng. Ngay cả trong những điều tưởng chừng là “chung” nhưng thực ra nó là “riêng” đối với mỗi người. Rõ ràng, tư tưởng về thế giới của Schopenhauer đã ảnh hưởng nhiều trên Nietzsche. Schopenhauer cho rằng, “thế giới là biểu tượng của tôi”, và “biểu tượng của tôi” sẽ không giống “biểu tượng của bạn”[63]. Cũng tượng tự như quan điểm của Aristotle khi bàn về đức hạnh : mặc dù đức hạnh là trung dung nhưng sự trung dung của đức hạnh nơi mỗi người khác nhau, cũng không có sự trung dung chung cho mọi hành vi nhưng thay đổi tùy người và tùy hoàn cảnh[64]. Theo tôi, vẫn có thể tồn tại cái chung nhưng mọi thứ chỉ khác nhau trong mức độ áp dụng mà thôi. Tuy nhiên, cũng cần khẳng định thái độ cân bằng đối với tư tưởng cổ truyền: cần xem lại cái trước, tránh gạt bỏ nhưng cũng tránh nhắm mắt làm theo.

Như vậy, tự quyết về đời mình, Ý Chí Quyền Lực đang khẳng định tính cá vị và độc đáo của mình thay vì phải bám chặt vào thứ luân lý cựu truyền.

Ý Chí Quyền Lực là ý chí độc đáo

Dù sao đi nữa thì dưới ngòi bút của Nietzsche, tất cả những gì có tính cách đại chúng đều tầm thường và đáng khinh bỉ. Trong lịch sử, Kitô giáo với những “tòa án dị giáo” hay những “tòa giảng quyền lực” đã kìm hãm những người hùng, chống lại tính sáng tạo của họ. Cho đến thế kỷ 19, Kitô giáo không phổ biến Kinh Thánh (nghĩa là dịch ra nhiều thứ tiếng), cả phụng vụ và giáo huấn đều bằng tiếng cổ ngữ Latinh, bởi lẽ sợ giáo hữu hiểu sai hoặc có những giải thích cấp tiến. Vì thế, hầu hết các Kitô hữu bị nhào nắn bởi các tòa giảng của giáo sĩ. Nếu ai có hướng đi sai lạc giáo huấn của Giáo Hội thì có thể bị tòa án dị giáo đưa lên giàn thiêu, bởi chưng từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 19 cũng là giai đoạn hộ giáo rất mạnh. Chính thần quyền Kitô giáo làm nên khái niệm “đại chúng” nhu nhược và thiếu sáng tạo. Với Nietzsche, đó là sinh hoạt của loài vật, đề cao sự bình đẳng và chống lại người hùng.

Ngày nay, nhân loại là một đoàn vật, mỗi con vật đó đều có quyền lãnh lấy những chức vụ và ban phát những danh dự: Sự bình quyền này chẳng qua chỉ là một thứ bình đẳng để chống lại tất cả những người hùng và những tâm hồn cao thượng. Người hùng phải hiểu rằng: Ngày nay, muốn làm người cao thượng phải dám tự chủ, sống độc đáo; người hùng tự nhủ: “Người anh hùng nhất là người dám sống cô độc, tự chủ, ý chí mãnh liệt”.[65]

Như vậy, Ý Chí Quyền Lực là ý chí độc đáo, bởi lẽ dám suy nghĩ theo những đường lối mới. Chọn lựa như vậy là một chọn lựa đi vào nỗi cô đơn và đau khổ vì bị chỉ trích. Tính khắc nghiệt ấy làm cho “ơn gọi Siêu Nhân” thật khan hiếm giữa loài người. Nhưng chỉ khi nhận ra sự hèn mạt và nô lệ của đám quần chúng kia, Siêu Nhân mới có thể trung thành với lý tưởng của mình.

Lần đầu tiên khi đến với loài người, ta đã phạm phải cơn điên của kẻ cô đơn, cơn điên rồ vĩ đại: ta đã đứng ở chốn công trường. Và vì ngỏ lời với tất cả mọi người, cho nên ta chẳng nói với một ai. Song vào buổi tối, những người đi dây làm trò xiếc và những xác chết đã là bạn đồng hành của ta; và ngay chính ta, ta cũng gần giống như một xác chết.[66]

Dù sao đi nữa, Siêu Nhân không bạn bè với quần chúng, không cần đếm xỉa lời khen chê của quần chúng. Người đó chỉ vui thích với ý chí sáng tạo, những giá trị mới mẻ của mình. Cuộc sống như vậy mới đích thực là phong phú, tự do và nhân vị. Trong lịch sử, “tuyên truyền” là công cụ mà các nhà lãnh đạo tôn giáo hay chế độ cộng sản sử dụng để điều khiển đám đông. Những câu tuyên ngôn thời danh đã nói lên điều này: “Cách duy nhất để tránh sai lầm là đừng có ý tưởng mới”; “Bất kể điều gì sai, nhưng nói miết sẽ trở thành đúng”. Cái sai lầm của cả tôn giáo và cộng sản là không để cho người dân có khả năng suy nghĩ, phản tỉnh và đánh giá vấn đề. Giới lãnh đạo biến họ thành “những con lừa” chỉ biết “vâng” trong khi chất lên vai những gánh nặng nề. Vì không nhận ra điều ấy nên đám đông luôn ở trong tình trạng bảo thủ với những thứ cổ hủ của mình. Thêm vào đó là những hình phạt như hỏa ngục, mặc cảm tội lỗi… khiến giáo dân sợ hãi khi phải mở ra với điều mới mẻ. Cho nên, người giáo hữu dễ thực hành đạo một cách rập khuôn và bầy đàn. Có lẽ, Nietzsche đã đúng khi phê bình lối đón nhận tư tưởng “quá dễ dãi” của đám đông.

Tuy nhiên, con người có thể tìm kiếm những điều mới mẻ trong những gì là truyền thống không? Cũng như Đức Giêsu đã từng nói: “Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn lề luật.”[67] Người ta có thể làm cho một điều ra mới nhờ chắp vá và điểm tô từ những cái cũ. Ý Chí Quyền Lực là một ý chí độc đáo nhưng cũng là một Ý Chí có khả năng đánh giá một cách rốt ráo. Vậy nếu nói như Nietzsche: “ý kiến của tôi là ý nghĩ của tôi; người khác không có quyền nghĩ như thế,”[68] thì những khả năng học hỏi, đánh giá, tư biện sẽ thực sự trở nên bế tắc. Như vậy, đề cao tính độc đáo của Ý Chí Quyền Lực không có nghĩa là sáng tạo cái hoàn toàn mới.

Kế đến, không chỉ việc từ chối đón nhận ý kiến người khác, nhưng cả việc khước từ một tha lực trợ giúp không là điều không thể xảy ra. Như Nietzsche vẫn thường nói, tôn giáo là ảo tưởng tạo ra bởi các nhu cầu đời sống con người. Nhưng đáng ra phải nói, lịch sử con người sau hàng ngàn năm sống kiếp hiện sinh mới rút ra được chân lý : “con người là giới hạn”. Con người chỉ là hữu thể giới hạn trong vũ trụ bao la này. Càng tìm tòi phát triển, con người càng cho thấy sự giới hạn của mình. Karl Jaspers chỉ ra giới hạn của con người trong ba điểm: đau khổ, sự chết và sa ngã. Dù với Ý Chí Quyền Lực, con người có nỗ lực tới đâu đi nữa, thì vẫn phải kinh nghiệm về sự giới hạn của mình. Con người chấp nhận bị nhốt trong không gian và thời gian; giữa sự sống và cái chết; giữa tự nhiên và siêu việt… Ý Chí Quyền Lực không ngừng vượt qua chính mình để vươn lên trong đời sống, thì cũng phải vươn tới một thực-tại hoàn-thiện nào đó phía trước. Đức Giêsu cũng khuyên người môn đệ vươn tới tính-hoàn-thiện ấy: “Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.”[69] Vì vậy, kinh nghiệm của tôn giáo là kinh nghiệm thấy mình không thể làm được gì, bất lực hoàn toàn trước bi kịch hiện sinh. Cũng như Phật giáo Tiểu thừa khi chuyển sang nhánh Đại thừa cũng kinh nghiệm được rằng, để tự giải thoát mình nhờ sống theo những giới luật của Phật Tổ quả là khó khăn, cho nên trong tương lai, cần phải có một Đấng nào đó đến khổ độ chúng sanh. Nghĩa là, Phật giáo Đại thừa từ quan niệm “tự độ” chuyển sang “tha độ”. Bởi lẽ, câu niệm chú “Nam Mô A Di Đà Phật” của Đại Thừa có nghĩa là cầu xin Đức Phật A Di Đà trong tương lai đến giải thoát chúng sanh. Riêng Kitô giáo tin rằng, tự bản chất con người không thể đạt đến ơn cứu độ, dù lịch sử cứu độ ghi nhận biết bao lời sấm của các ngôn sứ tiên tri kêu gọi hoán cải. Chỉ mãi tới khi Đức Giêsu Kitô – Con Thiên Chúa làm người thì con người mới tìm thấy ơn cứu độ. Tuy nhiên, ơn cứu độ không đến như một phép màu nhưng là một sự nỗ lực cộng tác giữa tự nhiên (sự cộng tác của con người) và ơn sủng (sự trợ giúp của Thiên Chúa).

Tóm lại, Ý Chí Quyền Lực không thể là một ý chí độc lập, tách mình hoàn toàn khỏi tha thể. Có lẽ nên chủ trương một Ý Chí Quyền Lực “khôn ngoan” hơn là “bất chấp”, một “đam mê sáng suốt” hơn là “đam mê mù quáng” bởi vì mục đích chính yếu của Siêu Nhân là vượt qua con người chứ không “tàn sát lẫn nhau”.

Siêu Nhân

Trong khi tuyên bố về cái chết của Thượng Đế, Nietzsche đồng thời rao giảng về Siêu Nhân. Thượng Đế đã chết và mặt đất chỉ còn lại con người, cho nên con người phải tìm đến tối thượng của mình là Siêu Nhân. Siêu Nhân là khả tính anh hùng tiềm ẩn bên trong con người, cho nên Siêu Nhân cần được hiện thể: Siêu Nhân phải sống. Siêu Nhân (Ũbermensch) là kẻ đã vượt thắng được (ũberwunden) con người, nghĩa là vượt thắng được chính mình. Trong Zarathustra, Siêu Nhân thành tựu mình ngang qua ba cuộc hóa thân: từ lạc đà thành sư tử, từ sư tử thành trẻ thơ.[70] Lạc đà biểu trưng cho thời kỳ tôn sùng, gởi gắm niềm tin vào các lý tưởng tôn giáo và các giá trị cựu truyền của nó. Lạc đà biểu trưng cho tinh thần nô lệ của Kitô hữu, nhiệt thành chất lên lưng mình tất cả “những gánh nặng”. Nhưng khi đi vào giữa lòng sa mạc của đời mình, tinh thần lạc đà muốn chinh phục tự do và làm chủ sa mạc riêng của nó, cho nên nó hóa thân thành sư tử. Sư tử tượng trưng cho sự đỗ vỡ niềm tin, và cho thời kỳ của tinh thần tự do. Sư tử vực dậy khao khát tự giải phóng mình để tiến tới những sáng tạo mới mẻ. Nhưng để tái khởi một công trình mới và một niềm tin mới, sư tử cần hóa thân thành trẻ thơ. Vậy ba cuộc hóa thân biểu trưng cho tiến trình từ tiếng “Vâng” giả trá (con lừa) đến tiếng “Không” linh thánh (sư tử), và sau cùng là tiếng “Vâng” linh thánh (trẻ thơ). Hay nói cách khác, Siêu Nhân tự thành tựu qua ba giai đoạn: nô lệ (lạc đà) – giải phóng (sư tử) – xây dựng (trẻ thơ).

Siêu Nhân là con người luôn vươn lên.

“Con người là cái gì cần phải được vượt qua.”[71] Đây được xem là định nghĩa của Nietzsche về Siêu Nhân. Con người là một nhịp bước, là quá trình đi lên, và không sống trong nhu nhược và chờ đợi. Đi lên không phải là ra khỏi mặt đất nhưng vẫn trung thành với trái đất, làm chủ trái đất bằng một con người cao thượng. Trong Zarathustra, Nietzsche gọi con người là một cái cầu chứ không phải mục tiêu. Con người là một sợi dây căng thẳng giữa con thú (animal) và Siêu Nhân (overman). Sợi dây căng ngang một hố sâu thẳm, mà dù bước tới, dừng lại, hay nhìn về phía sau thì đều thấy nguy hiểm. Vì chỉ là cầu nối nên con người là một sự chuyển tiếp và một sự suy tàn. Như vậy, Siêu Nhân là con người bất chấp, dám vươn lên chính mình trong sự hiểm nguy.

Con người là một sợi dây căng thẳng giữa con thú và Siêu Nhân – sợi dây căng ngang một hố thẳm.Vượt qua hố thẳm: nguy hiểm; cất bước giữa đường đi: nguy hiểm; nhìn lại đằng sau: nguy hiểm – rùng mình sởn ốc và đứng dừng: nguy hiểm. Điều cao đại nhất nơi con người nằm ở chỗ con người là một chiếc cầu chứ không phải một mục tiêu; điều mà ta có thể yêu thương nơi con người là: con người là một sự chuyển tiếp và một sự suy tàn.[72]

Siêu Nhân không vươn mình lên lý tưởng siêu việt như Kitô giáo đã làm với Thượng Đế. Siêu Nhân tuyệt đối trung thành với trái đất. “Siêu Nhân là chiều hướng, là ý nghĩa của trái đất.”[73] Tuy nhiên, sự trung thành này không phải là thái độ an hưởng hay buông thả, nhưng “ý nghĩa của trái đất” tức là ý nghĩa cuộc hiện sinh. Thay vì thái độ chờ chết của Kitô giáo, Nietzsche khuyên Siêu Nhân phải tái lập nền luân lý hiện sinh và lý tưởng sinh hoạt như vũ bão, lấy trần gian làm nơi phát triển những nghị lực và dự tính cao cả nhất của con người. Đối với Nietzsche, cuộc hiện sinh này là giá trị duy nhất của đời người: hỏng mất cuộc đời là hỏng tất cả. Vì vậy, với một chí khí dũng mãnh, con người tự giải phóng mình, tự vượt mệnh (self-transcending being) thay vì “thuận mệnh” để đạt tới Siêu Nhân.

Hỡi các anh em, hãy trung thành với mặt đất bằng tất cả sức mạnh của đức hạnh các anh em! Ước gì tình yêu ban phát quảng đại và tri thức của anh em sẽ dùng làm ý nghĩa cho mặt đất…

Hãy như ta, các anh em hãy đưa dẫn đức hạnh lạc lối trở về lại với mặt đất trần gian – vâng, hãy đưa dẫn đức hạnh đó về với thân xác và sự sống; để nó có thể ban cho mặt đất một ý nghĩa, một ý nghĩa nhân bản!…

Hỡi các anh em, ước sao tinh thần cùng đức hạnh các anh em dùng làm ý nghĩa cho mặt đất, và giá trị của mọi vật phải được canh tân lại do bàn tay các anh em! Chính vì thế các anh em phải chiến đấu, chính vì thế các anh em phải là những kẻ sáng tạo…

Ý chí sẽ giải thoát con người, bởi vì “muốn” chính là sáng tạo: đấy là điều ta rao giảng.[74]

Như vậy, Siêu Nhân cũng giống như tinh thần “magis”[75], không chấp nhận ù lì hay thỏa hiệp nhưng luôn thấy mình cần “hơn nữa” trong cuộc hiện sinh. Nghĩa là con người luôn luôn trên đường vươn tới hay vượt qua thay vì nghĩ rằng mình đã cán đích. Siêu Nhân là dự án đã khởi đầu và “chưa bao giờ” hoàn tất. Như vậy, cuộc sống phải trở nên nghịch lý với mẫu người Siêu Nhân. Càng bước trong hiện sinh, Siêu Nhân càng cảm thấy tính bấp bênh và chênh vênh, nhưng anh ta đối diện với nó bằng một tinh thần thép, bởi vì Siêu Nhân là kẻ đã được giác ngộ.

Siêu Nhân là con người được giác ngộ

Siêu Nhân là người từ trong quần chúng bước ra, nhưng phải giẫm lên quần chúng. Siêu Nhân không bị trói buộc vào một hạn chế nào, không nhắm mắt tin theo những lời truyền dạy của tôn giáo nữa. Theo Niezcshe, đó là con người đã giác ngộ. Rõ ràng, giác ngộ hiểu theo Nietzcshe không hề giống với Kitô giáo hay Phật giáo. Giác ngộ theo các tôn giáo là tìm ra chân lý (là Đấng Tối Cao, Tuyệt Đối) để phụng sự và bước theo ánh sáng. Nhưng giác ngộ, theo Nietzsche, là sự tỉnh thức khỏi mọi u mê và mọi giấc ngủ triền miên. Sự tỉnh thức là ý thức về cuộc hiện sinh này, không để mình bị nô lệ bất kì điều gì, nhưng thay vào đó là thái độ tự chủ và tự do đánh giá lại tất cả mọi giá trị. Giác ngộ là tự nhận trách nhiệm làm ánh sáng soi lấy đường mình đi, vâng theo Ý Chí Quyền Lực với một thái độ tự do.

Điều tai hại Nietzsche nhận ra là các Kitô hữu cứ muốn mãi làm học trò, muốn được linh mục hay Giáo Hội dạy dỗ, nhu nhược trong suy nghĩ. Nietzsche coi những ông thầy đó là một “tai hại cần thiết”. Đúng là con người cần phải có thầy dạy bảo, nhưng thầy giáo thường là một tai hại và trở ngại cho sự tiến bộ của người yêu thích tự do, bởi lẽ trò không dám vượt mặt thầy. Cũng vậy, trong Giáo Hội xuất hiện nhiều Kitô hữu có khả năng tài giỏi nhưng tinh thần vẫn yếu đuối, không dám có ý nghĩ riêng và khác với những điều Giáo Hội thường dạy. Họ mang một mặc cảm và sợ hãi khi “chống lại” Giáo Hội. Vì vậy, Nietzsche đưa ra những lời khuyên:

Thực ra, ta khuyên các ngươi điều này: hãy xa lánh ta và hãy coi chừng Zarathustra! Hơn nữa, các ngươi hãy hổ thẹn vì Zarathustra ! Có lẽ hắn đã lừa gạt các ngươi. Kẻ tìm kiếm tri thức thì không những phải biết yêu thương kẻ thù mà còn phải biết thù ghét những bạn hữu của mình. Ta báo đền ơn thầy mình một cách tệ hại nếu ta cứ mãi mãi làm học trò.[76]

Quả thực, nhiều tác giả đã đánh giá cao câu nói của Nietzsche, thầy dạy người ta làm người, chứ không dạy người ta làm học trò suốt đời. Học trò khôn ngoan phải biết tìm con đường của riêng mình. Tính giác ngộ của Siêu Nhiên cho thấy một thái độ không dựa dẫm, nhưng đầy can đảm bước đi bằng nét riêng của mình.

Quy Hồi Vĩnh Cửu

Siêu Nhân mang Ý Chí Quyền Lực, nói theo Felicien Challaye[77], như là nền tảng cho một tôn giáo mới, một tôn giáo không dối trá của Nietzsche[78]. Mỗi tôn giáo thường có một nơi an tại vĩnh hằng, như Kitô giáo có Nước Trời, Phật giáo có Niết Bàn, vậy đâu là niềm hi vọng nơi tôn giáo mới của Nietzcshe? Thưa, đó là lý tưởng “Quy Hồi Vĩnh Cửu” của Siêu Nhân. Nietzsche đã suy xét và tìm hiểu ngọn nguồn từ triết học đến khoa học để tìm hiểu “Quy Hồi Vĩnh Cửu”. Trong tác phẩm Ý Chí Quyền Lực (The Power to Will), Nietzcshe khẳng định cuộc trở về Vĩnh cửu là “giả thiết khoa học nhất trong những giả thiết” vì nó bao hàm trong thuyết bất biến về năng lượng.[79] Quy Hồi Vĩnh Cửu được hiểu là thế gian diễn qua diễn lại cùng một khung cảnh, vô hạn và vĩnh cửu, và mỗi lần như vậy con người bắt đầu sống lại cuộc đời của mình.[80] Đó là lời rao giảng của Zarathustra: “Vạn sự đều vĩnh viễn trở về và chúng ta, chúng ta cũng trở về cùng vạn sự, chúng ta đã từng có mặt hằng hà sa số lần và vạn vật đã có mặt ở đó cùng với chúng ta.”[81] Quy Hồi Vĩnh Cửu cũng giống như Luân hồi của Phật giáo khi cho rằng cuộc sống là sự tái diễn kiếp này qua kiếp khác. Tuy nhiên, Phật giáo chủ trương luân hồi như là một sự thanh luyện để vào trong cõi niết bàn. Còn Quy Hồi Vĩnh Cửu của Nietzsche mang ý nghĩa của niềm vui và hạnh phúc khi được gắn liền với trái đất. Dĩ nhiên, ý tưởng này sẽ trở thành đau khổ và phiền muội cho những kẻ mơ tưởng cõi-bên-kia, kẻ rao giảng sự chết và kinh miệt thân xác. Cho nên, hiện sinh nào cũng là giằng co giữa thân phận con người và cái chết. Kitô giáo cho rằng cái chết là một sự giải thoát, còn Nietzcshe bảo rằng sự chết là một cuộc tái sinh. Vậy nên Quy Hồi Vĩnh Cửu là liều thuốc hóa giải cho trăn trở của Siêu Nhân khi đối diện với sự chết và ý nghĩa đời mình bởi lẽ – một mặt, Siêu Nhân yêu mến trái đất và cuộc hiện sinh – mặt khác, Siêu Nhân sẽ trở nên vô nghĩa với cái chết.

Tuy nhiên, tại sao mọi cố gắng phi thường để sáng tạo Siêu Nhân cuối cùng lại trở về bọn người nhỏ bé? Chẳng lẽ Siêu Nhân mãi là một nỗ lực triền miên? Quả đúng như vậy, Quy Hồi Vĩnh Cửu là niềm hi vọng lớn lao cho sự xuất hiện của Siêu Nhân. Vì thế, Siêu Nhân hoàn toàn lạc quan đón nhận cuộc trở về Vĩnh cửu.

Mọi hoan lạc đều khát khao ước muốn chính mình, chính vì thế hoan lạc khát khao sự thống khổ! Hỡi hạnh phúc! Hỡi khổ đau! Ồ, trái tim, hãy vỡ tan ra từng mảnh! Vậy thì, hỡi những con người thượng đẳng, hãy học biết điều này: hoan lạc khát khao ước muốn thiên thu vĩnh cửu.

– hoan lạc khát khao ước muốn thiên thu của vạn sự, khát khao thiên thu thăm thẳm, tuyệt mù.[82]

Như vậy, Quy Hồi Vĩnh Cửu là một món quà đối với Siêu Nhân không phải vì nó đạt được thành quả nào, nhưng bởi lẽ còn được thấy chính mình trong hiện sinh. Nếu sự trở về vĩnh cửu của con người và sự vật diễn ra trên trái đất này; và chính trái đất cũng là một vật có khả thể biến mất (một sự va chạm vũ trụ có thể làm nên điều đó). Vậy Quy Hồi Vĩnh Cửu sẽ trở nên vô nghĩa nếu trái đất không còn nữa chăng? Có lẽ, dù Quy Hồi Vĩnh Cửu có giới hạn thì Siêu Nhân vẫn được Nietzsche xem là “trang vàng” của bộ lịch sử nhân loại.

Nguồn: https://sjjs.edu.vn/

Xem tiếp Phần 3

[41] Đây là lời tựa đề mà Nietzsche dành cho tác phẩm Zarathustra.

[42] Friedrich Nietzsche, Kẻ Phản Ki-tô, p. 74-75.

[43] Cf. Friedrich Nietzsche, The Gay Science, Walter Kaufmann dịch anh ngữ (New York: Nxb Vintage Books), p. 181.

[44] Cf.Friedrich Nietzsche, The Gay Science, p.181.

[45] Ở đây ý muốn nói tới “niềm tin vào Thượng Đế (đích thực)” đã chết, chứ không phải chính Thượng Đế đã chết, bởi vì Ngài là bất tử.

[46] Kẻ Xấu Xí Nhất Loài Người là kẻ thấp kém, nhu nhược và không thể thành toàn chính mình trong ý nghĩa hiện sinh.

[47] Cf. F.Nietzsche, Nazathustra đã nói như thế, p. 533.

[48] F.Nietzsche, Nazathustra đã nói như thế, p. 475.

[49] CF. F.Nietzsche, Nazathustra đã nói như thế, p. XXIII.

[50] Trần Thái Đỉnh, Triết Học Hiện Sinh, p.134.

[51] F.Nietzsche, Nazathustra đã nói như thế, p. 46.

[52] Friedrich Nietzsche, La Volonté de puissance, t.II, Tr. 44. (Cf. Trần Thái Đỉnh, Triết Học Hiện Sinh, p. 135)

[53] Cf. Gilles Deleuze, Nietzsche và Triết học, p. 70.

[54] Par delà le Bien et le Mal, aphor. 212 (Trần Thái Đỉnh, Triết Học Hiện Sinh, p. 142)

[55] Volonté de puissance, t. II, p. 44 (Trần Thái Đỉnh, Triết Học Hiện Sinh, p. 136)

[56] Par delà le Bien et le Mal, aphor. 260, 42. (Trần Thái Đỉnh, Triết Học Hiện Sinh, p. 139.)

[57] Par delà le Bien et le Mal, aphor. 260, 42 (Trần Thái Đỉnh, Triết Học Hiện Sinh, p. 139.)

[58] Cf. Trần Thái Đỉnh, Triết Học Hiện Sinh, p. 95.

[59] Cf. Samuel Enoch Stumpf, Triết học và các luận đề, p. 280-281.

[60] Cf. Samuel Enoch Stumpf, Triết học và các luận đề, p. 341.

[61] Cf. Samuel Enoch Stumpf, Triết học và các luận đề, p.338.

[62] F.Nietzsche, Nazathustra đã nói như thế, p. 153.

[63] Cf. Samuel Enoch Stumpf, Triết học và các luận đề, p.281.

[64] Cf. Samuel Enoch Stumpf, Triết học và các luận đề, p. 87.

[65] Par delà le Bien et le Mal, aphor. 212 (Trần Thái Đỉnh, Triết Học Hiện Sinh, p. 142)

[66] F.Nietzsche, Nazathustra đã nói như thế, p. 581.

[67] Trích Tin Mừng theo thánh Mát-thêu (Mt 5, 17)

[68] Par delà le Bien et le Mal, aphor. 260, 42 (Trần Thái Đỉnh, Triết Học Hiện Sinh, p. 140)

[69] Tin Mừng theo thánh Mát-thêu (Mt 5, 48)

[70] F.Nietzsche, Nazathustra đã nói như thế, p. 33-37.

[71] F.Nietzsche, Nazathustra đã nói như thế, p. 8.

[72] F.Nietzsche, Nazathustra đã nói như thế, p. 13.

[73] F.Nietzsche, Nazathustra đã nói như thế, p. 9.

[74] F.Nietzsche, Nazathustra đã nói như thế, p. 5-16.

[75] Khái niệm “” xuất hiện trong linh đạo Dòng Chúa Giêsu của thánh I-nhã.

[76] F.Nietzsche, Nazathustra đã nói như thế, p. 153.

[77] Felicien Challaye là một tác giả lớn trình bày về triết học của Nietzsche một cách đáng tin cậy.

[78] Cf. Felicien Challaye, Nietzsche Cuộc đời và Triết lý, Mạnh Tường chuyển ngữ (Tp.HCM: Nxb Văn Nghệ, 2007), p. 45.

[79] Cf. Felicien Challaye, Nietzsche Cuộc đời và Triết lý, p. 168.

[80] Felicien Challaye, Nietzsche Cuộc đời và Triết lý, p. 165.

[81] F.Nietzsche, Nazathustra đã nói như thế, p. 452.

[82] F.Nietzsche, Nazathustra đã nói như thế, p. 659-660.