Vấn đề khoảng cách giữa tên gọi và thực tại sự vật trong tác phẩm Cratylus của Plato (P1)

Ở mọi nơi và trong mọi thời, ngôn ngữ đã, đang và vẫn sẽ là một phương tiện trao chuyển thông tin, tri thức, và là cầu nối giữa con người với nhau và với thực tại. Đời sống con người luôn gắn liền song hành cùng với sự ra đời và phát triển của ngôn ngữ. Có thể nói rằng danh từ – tên gọi của sự vật, con người hay một điều gì đó – chính là loại từ xuất hiện trước hết trong ngôn ngữ, bởi lẽ những gì con người tiếp cận, gặp gỡ và tri nhận ngay từ thuở hàn vi qua các giác quan chính là các sự vật, hiện tượng xung quanh mình. Như một đứa trẻ lần đầu tiếp xúc với thế giới bên ngoài, khi đối diện với sự vật, con người cũng chỉ biết ‘ú ớ’ và luôn tự hỏi: ‘cái này là cái gì vậy?’ Để trả lời câu hỏi này, con người luôn cố gắng bằng mọi giá để hiểu và diễn tả cái mà mình muốn biết ngang qua những sự liên hệ trong tư tưởng như màu sắc, âm thanh, mùi vị, trạng thái… Vì thế, để biểu đạt cho mối tương quan này, con người tìm cách đặt cho sự vật một cái tên hay một danh xưng cụ thể theo những cách thức hình thành khác nhau.

HỌC VIỆN THÁNH GIUSE – DÒNG TÊN VIỆT NAM

Học viên thực hiện: Phaolô Lê Văn Kiều, S.J.

Giáo sư hướng dẫn: Phaolô Đậu Văn Hồng

Tháng 03 năm 2021

Dẫn nhập

Ở mọi nơi và trong mọi thời, ngôn ngữ đã, đang và vẫn sẽ là một phương tiện trao chuyển thông tin, tri thức, và là cầu nối giữa con người với nhau và với thực tại. Đời sống con người luôn gắn liền song hành cùng với sự ra đời và phát triển của ngôn ngữ. Có thể nói rằng danh từ – tên gọi của sự vật, con người hay một điều gì đó – chính là loại từ xuất hiện trước hết trong ngôn ngữ, bởi lẽ những gì con người tiếp cận, gặp gỡ và tri nhận ngay từ thuở hàn vi qua các giác quan chính là các sự vật, hiện tượng xung quanh mình. Như một đứa trẻ lần đầu tiếp xúc với thế giới bên ngoài, khi đối diện với sự vật, con người cũng chỉ biết ‘ú ớ’ và luôn tự hỏi: ‘cái này là cái gì vậy?’ Để trả lời câu hỏi này, con người luôn cố gắng bằng mọi giá để hiểu và diễn tả cái mà mình muốn biết ngang qua những sự liên hệ trong tư tưởng như màu sắc, âm thanh, mùi vị, trạng thái… Vì thế, để biểu đạt cho mối tương quan này, con người tìm cách đặt cho sự vật một cái tên hay một danh xưng cụ thể theo những cách thức hình thành khác nhau.

Tuy nhiên, liệu tên gọi mà con người gán cho sự vật có trùng khớp với thực tại sâu thẳm và lẩn khuất nơi sự vật? Hay đúng hơn, liệu có sự tồn tại một khoảng cách nào đó giữa tên gọi và thực tại sự vật? Quả thực, hầu chắc có thể khẳng định giữa tên gọi mà con người đặt cho sự vật và thực tại nơi sự vật ít nhiều luôn có một khoảng cách chênh lệch. Khoảng cách này, về mặt lý thuyết, có thể là sít sao hay đáng kể tùy thuộc vào quan điểm về phương thức hình thành tên gọi: hoặc đặt tâm điểm nơi chính sự vật – tập trung về phía sự vật, về bản chất của sự vật (khoảng cách giữa tên gọi và thực tại hầu như không còn); hoặc nhấn mạnh vào yếu tố con người – chú ý tới sự đồng thuận, hay quy ước giữa con người với nhau (thường tạo nên một khoảng cách đáng kể giữa tên gọi và thực tại).

Cho dù có nghiêng theo quan điểm nào đi chăng nữa, rốt cuộc con người vẫn là chủ thể gọi tên sự vật hay xác định các danh từ tương ứng với mỗi sự vật cụ thể. Vấn đề cần đặt ra, liệu có cách thức và nền tảng nào để con người khả dĩ xác nhận lại tính chuẩn xác của tên gọi, cũng như khoảng cách giữa tên gọi và thực tại? Liệu con người, trong tư cách là chủ thể thiết lập tên gọi, sẽ tìm đâu ra một giải pháp để dung hòa và giảm thiểu vấn đề khoảng cách như đã đề cập?

Soi chiếu vấn đề khoảng cách chênh lệch giữa tên gọi và thực tại sự vật vào trong dòng lịch sử triết học ngôn ngữ thời kỳ Cổ Đại, ta có thể tìm thấy những gợi mở và soi sáng đến từ triết gia Plato qua những gì trình bày trong tác phẩm Đối Thoại với đoạn trích Cratylus – một cuộc đối thoại giữa ba nhân vật: Socrates, Hermogenes và Cratylus. Trong cuộc đối thoại này, Plato đã giúp người đọc tiếp cận với hai lối nhìn khác nhau về sự hình thành của tên gọi: ‘bản chất thuyết’ ‘và quy ước thuyết’, để từ đó mỗi người có thể khám phá sự phong phú, cũng như tính chất phức tạp của tên gọi khi được vận dụng trong những hoàn cảnh thực tế. Tuy không đưa ra được một câu trả lời rốt ráo và tường tận liên quan tới việc khẳng định ‘bản chất thuyết’ hay ‘quy ước thuyết’ là hợp lý và xác đáng, nhưng nhờ những tra vấn và lối đối thoại theo kiểu ‘sản ý’, nhân vật Socrates đã giúp Hermogenes và Cratylus thay vì đối đầu nhau như lúc mở đầu cuộc đối thoại, lại có thể mở ra để hướng tới một cái nhìn bao quát và hài hòa liên quan tới vấn đề khoảng cách giữa tên gọi và thực tại sự vật.

Tên gọi (một danh từ) không đơn thuần chỉ là một cái tên chung chung nào đó, nhưng nó còn chất chứa cả một tiến trình hình thành mang tính giằng co và biện chứng. Vì thế, việc tìm hiểu vấn đề khoảng cách giữa tên gọi và thực tại chính là một bước đi thiết yếu, hầu có thể giúp mỗi người khám phá chân tướng sự vật mỗi khi được xướng gọi. Đồng thời, nó cũng cho thấy nỗ lực miệt mài của con người trong việc giải quyết vấn nạn khoảng cách như đã nói. Nói tóm lại, để làm sáng tỏ chi tiết và sâu sắc hơn về luận đề cho rằng ‘luôn tồn tại một khoảng cách chênh lệch nào đó giữa tên gọi và thực tại’, cùng với sự hiểu biết sau khi tiếp cận tác phẩm Cratylus, bài viết này trước tiên sẽ phác họa đôi nét quan niệm về ngôn ngữ của các triết gia Cổ Đại trước Plato, vốn có thể được xem như nền móng sơ khởi để Plato tiếp tục bàn luận về vấn đề tên gọi sự vật. Sau đó, chương một sẽ đưa ra những quan điểm nhằm củng cố lập trường cho rằng giữa tên gọi và sự vật hầu như không có bất kỳ khoảng cách nào – tên gọi và thực tại là một, danh từ lý tưởng. Tuy nhiên, trong thực tế, việc hình thành nên một tên gọi lý tưởng dường như là bất khả. Vì thế, chương hai của bài viết sẽ lập luận để chỉ ra việc tồn tại một khoảng cách khá lớn giữa tên gọi và sự vật. Song song với việc tìm hiểu này, chương một và chương hai cũng chú trọng tới việc lượng định và phê bình tính chính xác, cũng như hiệu quả trong từng lập trường. Trong chương thứ ba, bài viết sẽ hướng tới việc đi tìm một giải pháp cho vấn đề khoảng cách bằng việc thiết lập những giải pháp trung hòa và thực tiễn, hầu có thể hướng tới việc hình thành những tên gọi vừa tỏ lộ được bản chất sự vật, vừa mang yếu tố đồng thuận nơi con người. Cuối cùng, trong phần kết luận, ngoài việc cô đọng những gì đã trình bày, bài viết sẽ mở rộng suy xét tới việc xem Plato như một nhịp cầu nối kết ngôn ngữ giữa Heraclitus và Heidegger.

Giới thiệu

Triết học ngôn ngữ thời cổ đại

Trước khi tiến hành công cuộc nghiên cứu nội dung cuộc đối thoại Cratylus, thiết tưởng, cũng cần phải gợi lại một vài quan điểm về ngôn ngữ thời Cổ Đại, vốn có thể được nhìn nhận ít nhiều như là nền tảng triết học về ngôn ngữ cho những suy tư của Plato. Tuy vấn đề ngôn ngữ không được nhấn mạnh quá nhiều ở thời kỳ trước Plato, nhưng đâu đó người ta vẫn có thể gom góp những suy tư của một vài tác giả về vấn đề này. Trước tiên, có lẽ vẫn phải thừa nhận hầu hết các nhà tư tưởng thời tiền Socrate (từ cuối TK VI đến giữa TK V TCN) đều bận tâm suy tư về vũ trụ luận và hữu thể luận, qua nỗ lực để trả lời các câu hỏi như: “nguồn gốc và bản chất của vũ trụ, của con người là gì; mọi sự trong thế giới này đến từ đâu và sẽ đi về đâu?”[1] Vì thế, ngôn ngữ chưa phải là mối ưu tư hàng đầu của họ. Tuy nhiên, không vì thế mà triết học ngôn ngữ bị lãng quên, bởi vì cho dẫu người ta có suy tư về vũ trụ và hữu thể nhiều bao nhiêu chăng nữa, thì ngôn ngữ vẫn là thứ để người ta nại tới khi diễn tả dòng suy tư của mình. Điều này gợi lên một mối liên hệ nào đó giữa việc suy tư về vũ trụ luận, hữu thể luận và ngôn ngữ. Vì thế, “mối tương quan giữa ngôn ngữ và thực tại sự vật nơi vũ trụ vốn được coi là một trong những vấn đề nền tảng và thiết thực đã được một số triết gia đề cập.”[2]

Triết gia Parmenides (cuối TK VI – đầu TK V TCN) cho rằng, về mặt hữu thể luận, thực tại hoàn toàn khác biệt so với những gì mà người ta nghĩ và gọi tên chúng. “Những gì con người thấy qua các giác quan chỉ là ảo ảnh.”[3] Vì thế, ngôn ngữ có lẽ cũng chỉ là “thứ lừa bịp người ta.”[4] Nói cho cùng, ngôn ngữ chỉ có thể diễn tả bề mặt sự vật, chứ không thể diễn tả chính thực tại sự vật. Một tên gọi cho một sự vật nào đó nếu có đơn thuần chỉ là sự gán ghép hay mô tả một thuộc tính nào đó của sự vật, chứ không thể diễn tả nội tại, bản chất hàm chứa nơi sự vật.

Cùng thời với Parmenides, những suy tư của Heraclitus về ngôn ngữ chủ yếu được tìm thấy qua những diễn giải về ‘logos’. Ở đây, ‘logos’ là lời, là ngôn từ diễn tả về vũ trụ; đồng thời, ‘logos’ cũng chính là ‘LỜI’ sáng tạo nên vũ trụ. Chính vì sự huyền bí và cao cả này nơi ‘logos’, Heraclitus nói rằng ông không thể nói cho người khác về ‘logos’ theo một cách thức trực tiếp.[5]

Với Democritus (giữa TK V TCN), “mọi tính chất hay bản chất của sự vật đều hệ ở sự tồn tại của các nguyên tử vốn là các hạt không thể phân chia (uncuttable particles); tất cả những gì về sự vật hay tính chất sự vật đều là do sự quy ước. Nó là kết quả khách quan của sự tương tác giữa các nguyên tử ở bên ngoài sự vật và các nguyên tử bên trong mỗi người.”[6] Vì thế, “bằng sự quy ước, người ta gọi: ngọt ngào, cay đắng, nóng bức, lạnh giá, màu sắc… nhưng thực tế đó chỉ là các nguyên tử và trống rỗng.”[7] Những gì mà giác quan có thể tri nhận và diễn tả chỉ là vấn đề của sự quy ước về ngôn ngữ. Vì thế, nếu ai đó nói ‘tôi cảm thấy lạnh’, thì những gì người này nói không phải là chính thực tại – vốn là sự tương tác giữa các nguyên tử ngoài không khí với các nguyên tử trong cơ thể người ấy – nhưng đó là “ sự quy ước ngôn ngữ nhằm biểu lộ hệ quả của sự tương tác giữa các nguyên tử, chứ không mô tả những gì thực sự đang xảy ra, như nó là.”[8]

Còn đối với các tư tưởng gia theo trường phái ngụy biện (sophists) (khoảng TK V TCN) như Protagoras, Gorgias, Hippias, Prodicus…, thay vì quá chú trọng tới bản chất và nguồn gốc của vũ trụ như các triết gia tiền Socrates, họ tập trung suy tư một số vấn đề lớn trong đời sống con người như đạo đức, chính trị và hùng biện.

Liên quan tới ngôn ngữ, các nhà ngụy biện tập trung bàn luận về hùng biện và văn chương, ngày nay thường được gọi là ngôn ngữ học, và triết học ngôn ngữ. Ví dụ, trong một đoạn trích từ tác phẩm Đối Thoại của Plato, Gorgias đề cập tới vấn đề khoảng cách giữa đối tượng và suy tư của ta về đối tượng: “một tư tưởng tự chính nó không là bất cứ một cái gì, vì thế sự vật mà được suy tưởng cũng không là một cái gì cả.”[9] Nghĩa là, “nếu một ai đó nghĩ về một người nào đó đang bay hay đang đua ngựa, thì lập tức người đó chẳng hề đang bay hay đua ngựa.”[10] Theo lý lẽ này, những gì xuất hiện trong tâm trí chúng ta thiết lập nên những hình thái, tính chất về sự vật rất khác biệt so với cái mà sự vật tỏ lộ; “những gì con người truyền đạt với nhau không phải là chính sự vật, nhưng chỉ là sự biểu đạt bằng ngôn ngữ về chúng.”[11] Vì thế, dường như theo Gorgias, ngôn ngữ chưa đủ khả năng để trở thành một phương tiện truyền tải chân lý về sự vật nơi thế giới.

Tuy nhiên, thực tế cho đến nay ngôn ngữ vẫn là phương tiện hữu hiệu nhất giúp người ta nối kết, truyền tải thông tin, tri thức cho nhau. Vấn đề cần đặt ra, liệu rằng ngôn ngữ, hay cụ thể là các tên gọi mà người ta dùng để xướng gọi sự vật có đủ chuẩn xác, và nếu có thì sự chuẩn xác này tới mức độ nào? Hẳn rằng, một mặt người ta cố gắng để tìm ra những ngôn ngữ hay tên gọi chuẩn xác và lý tưởng sao cho trùng khít với sự vật; nhưng mặt khác cũng phải thừa nhận, dường như phải có một khoảng cách chênh lệch nào đó giữa tên gọi và thực tại sự vật. Đây có thể được xem là nguyên do hay bối cảnh dẫn tới sự hình thành cuộc đối thoại Cratylus của Plato.

Plato và cuộc đối thoại Cratylus

Sinh ra trong một gia đình danh giá và quý phái tại thành phố Athen, Plato (khoảng 427 347 TCN) chịu ảnh hưởng rất nhiều từ truyền thống gia đình, đặc biệt là từ người cha liên quan tới những vấn đề chính trị giữa hai phe dân chủ và bài dân chủ. Ngay từ khi còn trẻ, Plato có ý định sẽ đi theo con đường chính trị. Tuy nhiên, chứng kiến cái chết anh hùng để bảo vệ công lý của người thầy mình là Socrates, cũng như vì thấy được những thái quá tiêu cực trong việc theo các đảng phái chính trị, Plato quyết định xa rời con đường chính trị để dấn thân vào lãnh vực triết học, điều này được thể hiện rất rõ ngang qua tác phẩm Nền Cộng Hòa (The Republic).[12]

Sự ra đời của tác phẩm Đối Thoại (The Dialogues) như một minh chứng cho mức độ dấn thân, nhập cuộc tích cực và sâu sắc của Plato trong địa hạt triết học. Plato đã vận dụng phương pháp đối thoại và biện chứng với mục đích giúp các nhân vật trong cuộc đối thoại tự đi tìm chân lý, tự giải quyết vấn đề mình đặt ra qua những chất vấn, gợi mở. Tuy nhiên, ẩn sau những cuộc đối thoại, Plato gián tiếp giới thiệu cho người ta quan điểm và tư tưởng triết học của mình. Cuộc đối thoại Cratylus là một đoạn trích tiêu biểu cho phương pháp đối thoại giúp người ta tìm hiểu và giải quyết vấn đề mà Plato đã vận dụng. Đây là một cuộc bàn luận giữa ba nhân vật Socrates, Hermogenes và Cratylus chủ yếu liện quan tới vấn đề sự chuẩn xác của tên gọi. Nội dung cụ thể của cuộc đối thoại có thể được tóm gọn thành bốn phần.

Phần thứ nhất (383a – 386e), mở đầu cuộc đối thoại, Cratylus và Hermogenes tìm đến với Socrates với mục đích nhờ ông đóng vai trò như là vị trọng tài phân xử hai quan niệm khác nhau về sự chuẩn xác của danh từ: ‘bản chất thuyết’ (Cratylus) và ‘quy ước thuyết’ (Hermogenes).[13] Với Cratylus, danh từ chỉ chuẩn xác khi được gọi theo đúng bản chất của sự vật, như cái mà sự vật là. Trái lại, theo Hermogenes, danh từ chẳng qua chỉ là do có sự quy ước của cá nhân hay tập thể. Phần kế tiếp (386e-427d) là những lập luận nhằm bảo vệ ‘bản chất thuyết’, trong phần này Socrate dường như ủng hộ Cratylus và tấn công những lập luận thiếu vững chắc trong ‘quy ước thuyết’. Phần thứ ba lại có vẻ trái ngược so với phần hai, Socrates bắt đầu chất vấn ‘bản chất thuyết’ và chỉ ra những khiếm khuyết của nó. Đồng thời, Socrates lại nêu bật những điểm đáng tin cậy của ‘quy ước thuyết’. Phần cuối cùng của tác phẩm có thể xem như một cái kết mở cho cuộc đối thoại. Một mặt, Socrates thừa nhận, thật khó để có một tên gọi hoàn hảo, trùng khít với sự vật, vì thế dẫu sao đi nữa ‘quy ước thuyết’ cũng có vai trò nhất định đối với việc gọi tên sự vật. Mặt khác, Socrates ghi nhận đóng góp không hề nhỏ của ‘bản chất thuyết’ mà Cratylus đề cập. Vì thế, có thể nói, tuy không đưa ra một kết luận phân xử ai đúng ai sai, nhưng nhờ lối đối thoại kiểu ‘sản ý’ và ‘biện chứng’, Plato mời gọi độc giả hãy tự đi tìm câu trả lời cho riêng mình.

Tên gọi và thực tại sự vật

Để có thể tiến xa hơn trong việc tìm hiểu nội dung vấn đề khoảng cách giữa tên gọi và thực tại sự vật, bài viết sẽ cung cấp một vài diễn giải liên quan tới nội hàm các thuật ngữ: ‘tên gọi’ và ‘thực tại sự vật’. Trước tiên, bởi vì bài viết xét tới mối tương quan giữa tên gọi và thực tại sự vật trong bối cảnh cuộc đối thoại Cratylus, cho nên thoạt đầu có thể hiểu rằng thuật ngữ ‘tên gọi’ (name – danh từ) ở đây ám chỉ tới những đối tượng sự vật cụ thể vốn được giác quan con người trị nhận; tuy nhiên, điều này cũng không loại trừ những tên gọi trừu tượng. Với hạn từ, ‘thực tại sự vật’ (the reality of things), hạn từ này diễn tả cái bản chất (nature, being), cái có nơi sự vật; đó không chỉ đơn thuần là những gì mà giác quan con người tri nhận được, nhưng ‘thực tại sự vật’ có thể được xem là chính cái nó là, không bị tác động hay thay đổi bởi tác nhân ngoại tại. Nó đã và đang hiện hữu bất kể con người có thể quan sát hay lĩnh hội được hay không.

Tóm gọn lại, có thể nói rằng, ngoại trừ quan niệm khá sắc bén và tinh tế của Heraclitus về cách thế ngôn ngữ biểu đạt ‘logos’, nền triết học ngôn ngữ trước Plato xem ra còn khá thô sơ và phân mảnh, bởi lẽ mối bận tâm hàng đầu của các triết gia thời đó là nguồn gốc của vũ trụ và con người. Tuy nhiên, không vì thế mà có thể coi nhẹ những quan điểm khác nhau của các triết gia về phương diện ngôn ngữ, bởi lẽ chính nhờ có những bước đi khởi đầu này mà Plato đã có cơ hội được tiếp nối và phát triển dòng suy tư của riêng mình về mối tương quan giữa tên gọi và thực tại sự vật nơi cuộc đối thoại Cratylus.[14]

Chương 1

Tên gọi và thực tại sự vật dường như không có khoảng cách

Có khi nào xảy ra tình huống khi hai người trò chuyện với nhau, người ‘A’ nói cho người ‘B’ về tên gọi một sự vật vốn hoàn toàn lạ lẫm với người ‘B’, thế mà sau đó người ‘B’ vẫn có thể hiểu và biết rõ thực tại sự vật như người ‘A’ biết về nó? Nếu điều này xảy ra, hẳn là tên gọi, tự nơi bản chất, đã đủ để tỏ lộ cho người ta chính xác thực tại sự vật. Đây chính là lý thuyết mà Cratylus đề xướng trong cuộc đối thoại khi nói về mối tương quan giữa tên gọi và sự vật.

Tên gọi và thực tại sự vật là một

Quả vậy, quan niệm ‘một tên gọi nếu được coi là chuẩn xác, thì nó phải trùng khớp với bản chất hay thực tại sự vật của Cratylus’ đã được đề cập ngang qua trích dẫn mà Hermogenes trình bày với Socrates: “Cratylus nói với tôi, có sự chuẩn xác của tên gọi cho từng sự vật, tên gọi này lệ thuộc vào bản chất của chính sự vật. Tên gọi của một sự vật không phải là bất kỳ cái tên nào mà người ta tùy ý đặt cho nó… nhưng quả thực có sự chuẩn xác tự bản chất của tên gọi, nó đúng và giống nhau cho mọi người, dù là người Hy Lạp hay người ngoại quốc.” (383a)[15]

Câu hỏi nền tảng và xuyên suốt cuộc đối thoại ‘sự chuẩn xác của tên gọi là như thế nào?’ giờ đây được Cratylus trả lời thẳng thắn khi phát biểu: sự chuẩn xác của một tên gọi là vấn đề thuộc về bản chất của chính sự vật được xướng gọi. Một tên gọi, nếu được coi là chuẩn xác, không thể được xác lập bởi sự đồng tình hay quy ước chung của một người hoặc một nhóm người nào đó. Nói cách khác, khi một tên gọi của sự vật là ‘A’ thì có nghĩa đó là một tên gọi chuẩn xác, đúng với bản chất hay thực tại của ‘A’.[16] Như thế, tên gọi của sự vật và thực tại sự vật là một, và mỗi một tên gọi là độc nhất, tương ứng với một sự vật cụ thể.

Không chỉ cung cấp một khái niệm về sự chuẩn xác của tên gọi, Cratylus còn cho thấy tính phổ quát của lý thuyết này: “nó đúng với mọi người, dù là người Hy Lạp hay người ngoại quốc.” (383a) Điều này, còn được nói đến nhiều hơn ở phía sau của cuộc đối thoại (389d-390a). Cho dù các ngôn ngữ của các dân tộc có những đặc điểm khác nhau, nhưng sự chuẩn xác của tên gọi thì vẫn không đổi. Giọng nói, chữ viết có thể khác nhau, nhưng tên gọi sự vật và bản chất của nó phải là trùng khớp. Nói tóm lại, có thể kết luận, sự chuẩn xác của tên gọi theo Cratylus phải được đặt nền trên ‘bản chất thuyết’ (naturalism) – tên gọi sự vật chính là bản chất của nó.

Để minh họa ‘bản chất thuyết’, Cratylus bàn tới sự chuẩn xác tên gọi của chính ông, của Socrates và của Hermogenes. Hermogenes thuật lại với Socrates những gì Cratylus đã nói: “Her. Khi tôi hỏi Cratylus, liệu rằng tên gọi Cratylus của anh là một tên gọi chính xác hay không và anh ta trả lời là chính xác. Còn Socrates thì sao? Anh ta cũng nói là chính xác. Vậy tên gọi của mọi người đều là chính xác? Anh ta đáp, ngay cả khi mọi người đều gọi anh là Hermogenes, đó cũng không phải là tên gọi chuẩn xác của anh.” (383b)

Khi Cratylus khẳng định tên gọi của mình và Socrates là chuẩn xác, có lẽ Hermogenes sẽ nghĩ tên gọi của ông, như bao cái tên thông thường khác, cũng sẽ là chuẩn xác. Tuy nhiên, thật bất ngờ khi Cratylus tuyên bố, tên gọi Hermogenes mà mọi người gọi ông không phải là tên chuẩn xác. Tại sao Cratylus lại phủ nhận sự chuẩn xác của tên gọi Hermogenes? Đâu là lý do để giải thích cho tuyên bố ‘gây bất ngờ’ này của Cratylus?

Soc. Tri thức về tên gọi chiếm một phần lớn trong kho tàng tri thức. Nếu tôi là người có điều kiện, tôi đã có thể nghe 50 bài giảng của Prodicus …và sau đó tôi có thể trả lời câu hỏi của anh về sự chuẩn xác của tên gọi. Nhưng vì chỉ được học một bài duy nhất, nên quả thực tôi không biết rõ đâu là chân lý trong những vấn đề anh đề cập. Tuy nhiên, tôi sẵn lòng giúp anh và Cratylus tìm hiểu về chúng. Khi Cratylus nói tên của anh là một tên không chuẩn xác, có lẽ anh ta chỉ đang đùa cợt anh thôi; anh ta có ý nhạo cười rằng: anh trông mong mình có tiền tài, nhưng lại không bao giờ có được nó. (384b-c)

Socrates không hề vội vã đưa ra ngay câu trả lời về sự chuẩn xác của tên gọi. Một mặt, ông tỏ ra khiêm tốn trước vốn tri thức có hạn của mình trong đến lĩnh vực này, nhưng mặt khác ông mời gọi Hermogenes bước vào hành trình truy tìm chân lý về sự chuẩn xác của tên gọi. Theo Socrates, Cratylus đang ám chỉ tới một sự tương phản giữa một bên là tên gọi Hermogenes: về mặt chiết tự tên gọi này có nghĩa là con cháu của dòng họ Hermes (Hermes là một vị thần bảo trợ cho các lái buôn, sự may mắn và tài lộc); và bên kia là sự thật: Hermogenes luôn gặp thất bại trong niềm mong mỏi có được tiền tài, phú quý.[17] Như thế, chiếu theo ‘bản chất thuyết’, tên gọi Hermogenes không dính dáng gì tới nguồn gốc và ý nghĩa của vị thần Hermes, vốn được xem là đấng bảo trợ cho sự may mắn, tài lộc. Chính vì lẽ đó mà Cratylus đã dùng giọng điệu chế nhạo với Hermogenes.

Tựu chung lại, với Cratylus, tên gọi và thực tại sự vật phải là một, theo nghĩa tên gọi diễn tả đúng bản chất thực nơi sự vật. Đến đây, ắt hẳn sẽ có người đặt vấn đề, giả như ‘bản chất thuyết’ của Cratylus là hợp lý và chuẩn xác, thì đâu là cơ sở hay nền tảng để xác định tính chính xác của ‘bản chất thuyết’? Dựa vào đâu để người ta biết được một tên gọi là chuẩn xác, và bằng cách nào người ta có thể tạo nên tên gọi đúng với bản chất của sự vật?

Tên gọi xét như một công cụ

Socrates không trực tiếp nói đến những nguyên tắc hay quy chuẩn để xác định sự chuẩn xác của tên gọi; thay vào đó, ông khởi đi bằng việc xem tên gọi như một công cụ vốn mang trong mình bản chất và chức năng cụ thể. Để xác định được bản chất và chức năng này, Socrates đưa ra nhiều minh họa liên hệ tới các công cụ và cách sử dụng công cụ khác nhau, từ đó ông dùng phương pháp loại suy áp dụng vào việc đặt tên sự vật và xác định sự chuẩn xác của tên gọi đó. Mỗi hành động (cách sử dụng công cụ) đều có bản chất riêng của nó, “bản chất này phải tương ứng với bản chất nơi đối tượng của hành động, chứ không tương ứng với quan niệm của ai đó về đối tượng.”[18] Trước hết, Socrates dùng hành động ‘cắt gọt và đốt cháy’ (387a-b) để minh họa mối tương quan giữa bản chất của hành động, của công cụ và của sư vật (đối tượng).

Soc. Giả như chúng ta cắt một cái gì đó, phải chăng chúng ta nên cắt theo cách chúng ta chọn hay theo công cụ mà chúng ta chọn sử dụng? Nếu chúng ta chọn cắt theo bản chất của công cụ, liệu rằng chúng ta sẽ thành công và cắt một cách chính xác? Trong khi đó, nếu chúng ta làm ngược lại với bản chất, phải chăng chúng ta đã làm sai và không hoàn thành công việc cắt đó?

Her. Ông nói đúng đó, việc cắt phải tuân theo bản chất của công cụ.

Soc. Lại nữa, nếu chúng ta đốt cháy cái gì đó, việc đốt này không phải theo một cách tùy tiện, nhưng chúng ta phải biết mình đốt cái gì; đốt như thế nào để đúng với bản chất của sự vật. (387a-b)

Socrates cho thấy người ta không thể hành động dựa trên quan điểm của riêng mình, nhưng phải tuân theo những gì được giải thích nơi bản chất của hành động, của đối tượng và của công cụ được sử dụng để thực hiện hành động. Ví dụ, khi ai đó muốn cắt thịt, người đó phải xem xét loại thịt, từ đó xác định cách thức để cắt, và chọn loại công cụ để cắt, hầu mang lại kết quả tốt nhất. Người đó có thể dùng dao rựa hay dao phay để cắt. Nhưng công cụ cắt tốt hơn trong trường hợp này là dao phay. Người đó có thể cố gắng thử dùng một cây búa để cắt thịt, nhưng chắc chắn sẽ là sai lầm khi dùng búa, bởi vì búa không phù hợp để cắt thịt.[19] Tương tự như thế, nếu một người thực hiện hành động đốt cháy cái gì đó, người đó cần phải biết loại vật liệu mình muốn đốt để từ đó xác định cách thức để đốt. Đốt cháy một miếng thịt thì khác với đốt cháy một thanh gỗ. Như vậy, trong trường hợp này, có thể nói bản chất và chức năng của con dao là để cắt; bản chất và chức năng của ngọn lửa là để tiêu hủy, đốt cháy.

Lập luận như trên có thể áp dụng loại suy vào việc sử dụng ngôn ngữ khi nói, bởi vì nói cũng là hành động, và tên gọi chính là công cụ người ta sử dụng khi nói. Vì thế, “việc nói năng phải suy xét tới bản chất của đối tượng đang được nói đến và bản chất của công cụ lời nói mà người nói sử dụng.”[20]

Soc. Nếu việc nói là một phần của hành động nơi con người, và việc đó có mối tương quan với hành động, phải chăng việc đặt tên cho sự vật cũng là một hành động?

Her. Đúng như vậy.

Soc… Hành động có bản chất loại biệt của riêng nó; vì thế, nếu chúng ta đồng ý với những gì đã nói, chúng ta không thể đặt tên sự vật tùy theo ý chúng ta; đúng hơn, chúng ta phải đặt tên sự vật theo bản chất được trao tặng cho chúng bằng việc sử dụng những ngôn từ thích hợp với bản chất của sự vật. (387c-d)

Nếu tên gọi là một công cụ, thì công cụ này phải có khả năng thực thi chức năng truyền tải bản chất và thực tại của sự vật; và chức năng của nó phải tương ứng với bản chất của sự vật được gọi tên. Vì lẽ đó, muốn thiết định nên một tên gọi, người ta phải biết rõ bản chất của đối tượng được gọi tên. Vậy, làm thế nào để biết rõ bản chất của sự vật hay đối tượng được đặt tên? Và ai là người có khả năng để biết rõ bản chất và đặt ra tên gọi cho sự vật? Để trả lời những câu hỏi này, Socrates tiếp tục mở rộng phân tích bản chất của sự vật, và chỉ ra mối liên hệ giữa công cụ với người làm ra và người sử dụng nó.

Bản chất sự vật và thẩm quyền đặt tên cho sự vật

Như đã nói ở trên, Hermogenes đồng ý với Socrates rằng, bản chất của tên gọi phụ thuộc vào bản chất của sự vật được gọi tên. Vậy bản chất này là gì; bằng cách nào mà bản chất đó có thể định hình tên gọi của sự vật? Socrates tiếp tục vận dụng phương pháp loại suy để trả lời câu hỏi này. Theo ông, nếu như tên gọi là một công cụ và người thợ thủ công là người tạo nên công cụ, thì chính người thợ đó sẽ là người hiểu rõ nhất chức năng, bản chất của công cụ đó; ví dụ, người thợ mộc biết cách tạo ra một con thoi để dệt vải, người thợ rèn tạo ra một cái búa cho người khác sử dụng… (388c). Tương tự, “không phải ai cũng có thể đặt tên cho sự vật, nhưng người gọi tên sự vật phải là một ‘nhà lập luật’ (legislator – người đề ra quy tắc luật lệ)[21] hay một nhà sáng chế tên gọi.” (388e)

Soc. Anh có nghĩ rằng phải có những quy luật giúp chúng ta đặt tên?

Her. Tôi nghĩ rằng có những quy luật như thế.

Soc. Như vậy, khi một người thầy sử dụng một tên gọi, thì người đó đang sử dụng sản phẩm của một người thiết lập quy luật.

Her. Tôi tin là thế.

Soc. Anh có cho rằng ai cũng có thể là một người thiết lập quy luật hay chỉ có những người nắm giữ nguyên lý lập luật?

Her. Chỉ có những người nắm giữ nguyên lý mà thôi.

Soc. Như thế, không phải ai cũng có thể đặt tên cho sự vật, nhưng đó phải là một ‘nhà sáng chế ngôn từ’ (name-maker), người thiết lập quy luật (legislator).

Her. Tôi cho là như vậy. (388e-389a)

Giống như một thợ thủ công biết cách làm ra một con thoi, nếu như nhà lập luật là người thiết định nên các quy luật, thì họ cũng chính là người đặt tên cho sự vật, bởi vì tên gọi hàm chứa trong nó những quy luật mà chỉ người tạo ra nó mới biết. Như vậy, chỉ có ‘nhà sáng chế ngôn từ’ mới là người đặt tên, bởi họ là chuyên gia trong công việc này. “Không giống như một người thầy, vốn chỉ biết sử dụng tên gọi để truyền đạt, ‘thợ đúc ngôn từ’ là người tạo ra tên gọi để người thầy sử dụng.”[22] Vậy làm cách nào mà ‘nhà sáng chế ngôn từ’, hay ‘nhà lập luật’ có thể tạo nên các tên gọi?

Socrates cho rằng ‘nhà lập luật’ tạo nên tên gọi bằng cách đưa các âm thanh và âm tiết vào trong mô thức (form) của một tên gọi. Tuy nhiên, thay vì trực tiếp diễn giải cách thức sắp xếp âm thanh và âm tiết, Socrates tiếp tục dẫn Hermogenes đi theo hướng của phương pháp loại suy.

Soc. Người thợ mộc sẽ nhìn vào đâu để tạo nên một con thoi? Phải chăng đó là một thứ con thoi mà bản chất của nó là để dệt, và đó là ‘mô thức’ của con thoi?

Her. Chắc chắn rồi.

Soc. Giả như con thoi đó bị phá hỏng trong khi người thợ mộc đang làm nó, liệu rằng người thợ mộc sẽ làm một cái khác dựa theo cái bị phá hỏng ban đầu? Hay ông ta sẽ quan sát chính ‘mô thức của con thoi’ (the form of a shuttle)?

Her. Theo tôi, ông ta sẽ nhìn vào ‘mô thức của con thoi’.

Soc. Như thế, sẽ chẳng có gì là sai khi gọi đó chính là một cái con thoi.

Her. Tôi nghĩ là thế.

Soc. Vì vậy, bất cứ khi nào người thợ mộc phải làm một con thoi để dệt các loại vải khác nhau, phải chăng tùy mức độ nặng hay nhẹ, vải lanh hay vải bông sẽ quyết định kiểu mẫu của con thoi? Và phải chăng người thợ mộc đặt vào nơi con thoi cái bản chất sao cho phù hợp nhất với công việc của nó?

Her. Chắc chắn rồi. (389a-c)

Để làm được một con thoi với mục đích là dệt vải, người thợ mộc phải dựa vào chính cái ‘mô thức của con thoi’, bởi vì ‘mô thức’ đó mới là bản chất thực sự của việc dệt vải, và nhờ đó con thoi có thể hoạt động đúng chức năng của nó. Điều này ngụ ý rằng ‘mô thức’ và bản chất là giống nhau, bởi vì ‘mô thức’ cũng chính là cái mà sự vật là (389b). Lại nữa, cả Socrates và Hermogenes đều đồng ý với nhau: bản chất của mỗi sự vật được tỏ lộ nơi chức năng của nó (388e). Vì vậy, ‘bản chất’, ‘mô thức’ và ‘cái mà sự vật là’ đều ám chỉ tới chức năng. “Mô thức’ là cái cốt có sẵn, nhưng người thợ cũng phải biết cách chọn loại vật liệu thích hợp để tạo nên các công cụ với những mục đích riêng biệt.

Soc. Khi một người thợ khám phá ra loại công cụ thích hợp với loại công việc cần sử dụng, anh ta sẽ diễn tả ‘mô thức mang tính bản chất’ này qua loại vật liệu thích hợp. Ví dụ, người thợ rèn sẽ biết cách để đưa vật liệu thép vào trong một ‘mô thức’ của cái mũi khoan, phù hợp loại công việc cần dùng tới mũi khoan…

Her. Chắc chắn rồi.

Soc. Và điều này cũng phải được áp dụng cho mọi loại công cụ.

Her. Ngài nói chính xác.

Soc. Và đối với tên gọi, phải chăng nhà lập luật phải là người biết tạo nên tên gọi đúng bản chất của mỗi sự vật bằng cách sử dụng những âm thanh và âm tiết khác nhau, và cho ra những tên gọi được coi là lý tưởng? Các nhà lập luật khác nhau sẽ không cùng sử dụng nhưng âm thanh và âm tiết như nhau. Bởi vì, dù phải làm ra cùng một công cụ cho cùng một mục đích sử dụng, nhưng người thợ rèn vẫn có thể dùng những loại thép khác nhau. “Mô thức’ phải là như nhau, nhưng chất liệu thì đa dạng và mục đích sử dụng vẫn được đảm bảo.

Her. Tôi đồng ý với ngài. (389c-e)

Người thợ tạo ra công cụ không thể theo bất cứ cách thức nào mà anh ta muốn, nhưng họ phải đưa bản chất hay chức năng của công cụ vào trong một vật liệu thích hợp để làm ra một công cụ. Tương tự như vậy, nhà lập luật phải biết đưa những âm thanh và âm tiết vào trong một tên gọi để có thể diễn tả đúng chức năng, bản chất của sự vật. Hơn nữa, bởi vì chức năng của mỗi cái tên là cái để phân biệt các sự vật; do vậy người lập luật cũng phải biết chọn lựa âm thanh và âm tiết phù hợp với bản chất, chức năng của từng tên gọi sự vật. Vì thế, “giống như người thợ thủ công, nhà tạo lập ngôn ngữ phải biết và trân trọng bản chất của sự vật khi đặt tên.”[23]

Ngoài ra, cũng cần phải biết rằng, cũng là con thoi, nhưng chúng sẽ có sự khác biệt nếu chúng được sử dụng để dệt các loại vải khác nhau. Ví dụ, dệt vải lanh sẽ cần một con thoi khác so với dệt vải len. Các thợ mộc khác nhau sẽ sử dụng các loại vật liệu gỗ khác nhau để tạo nên con thoi sao cho phù hợp với mục đích sử dụng, những người thợ rèn cũng vậy. Do vậy, các nhà lập luật sẽ sử dụng các âm thanh và âm tiết khác nhau để tạo nên các tên gọi khác nhau.

Một ví dụ khác liên quan đến tên gọi của ‘Plato, tên gọi ‘Plato’ có thể được ví như ‘một bức chân dung’ (430d) – một sự mô phỏng lại một con người bằng hình ảnh. Nghĩa là, người họa sĩ sẽ đưa những đường nét và màu sắc khác nhau vào trong ‘mô thức’ của Plato để tạo nên bức chân dung của ông; ‘mô thức’ của bức vẽ có cùng ‘mô thức’ nơi Plato. Sự khác biệt chỉ ở chỗ chất liệu của mô thức thì khác nhau (một thân xác bằng xương bằng thịt, và một loại chất liệu vải hoặc giấy).[24] Như thế, một họa sĩ hay một nhà điêu khắc vẫn có thể đưa ‘mô thức’ này của Plato vào những chất thể khác nhau để tạo ra những bức chân dung hay phù điêu về Plato. Vì vậy, khi một nhà lập luật đặt tên ‘Plato’, ông ta sẽ đưa những âm thanh và âm tiết vào trong ‘mô thức’ của Plato.

Tuy nhiên, làm sao có thể xác minh những bức tranh hay bức phù điêu diễn tả chính xác ‘mô thức’ của đối tượng; hay cụ thể, bằng cách nào để biết được các nhà lập luật đã tạo nên những tên gọi chuẩn xác? Liệu rằng có xảy ra trường hợp có những nhà lập luật hình thành nên những tên gọi chuẩn xác hơn những người khác, dẫu cho tất cả những tên gọi đó cùng chỉ về một sự vật?

Sự có mặt của các nhà biện chứng

Trước khi trả lời câu hỏi thứ nhất về việc kiểm định tính chính xác của các tên gọi do các nhà lập luật tạo ra, Socrates lại dồn sự tập trung của mình vào câu hỏi thứ hai liên quan tới khả năng xảy ra trường hợp tên gọi của người này chính xác hơn của người kia.

Soc. Liệu có thể đánh giá các nhà lập luật Hy Lạp và ngoại quốc trong cùng phương thức như nhau không? Giả như họ cung cấp cho mỗi sự vật một cái ‘mô thức’ của tên gọi được xem là phù hợp với bản chất sự vật, dẫu cho những ký tự và âm thanh diễn tả tên gọi có khác nhau, thì họ vẫn là những nhà lập luật sáng giá ngang nhau.

Her. Chắc chắn rồi. (390a)

Vấn đề cốt lõi của việc đặt tên hệ ở sự diễn tả chính xác ‘mô thức’ tên gọi sao cho phù hợp với chức năng và bản chất của sự vật, chứ không nhất thiết lệ thuộc vào việc phân biệt ai là người đặt tên. Bao lâu các nhà lập luật còn có thể giải thích rõ ràng chức năng và bản chất của tên gọi mà họ tạo ra và đặt tên cho sự vật, bấy lâu công việc này vẫn tiếp tục gặt hái thành công; và sự chuẩn xác của tên gọi vẫn duy trì cho dẫu các nhà lập luật này là người Hy Lạp hay người ngoại quốc.

Quay trở lại với câu hỏi về việc xác định ai là người có thể kiểm duyệt tên gọi do các nhà lập luật đưa ra, Socrates cho rằng đó là các nhà biện chứng (dialectian). Tuy nhiên, trước khi kết luận các nhà biện chứng là những người đóng vai trò kiểm duyệt sau cùng trong việc hình thành nên một tên gọi, Socrates nhấn mạnh tới vai trò của ‘người sử dụng công cụ’ trong việc kiểm tra chức năng của ‘công cụ’ do người ‘thợ thủ công’ làm ra.

Soc. Vậy, ai sẽ là người xác định xem ‘mô thức’ nào là thích hợp để được sử dụng cho con thoi; và người xác định ‘mô thức’ là người thợ mộc làm ra con thoi hay người thợ dệt sử dụng nó?

Her. Nhiều khả năng chính là người sử dụng nó.

Soc. Ai có thể sử dụng cây đàn do người thợ làm ra? Há chẳng phải người đó sẽ là người biết rõ nhất cách thức để thẩm định, hướng dẫn những gì đang được làm, và người đó cũng sẽ biết liệu rằng công việc đang được làm này là tốt hay không?

Her. Phải rồi.

Soc. Vậy người đó là ai?

Her. Chắc chắn là người biết chơi đàn

Soc. Ai sẽ là người thẩm định hay hướng dẫn một người thợ đóng tàu?

Her. Người thuyền trưởng

Soc. Vậy ai là người có thể thẩm định công việc của một người lập luật, và duyệt xét các sản phẩm họ tạo ra? Phải chăng là bất kỳ người nào sử dụng chúng?

Her. Đúng thế.

Soc. Phải chăng đó là người biết cách để đưa ra các câu hỏi?

Her. Chắc chắn thế.

Soc. Và người đó cũng biết làm thể nào để trả lời chúng? Và chúng ta gọi họ là các nhà biện chứng?

Her. Đúng như ngài nói…

Soc. Vì thế, để có các tên gọi chính xác, các nhà biện chứng phải là người thẩm định các nhà lập luật (người tạo ra tên gọi). (390b-c)

Ở đây, Socrates đang nỗ lực giúp Hermogenes “phân biệt giữa việc đặt tên và việc sử dụng tên.”[25] Để làm được điều này, trước hết Socrates chỉ ra mối tương quan khăng khít giữa ‘công cụ, người tạo ra công cụ, và người sử dụng công cụ’. Tạo ra và xác định chức năng của công cụ không chỉ do người làm ra nó quyết định, nhưng sẽ là thiếu sót nếu bỏ qua vai trò của ngưởi sử dụng công cụ; họ sẽ thẩm định để đảm bảo rằng người tạo ra công cụ đã thực hiện một cách chính xác. Như thế, người thợ dệt, người chơi đàn hay người thuyền trưởng sẽ thực thi công việc thẩm định các loại công cụ hay các sản phẩm do các người thợ làm ra (390b).[26] Tương tự, ‘tên gọi, người đặt tên, và người sử dụng tên gọi’ cũng là ba yếu tố gắn chặt với nhau. Chỉ riêng sự hiểu biết của người tạo ra tên gọi không thôi là chưa đủ, cần phải có sự góp mặt của người sử dụng tên gọi, vốn được xem là người vận dụng những tên gọi đó trong hoàn cảnh thực tế và có khả năng để đánh giá tính hiệu quả và chính xác của tên gọi. Vì thế, chính các nhà biện chứng sẽ thẩm định việc đặt tên bởi vì họ biết rõ cách thức để hỏi và trả lời các câu hỏi (390d). Do vậy, “trong khi một nhà lập luật tất bật trong việc đặt tên cho sự vật, thì người thẩm định cũng bận rộn trong việc tra vấn đâu là ý nghĩa, chức năng của từng tên gọi.”[27]

Nói tóm lại, có thể khẳng định rằng, với Socrates không phải ai cũng có thể là ‘nhà sáng chế ngôn từ’ hay nhà lập luật. Nhưng chỉ có những ai biết rõ được tên gọi bản chất của từng sự vật mới là người có thể sắp đặt cách chính xác nhất có thể những âm thanh, ký tự và âm tiết vào ‘mô thức’ của tên gọi (390d). Như thế thôi cũng chưa đủ, để xác minh công việc của các nhà lập luật là chính xác và thuyết phục, sự xuất hiện của các nhà biện chứng được xem như là công đoạn kiểm duyệt cuối cùng về sự chuẩn xác của tên gọi. Tưởng chừng như sự có mặt sau cùng của các nhà biện chứng là cần và đủ để tạo nên một bộ ba liên kết (tên gọi, nhà sáng chế tên gọi và nhà biện chứng) tựa chiếc kiềng ba chân vững chãi trong việc hình thành và xác minh sự chuẩn xác của tên gọi. Tuy nhiên, vẫn còn đó một phương thế khác để truy tìm và xác minh sự chuẩn xác của tên gọi, đó là việc vận dụng ‘từ nguyên học’ (etymology).

Nguồn: https://sjjs.edu.vn/

Đọc Phần 2 Đọc Phần 3

[1] Rickard Gustavsson, “Convention or Nature? The Correctness of names in Plato’s Cratylus” (BA Thesis., Sweden: Umeå University: 2018), 3.

[2] Ibid.

[3] Ibid.

[4] Ibid.

[5] Quan niệm của Heraclitus về ngôn ngữ sẽ được nói rõ hơn trong sự móc nối với Plato và Heidegger ở phần kết luận của bài viết.

[6] J.E. Joseph, Limiting the Arbitrary: Linguistic Naturalism and Its Opposites in Plato’s Cratylus and the Modern Theories of Language (Amsterdam: John Benjamins, 2000), 13.

[7] Ibid.

[8] Ibid., 14.

[9] Rickard Gustavsson, “Convention or Nature? The Correctness of names in Plato’s Cratylus”, 5.

[10] Ibid.

[11] Ibid., 6.

[12] Cf. J.E. Joseph, Limiting the Arbitrary, 7.

[13] ‘Naturalism: bản chất thuyết; conventionalism: quy ước thuyết.’

[14] Cũng cần lưu ý rằng, trong cuộc đối thoại Cratylus, tuy không một lời thoại nào là của Plato, nhưng thực ra toàn bộ cuộc đối thoại này là cách mà Plato trình bày suy tư và sự hiểu biết của mình thông qua các nhân vật trong cuộc đối thoại.

[15] Plato, The collected Dialogues, trans. Benjamin Jowett (New Jersey: Princetion University Express, 1989), 422. (Trong bài viết này, các trích dẫn trực tiếp hay gián tiếp từ cuộc đối thoại Cratylus đều được đánh số và lấy ra từ tác phẩm The Collected Dialogues, do Benjamin Jowett dịch).

[16] Cf. Francesco Ademollo, The Cratylus of Plato (Cambridge: Cambridge University Press, 2011), 24.

[17] Cf. Francesco Ademollo, The Cratylus of Plato (2011), 29.

[18] S. Montgomery Ewegen, Plato’s Cratylus: The Comedy of Language (Indiana: Indiana University Press, 2014), 76.

[19] Cf. Geoffrey Scott Bagwell, “A Study of Plato’s Cratylus” (PhD diss., Duquesne University, Pennsylvania, 2010), 43.

[20] S. Montgomery Ewegen, Plato’s Cratylus: The Comedy of Language, 79.

[21] ‘Legislator’ hay ‘lawmaker’ được hiểu là người tạo nên các luật lệ nói chung, và các quy luật trong ngôn ngữ nói riêng. Trong bài viết này từ ngữ ‘nhà lập luật’ được hiểu như là ‘nhà tạo lập ngôn ngữ’ hay ‘nhà sáng chế ngôn ngữ’ (name-maker).

[22] Geoffrey Scott Bagwell, “A Study of Plato’s Cratylus”, 49.

[23] Jean Greisch, Être et Langage: Introduction à L’ontologie – Le Temps des Fondations (Paris: Institut Catholique de Paris, 1998), 274.

[24] Cf. Geoffrey Scott Bagwell, “A Study of Plato’s Cratylus”, 54.

[25] Geoffrey Scott Bagwell, “A Study of Plato’s Cratylus”, 55.

[26] Cf. S. Montgomery Ewegen, Plato’s Cratylus: The Comedy of Language, 90.

[27] Geoffrey Scott Bagwell, “A Study of Plato’s Cratylus”, 56.