Tư Tưởng Của Friedrich Nietzsche Phá Đổ Hay Xây Dựng Tôn Giáo? (P3)
‘Thượng Đế đã chết!’ là một câu nói rất nổi tiếng nhưng cũng rất “khó nuốt” của triết gia hiện sinh Friedrich Nietzsche. Thoạt nghe qua, có lẽ nhiều người sẽ nghĩ rằng Nietzsche là người phá đổ tôn giáo. Nhưng sự thực có phải như vậy hay không?Tác giả bài viết nỗ lực đi tìm câu trả lời cho vấn nạn này qua việc giải thích các hạn từ của Nietzsche, trình bày và phân tích những phê bình tôn giáo của Nietzsche cũng như trình bày “tôn giáo mới” của Nietzsche. Qua những bước như thế, tác giả bài viết đi đến việc nhận định và đánh giá về tư tưởng tôn giáo của Nietzsche.
Tiếp theo từ Phần 2
MỘT VÀI NHẬN XÉT
Đến đây mục tiêu và kế hoạch của Nietzsche dành cho Kitô giáo thực đã phần nào lộ rõ. Đầu tiên, Nietzcsche chỉ ra một tôn giáo đã sụp đổ và tha thiết cho mọi người nhận ra điều ấy ngang qua lời rao giảng: “Thượng Đế đã chết.” Kế đến, Nietzsche chủ trương xây dựng một tôn giáo mới, tôn giáo của loài người, để khắc phục tất cả những tiêu cực của tôn giáo hữu-thần, đồng thời phụng sự cho lý tưởng siêu-nhân-hóa loài người của mình. Sau cùng, Nietzsche kể ra tính vĩnh cửu của tôn giáo của mình như là một niềm hi vọng vô cùng tận. Tuy nhiên, theo thiển ý, người viết nhìn nhận Nietzsche như là một nhà cải cách tôn giáo, tư tưởng của ông như là một hồi chuông. Nghĩa là, bản chất Kitô giáo không bao giờ bị sụp đổ, nhưng được củng cố thêm nhờ Nietzsche.
Để nói đến những tích cực, đầu tiên, Nietzsche đã có công chỉ ra thái độ nhu nhược và yếu kém trong niềm tin tôn giáo của các Kitô hữu. Dù với giọng điệu mạnh bạo và ngạo mạn, Nietzsche dễ bị coi là kẻ phá hoại tôn giáo. Tuy nhiên, trước một đám đông mà phần lớn đang bị ru ngủ, Nietzsche phải dùng đến một tiếng la hét thật lớn, một gáo nước thật lạnh hầu mong thức tỉnh được họ. Người ta phải công nhận sự chân thành của Nietzsche, cũng như thao thức của Nietzsche dành cho cuộc sống và cho con người. Vì vậy, xét cách chung, tư tưởng của Nietzsche hay các nhà hiện sinh khác đều tranh đấu cho con người, thế nhưng ở Nietzsche người ta thấy một sự bùng nổ lớn và một tầm ảnh hưởng rộng tới mọi người. Không chỉ bởi vì cách nói như búa nện nhưng còn vì tư tưởng của Nietzcshe chỉ là những cách ngôn (cả dụ ngôn) lý thú, dễ đọc và dễ nắm bắt.
Kế đến, phê bình của Nietzsche là một phản tỉnh rõ nét cho người Kitô hữu khi nhìn về lối sống đạo của mình. Trong tâm lý học, để biết mình luôn có bốn yếu tố quan trọng: tôi biết (tôi) – người khác biết (tôi), tôi biết – người khác không biết, tôi không biết – người khác biết, tôi không biết – người khác không biết. Vì nhận ra một Kitô giáo mà tính bảo thủ đã ăn sâu trong thần quyền, một cách khách quan, Nietzsche đã chỉ ra những căn bệnh mà người trong cuộc không thấy. Ông không những chỉ ra những chỗ tối, nhưng còn cho biết những hệ quả khôn lường của nó, tức là đi vào chủ nghĩa Hư vô. Không dừng lại ở phản tỉnh, tư tưởng Siêu Nhân của Nietzsche là một liều thuốc bổ cho những tâm hồn muốn vươn lên khỏi thói ưu hèn và nô lệ. Một linh mục Kitô giáo tên là Yves de Montcheuil, S.J., trong vai trò mục vụ sinh viên, cũng đưa ra nhận định của mình về Nietzsche như sau:
Đối với một tín đồ Ki-tô giáo đã vững tâm không sợ bị lôi cuốn, chúng tôi có thể quyết rằng ít có chi bổ ích cho tinh thần bằng sự suy nghĩ những trang Nietzsche đã viết. Bổ ích vì những trang đó bắt ta suy nghĩ và phản ứng. Nietzsche răn chúng ta đừng theo chước cám dỗ tai hại thường làm chúng ta muốn biện hộ và thần thánh hóa những yếu hèn của chúng ta và những nhu nhược của chúng ta nấp sau những mặt nạ nhân đức để yên thân trong cảnh nhu nhược.[83]
Sau cùng, mặc dù xem Kitô giáo như là kẻ thù nhưng qua nhiều tác phẩm của mình, Nietzsche không ngừng yêu mến con người lý tưởng của Giêsu.[84] Ông xem Đức Giêsu như là một nhà cải cách tôn giáo, một người dám đứng lên “chống lại” những thực hành bề ngoài của người Do Thái. Ông nhìn nhận Đức Giêsu là người Kitô hữu đầu tiên – và cũng là người Kitô hữu cuối cùng. Ngài cũng mang nhiều nét trong mẫu người Siêu Nhân của Nietzsche. Hơn nữa, ngay sau khi đã phê bình nghiêm khắc Kitô giáo, năm 1881, ông viết cho Peter Gast như sau: “Dù đã phá đạo Ki-tô, tôi vẫn không quên rằng đời sống tinh thần của mình đã rút được ở đó nhiều kinh nghiệm quý giá. Tự thâm tâm tôi hy vọng chẳng bao giờ phải khó chịu khi đối mặt với nó.”[85] Dù rằng Nietzsche nhìn Đức Giêsu hay Kitô giáo bằng một đôi mắt đã “nhuốm màu” Siêu Nhân của mình, nhưng vẫn lộ rõ một cốt tủy của Kitô giáo mà Nietzsche không thể phủ nhận. Chính Đức Giêsu Kitô là con đường, sự thật và là sự sống của đức tin Kitô giáo.
Thực vậy, điều đầu tiên có thể phê bình Nietzsche là thái độ “đánh đồng” giữa thành phần và tổng thể, giữa cốt tủy và tùy phụ. Kitô giáo không phải tôn giáo của con người lập lên, nhưng do chính Đức Giêsu Kitô – Con Thiên Chúa thiết lập và trao cho các môn đệ cùng cộng tác. Vì thế Đức Kitô phải là cốt tủy và tinh thần của Kitô giáo. Hơn nữa, Giáo Hội là tập hợp những con người tin và bước theo Đức Kitô. Có thể xuất hiện những cá nhân, tập thể trong Giáo Hội có cách hiểu sai về đức tin, có lối sống bừa bãi, thậm chí “tạo ra Chúa của riêng mình”, nếu nói như Nietzsche. Nhưng tuyệt nhiên Giáo Hội không vì thế mà bị dơ dáy hay ác liệt hơn là sụp đổ. Trong một ngôi nhà gồm nhiều người, mà giả như có một người phạm tội, thì không thể cho rằng đó là “một ngôi nhà tội lỗi” cần phải phá hủy. Do đó, Giáo Hội là bất tử vì là một hữu thể thiêng liêng và bất tận.
Hơn nữa, theo quan niệm của Kitô giáo, Giáo Hội trần gian đang trên đường lữ hành dưới sự soi sáng và đồng hành của Chúa Thánh Thần. Vì thế Kitô giáo và đức tin Kitô giáo là một hành trình chứ không là đích điểm. Nghĩa là qua năm tháng, Giáo Hội cũng có những thay đổi, những thích ứng, và cả những canh tân dành cho con cái mình để sống đức tin mỗi ngày một tốt hơn. Bối cảnh Giáo Hội trong thế kỷ của Nietzsche đang sống là thế, nhưng qua các công đồng, đặc biệt là Vaticanô II, Giáo Hội đã ghi nhận những thay đổi trong cả thần học lẫn quan điểm trong đời sống đức tin. Thay đổi ấy không có nghĩa là đức tin hay chân lý Kitô giáo bị thay đổi, nhưng là tìm kiếm cách giải nghĩa, cách thực hành đức tin sao cho phù hợp với thời đại. Tóm lại, có thể gọi Giáo Hội là cái đã hình thành nhưng chưa hoàn tất.
Lịch sử cho thấy rằng, mọi tư tưởng nhấn mạnh thái quá trong triết học đều dễ dẫn đến cực đoan. Một số triết gia có tham vọng tìm kiếm tính tuyệt đối và triệt để trong triết thuyết của mình, mặc dù chẳng bao giờ có “bến bờ tuyệt đối” trong biển cả mênh mông của triết học. Việc kế thừa và đả phá trong các hệ thống tư tưởng khác nhau là công việc thường hằng của triết học. Có nên chăng xem các tư tưởng như là các món ăn trong bữa tiệc triết học; người ta sẽ tự tìm thấy những món ăn hợp khẩu vị, hợp thời đại cho mình. Vì thế, tư tưởng của Nietzsche sẽ là thích hợp nếu đặt trong một tổng thể, cũng như món ăn trong bữa tiệc. Nhưng nếu đặt riêng lẻ, nó sẽ là một chất độc hại khôn cùng. Triết gia hiện sinh Karl Jaspers đã chống lại Nietzsche bằng cách vạch cho thấy “thuyết nhân bản của Nietzsche, cũng như tất cả các thuyết nhân bản khác, nhất định sẽ đem con người đến chỗ tự tôn mình làm Thượng Đế và do đấy sẽ đưa con người tới những điên rồ vô lý.”[86] Chắc hẳn, không ai quên được những tội ác ghê sợ của chế độ Quốc xã, trong đó chính quyền Hitler đã sát hại hàng triệu người vô tội Do Thái. Mặc dù không thể đổ lỗi hoàn toàn cho Nietzsche, nhưng ai cũng biết rằng quân đội Hitler đã trao tay nhau những trang sách của Nietzsche ca tụng Siêu Nhân; bằng chứng là sau khi quân Hitler đầu hàng, người ta tìm thấy nhiều tập sách của Nietzsche nhan nhản những câu như: “Người hùng phải tàn bạo. Anh em ơi, hãy nêu cao tôn chỉ này : Ta phải tàn bạo.”[87] Một thái độ quân bình là cần thiết trong triết học. Cũng như Kant dung hòa giữa duy lý và duy nghiệm. Cũng cần phải tìm kiếm sự quân bình cho tư tưởng của Nietzsche.
Dù cũng là hai triết gia hiện sinh, cùng muốn con người hiện sinh vượt lên cái tầm thường, nhưng Søren Kierkegaard có cách nhìn về tôn giáo hoàn toàn ngược lại với Nietzsche. Kierkegaard nhìn nhận sinh hoạt tôn giáo là hình thức hiện sinh cao quý nhất và trung thực nhất. Càng xây dựng tương quan với Thượng Đế, con người càng tìm thấy tự do. Đó cũng là vấn đề được đặt ra với Nietzsche. Làm thế nào để kết hợp giữa hiện sinh và siêu việt? Nietzsche từ chối thẳng thừng vấn đề này trong tư tưởng của mình. Về sau này, Karl Jaspers là người đã giải quyết vấn đề hiện sinh và siêu việt. Ông được xem như là kết tinh tuyệt mỹ của hai tư tưởng Kierkegaard và Nietzsche. Ông gọi con đường dẫn tới siêu việt là “con đường của những tượng số.” Theo nghĩa đen, tượng số là biểu tượng có khả năng vạch cho ta thấy một huyền nhiệm. Vũ trụ vạn vật là tượng số, và bất kì sự vật nào[88] đều là tượng số cho những ai chịu suy nghĩ. Mỗi khi “đọc” những tượng số trong vũ trụ, con người thấy hiện sinh bước vào một tương quan mới: tương quan với siêu việt. Nhưng để đạt được tương quan này, theo Jaspers, con người phải bước vào hiện sinh đích thực, tức là có ý thức và tự do. Con người có thể thấy siêu việt trong nhiều tượng số khác nhau, nhưng chỉ tương quan trực tiếp với siêu việt trong chính hiện sinh mà thôi. Như lời của Jaspers nói:
Hiện sinh không thể an nghỉ trong mình nó; nó chỉ được thỏa mãn trong hữu thể siêu việt bởi vì hiện sinh là chính tương quan với siêu việt. Không tương quan này, hiện sinh không còn xứng đáng là hiện sinh nữa.[89]
Tại sao hiện sinh không thể an nghỉ trong chính mình nó ? Lý do nào mà hiện sinh cần phải bám vào siêu việt, đến độ không có tương quan với siêu việt, con người không còn là con người nữa? Theo Jaspers, trước hết, hãy “soi vào” hiện sinh con người. Tự do, một trong những yếu tính của con người hiện sinh, là một tự do bị giới hạn (sức khỏe, sức chịu đựng, khả năng suy nghĩ, trí nhớ…) và bị điều kiện (tùy thuộc hoàn cảnh và giáo dục). Cả trong sinh hoạt thường nhật, trong tự do và tự quyết, con người vẫn cảm thấy bị bế tắc và gặp rào cản. Siêu việt hiện ra trong sinh hoạt thường ngày của hiện sinh dưới hình ảnh cái vượt quá những giới hạn của ý chí : theo Jaspers, người ta phải nhìn nhận giới hạn đó là siêu việt, nếu không là hư vô. Trong khi Nietzsche đề cao sức mạnh vô hạn của ý chí và tự do trong Siêu Nhân, Jaspers lại vạch ra những hoàn cảnh giới hạn như đau khổ, sự chết và tội lỗi như là điểm gặp gỡ của hiện sinh và siêu việt. Càng tìm cách vượt qua đau khổ, như Nietzsche chủ trương, con người càng cảm thấy đau khổ hơn vì những giới hạn. Nhưng đối diện với đau khổ không phải bằng thái độ cam chịu, nhưng là con người tự nhận ra mình là hữu thể bị giới hạn. Tuy nhiên, giới hạn này là giới hạn bởi siêu việt. Theo Jaspers, giới hạn này càng nâng cao giá trị của hiện sinh và nó đặt trong tương quan với siêu việt. Đỉnh cao của hiện sinh và siêu việt là sự chết. Vì sự chết tỏ cho thấy rõ ràng nhất về giới hạn của con người, cả Siêu Nhân của Nietzsche cũng không thể từ chối. Giải pháp của Nietzsche là Quy Hồi Vĩnh Cửu. Còn Jaspers thì khác, ông cho rằng nếu đã sống hiện sinh đích thực (làm người thực sự) thì phải tin rằng sự chết không chấm dứt hiện sinh, mà đưa tới tương quan với siêu việt (cũng như người Kitô giáo tin tưởng là sau khi chết sẽ về với Chúa), nếu không con người chọn làm “con vật xã hội.” Cả những người thực sự tuyên bố vô thần cũng không nghĩ rằng chết là hết, họ chỉ không có can đảm để hi vọng – vì nếu không có tương quan với siêu việt – con người không còn là người nữa. Cuối cùng, tội lỗi (sa ngã) là tượng số để hiện sinh gặp gỡ siêu việt. Cũng giống như Nietzsche, Jaspers cho thấy con người người luôn luôn hơn nữa (tiến thêm) và thể hiện cái định mệnh của mình một cách đầy đủ. Nhưng có một điểm khác biệt chính yếu, Siêu Nhân của Nietzsche tiến lên nhờ sức mạnh, còn hiện sinh vươn lên nhờ biết mình và nhận ra những sa ngã hằng ngày. Jaspers cho rằng: “Sa ngã là ý thức mường tưởng rằng mình đang rơi vào hư vô.”[90] Nếu con người xem sa ngã là tự nhiên, phí lý, chán nản…, nó sẽ đẩy ta vào hư vô. Tuy nhiên, khi coi sa ngã là tiếng nói của giới hạn, thì nó thực có giá trị, và khi ấy hiện sinh gặp gỡ siêu việt chứ không rơi vào hư vô.
Như vậy, hiện sinh và siêu việt vẫn tìm thấy sự gặp gỡ và tương quan trực tiếp ngang qua các tượng số của hiện sinh. Càng nhận thấy hiện sinh hữu hạn, con người càng có cơ hội gặp gỡ siêu việt vô hạn. Cũng vậy, Kitô giáo không chủ trương một thái độ cao ngạo như Siêu Nhân của Nietzsche, nhưng là thái độ dấn thân trong khiêm hạ vì luôn ý thức về giới hạn con người trước mặt Thiên Chúa, đồng thời luôn cần đến sự trợ giúp của Ngài để tiến tới.
KẾT LUẬN
Tóm lại, triết học Nietzsche là một nỗ lực chỉ ra “sự sụp đổ” của Kitô giáo ngang qua viễn tượng: Thượng Đế đã chết. Cái chết của Thượng Đế là cái chết của niềm tin vào thượng đế đã ăn sâu bao đời nay, hay Thượng Đế không còn chỗ đứng cho lối sống của Kitô hữu. Nietzsche đã đả phá mọi bịa đặt về cõi bên kia cũng những trừng phạt, mọi thái độ về sự chết, khinh miệt thân xác và đời tạm. Ông coi thường thái độ nhu nhược và nô lệ của đời sống luân lý. Theo đó, Nietzsche nỗ lực xây dựng “một tôn giáo mới” với Ý Chí Quyền Lực, Siêu Nhân và Quy Hồi Vĩnh Cửu như khai phóng một lối nẻo mới cho vấn đề của hiện sinh.
Bài luận ghi nhận những phê bình “vẫn còn hữu ích” của Nietzsche, qua đó cũng mổ xẻ để thấy những phê bình đó có am hợp với cốt tủy của Kitô giáo hay chăng. Bởi vì, Nietzsche đã chỉ phê bình phần vỏ, tức lối sống đạo, chứ chưa đi sâu vào căn tính của đạo. Tuy không thể triển khai hết tư tưởng bao la và thâm thúy của Nietzsche, nhưng bài luận hi vọng cho thấy cái nhìn của Nietzsche về tôn giáo; những giá trị của tư tưởng Nietzsche dành cho tôn giáo. Có lẽ, những tư tưởng quý báu của Kierkegaard, một tác giả lớn bên hiện sinh hữu thần, sẽ là quý giá để trả về thế quân bình cho những phê bình của Nietzsche. Về sau, chính Karl Jaspers đã nỗ lực để dung hợp hai tác giả.
Sau cùng, theo thiển ý, nếu đặt tư tưởng của Nietzsche độc lập thì nó sẽ là một mối tai họa khôn lường, nhưng trong một tổng thể, nó vẫn có nhiều giá trị. Có lẽ cần phải xem Nietzsche như là một vị thuốc trong một thang thuốc; một chấm phá trong một bức tranh; một động tác trong một bài tập luyện. Bởi lẽ, những phê bình của Nietzsche vẫn còn đâu đó trong lối sống của nhiều Kitô hữu thời này. Như vậy, người Kitô giáo mới phát huy được tất cả sức mạnh tự nhiên của mình để hợp tác với ân sủng Thiên Chúa. Vậy nên Nietzsche phải được xem như một nhà cải cách tôn giáo hơn là một kẻ phá hoại. Dù sao đi nữa, nếu nói về gặp gỡ giữa siêu việt (tôn giáo) và hiện sinh thì chính Đức Giêsu đã khởi xướng điều này. Vì chính Ngài là người mang siêu việt (Thiên Chúa) xuống với hiện sinh. Tức là, ở giữa giới hạn của con người yếu đuối, lòng thương xót của Thiên Chúa đã bắt gặp, đã ôm ấp và chữa lành. Được như vậy, người Kitô hữu sẽ sống trách nhiệm hơn với hiện sinh, cũng như câu châm ngôn: “tay bới đất nhặt cỏ, lòng hướng về trời cao”.
THƯ MỤC THAM KHẢO
Nietzsche, F. Nazathustra đã nói như thế, Trần Xuân Kiêm chuyển ngữ. Sài Gòn: Nxb An Tiêm, 1971.
Nietzsche, Friedrich. Kẻ Phản Ki-tô. Hà Vũ Trọng chuyển ngữ. Hà Nội: Nxb Tri Thức, 2013.
Burnham, Douglas. The Nietzsche Dictionary. Bloomsbury.
Nietzsche, Friedrich. The Gay Science, Walter Kaufmann dịch anh ngữ. New York: Nxb Vintage Books.
Challaye, Felicien. Nietzsche Cuộc đời và Triết lý, Mạnh Tường chuyển ngữ. Tp.HCM: Nxb Văn Nghệ, 2007.
Sinh, Bùi Đức. Lịch sử Giáo hội Công Giáo. Canada: Veritas Edition Calgary, 1999.
Đỉnh, Trần Thái. Triết Học Hiện Sinh. Hà Nội: Nxb Văn Học, 2005.
Dũng, Nguyễn Tiến. Lịch sử triết học Phương Tây. Tp.HCM: Nxb Văn nghệ, 2009.
Dũng, Nguyễn Tiến & Bình, Hoàng Đức. Vấn Đề Tôn Giáo Trong Tác Phẩm “Zarathustra Đã Nói Như Thế” Của Friedrich Wilhelm Nietzsche. Tạp chí Nghiên Cứu Tôn Giáo – số 01, 2014.
Deleuze, Gilles. Nietzsche và Triết học. Nguyễn Thị Từ Huy chuyển ngữ. Hà Nội: Nxb Tri Thức, 2010.
Stumpf, Samuel Enoch. Triết học và các luận đề, dịch bởi Đỗ Văn Thuấn và Lưu Văn Hy. Hà Nội: Nxb Lao Động, 2004.
Nguồn: https://sjjs.edu.vn/
[83] Y.de Montcheuil, Mélanges théologiques, Aubier 1951, p. 182-183 (CF. Trần Thái Đỉnh, Triết Học Hiện Sinh, p. 154)
[84] CF.FELICIEN CHALLAYE, sđd, Tr. 43.
[85] FELICIEN CHALLAYE, sđd, Tr. 43.
[86] Trần Thái Đỉnh, Triết Học Hiện Sinh, p. 221.
[87] Cf. Trần Thái Đỉnh, Triết Học Hiện Sinh, p.153.
[88] Jaspers quả quyết bất cứ sự vật nào cũng có thể trở thành tượng số, và có bốn loại tượng số căn bản: vũ trụ, ý thức con người nói chung, lịch sử của tinh thần con người nói chung, và sau hết là hiện sinh của mỗi nhân vị.
[89] Trần Thái Đỉnh, Triết Học Hiện Sinh, p.226.
[90] Trần Thái Đỉnh, Triết Học Hiện Sinh, p. 232.