Vấn đề khoảng cách giữa tên gọi và thực tại sự vật trong tác phẩm Cratylus của Plato (P2)

Ở mọi nơi và trong mọi thời, ngôn ngữ đã, đang và vẫn sẽ là một phương tiện trao chuyển thông tin, tri thức, và là cầu nối giữa con người với nhau và với thực tại. Đời sống con người luôn gắn liền song hành cùng với sự ra đời và phát triển của ngôn ngữ. Có thể nói rằng danh từ – tên gọi của sự vật, con người hay một điều gì đó – chính là loại từ xuất hiện trước hết trong ngôn ngữ, bởi lẽ những gì con người tiếp cận, gặp gỡ và tri nhận ngay từ thuở hàn vi qua các giác quan chính là các sự vật, hiện tượng xung quanh mình. Như một đứa trẻ lần đầu tiếp xúc với thế giới bên ngoài, khi đối diện với sự vật, con người cũng chỉ biết ‘ú ớ’ và luôn tự hỏi: ‘cái này là cái gì vậy?’ Để trả lời câu hỏi này, con người luôn cố gắng bằng mọi giá để hiểu và diễn tả cái mà mình muốn biết ngang qua những sự liên hệ trong tư tưởng như màu sắc, âm thanh, mùi vị, trạng thái… Vì thế, để biểu đạt cho mối tương quan này, con người tìm cách đặt cho sự vật một cái tên hay một danh xưng cụ thể theo những cách thức hình thành khác nhau.

HỌC VIỆN THÁNH GIUSE – DÒNG TÊN VIỆT NAM

Học viên thực hiện: Phaolô Lê Văn Kiều, S.J.

Giáo sư hướng dẫn: Phaolô Đậu Văn Hồng

Tháng 03 năm 2021

...Tiếp theo Phần 1 Chương 1...

Vận dụng từ nguyên học

Đối với các nhà tư tưởng và các triết gia Hy Lạp, “từ nguyên học thường được sử dụng, bằng cách này hay cách khác, để tìm ra những dấu vết quan trọng nơi mỗi từ ngữ hay tên gọi, nhờ đó các triết gia có thể khám phá được phần nào ý nghĩa, nội dung của tên gọi đó; ngay cả khi tên gọi đó hàm chứa một ý nghĩa huyền nhiệm ẩn kín.”[28] Ví dụ, trong tác phẩm Phaedrus, theo Socrates, từ “eros” (love – tình yêu) có gốc từ nguyên là “rhome” (strength – sức mạnh). Theo lối trích nguyên ngữ này, trong “eros” (tình yêu) có hàm chứa sức mạnh.[29]

Như vậy, nhờ việc vận dụng ‘từ nguyên học’ hay ‘chẻ từ’ người ta có thể tìm ra nguồn gốc của từng chi tiết nhỏ nơi mỗi tên gọi, vốn tạo nên bản chất tổng thể nơi tên gọi, và xem nó có trùng khớp với bản chất sự vật hay không. Đồng thời, theo chiều ngược lại, nhờ vào việc biết rõ ý nghĩa của các từ gốc, người ta cũng có thể gầy dựng nên những tên gọi diễn tả đúng với bản chất của sự vật. Và đây chính là phương pháp mà Socrates đề nghị với Hermogenes cùng suy xét hầu có thể tìm thấy sự chuẩn xác của tên gọi. Hay nói cách khác, trong Cratylus, việc áp dụng ‘từ nguyên học’ giúp người ta “khám phá hệ thống các thành phần cấu thành nên tên gọi, nhờ đó tìm ra được sự diễn tả chân thực nhất về sự vật.”[30] Tuy nhiên, nếu suy xét sâu xa hơn, sẽ có người đặt vấn đề, vậy đâu là những từ ngữ hay tên gọi đầu tiên (gốc từ) để từ đó người ta có thể dựa vào mà xác định những cái tên tiếp theo?

Mọi tên gọi đều có nguồn gốc

Theo Socrates, các từ gốc là những từ không thể bị phân tách; chúng mang một nghĩa và chỉ diễn tả bản chất của một sự vật mà thôi (422c-d). Dĩ nhiên, những từ gốc này được coi là những từ ngữ diễn tả chuẩn xác bản chất của sự vật. Vì thế, “các từ phát sinh chỉ có thể được giải thích bởi các từ phát xuất hay từ gốc của nó.” (426a) Tức có nghĩa, nếu người ta không biết sự chuẩn xác của các từ hay tên gọi gốc, người ta cũng sẽ không thể nào biết được sự chuẩn xác của các tên gọi phát sinh từ tên gốc. [31] Vậy, đâu là điểm khởi của những từ hay tên gốc này?

Với Socrates, các từ hay tên gọi gốc không đến từ việc bắt chước gọi theo các phẩm tính của sự vật như màu sắc, âm điệu giống như trong hội họa hay âm nhạc để tạo nên các tác phẩm nghệ thuật, nhưng đến từ bản chất hay yếu tính của sự vật; “mỗi sự vật đều có bản chất riêng của nó.” (423e) Như vậy, các từ gốc được hình thành qua việc “sắp đặt các ký tự và âm tiết lại với nhau dựa trên bản chất, yếu tính của sự vật theo một kết cấu hoàn toàn tự nhiên, và có tính thống nhất ngang qua bàn tay nhào nặn của những người đặt tên (the name-giver).”[32]

Soc. Anh có đồng ý rằng, bản chất của mỗi sự vật không chỉ là cái mà người ta gọi là màu sắc hoặc âm thanh?

Her. Tôi nghĩ vậy.

Soc. Còn nếu như ai đó có thể diễn tả bản chất của một sự vật ngang qua những âm thanh và âm tiết, liệu rằng người đó có đang diễn tả bản chất của sự vật?

Her. Tôi tin rằng điều này là đúng. (423e)

Cũng cần phải để ý rằng, các âm thanh và các âm tiết chỉ là những thành phần hay yếu tố của tên gọi, chứ không phải là các tên gọi. Cũng giống như người họa sĩ sử dụng các màu sắc khác nhau để tạo nên một bức tranh, ‘âm thanh và âm tiết’ được ví như các loại màu sắc tạo nên một bức tranh, chứ không phải là bức tranh (434a-b). Tuy nhiên, điều này cũng không phủ nhận rằng, các ký tự hay âm tiết không hàm chứa bất kỳ nghĩa nào. Ví dụ, cả Socrates và Cratylus đều đồng ý với nhau là ký tự “ρ” diễn tả sự chuyển động, cứng rắn; ký tự “λ” diễn tả sự nhẹ nhàng, mềm mại (434c-d).[33]

Áp dụng từ nguyên luận

Một vài ví dụ sau đây sẽ minh họa cho việc sử dụng ‘từ nguyên học’ mà Socrates đã nói. Trong tiếng Hy lạp, tên gọi ‘agathon’ (goodness – tốt lành) sẽ được phân tích thành hai từ khác là “agaston” (admirable – ngưỡng mộ) và “thoon” (fast – nhanh chóng); “thoon” có thể được phân thích xa hơn nữa từ gốc “rhoe” (flowing – chảy) (412c). Do vậy, những thành phần hay cấu tố tạo nên từ “agathon – goodness” không phải là một sự sắp đặt và kết hợp một cách tùy ý nhằm diễn tả bản chất của sự tốt lành; nhưng đúng hơn, đó là sự kết hợp của tất cả những gốc từ có thể diễn tả bản chất của từ “goodness – tốt lành”, vốn được các nhà ngôn ngữ sắp đặt.

Với tên gọi “alios” (the sun – mặt trời), tên gọi này được gán cho “mặt trời” bởi vì khi mặt trời ló rạng, nó sẽ quy tụ (alizoi) mọi người lại; hay bởi vì nó luôn quay quanh trái đất (aei eilein ion) (409a-b). Với từ “ngôi sao” (astra – star), từ này có lẽ xuất phát từ gốc ‘astrape’ biểu thị nỗi buồn trên đôi mắt (409c). Còn rất nhiều những tên gọi khác được bàn đến trong cuộc đối thoại này, nhưng tựu chung lại, tất cả đều được phân tích và chỉ cho thấy mọi tên gọi đều có nguồn gốc hay nguyên ngữ riêng, vốn được xem như nền tảng để hình thành nên các tên gọi.

Như vậy, có thể xem việc vận dụng ‘từ nguyên học’ như là một giải pháp hiệu quả giúp tìm ra nguồn gốc hay bản chất thực sự của sự vật, đồng thời cũng là cơ sở để người ta đặt tên cho sự vật mà không làm mất đi bản chất của nó. Quả thực, nếu người ta có thể làm được điều này, có lẽ vấn đề khoảng cách giữa tên gọi hay danh từ và thực tại sự vật chẳng còn nữa. Tuy nhiên, thực tế lại cho thấy khác. Tất cả những gì phân tích ở đây về ‘từ nguyên học’, hay cụ thể là tìm về với gốc từ, đâu đó vẫn chỉ là những phỏng đoán, không thực sự chắc chắn; đồng thời, việc xác định đâu là từ gốc và đâu là từ phát sinh cũng không hề đơn giản. Xem ra ‘bản chất thuyết’ mà Cratylus đề nghị cũng vấp phải những khó khăn không hề nhỏ.

Ngôn ngữ lý tưởng và khả năng để hình thành tên gọi lý tưởng

Có thể nói, ‘bản chất thuyết’ mà Cratylus đề nghị là một lý thuyết đáng mong ước, bởi vì nếu tên gọi sự vật trùng khớp với thực tại của chính nó, thì những tranh luận trong suốt dòng lịch sử triết học về những câu hỏi liên quan như ‘sự vật là gì, nó như thế nào, bản chất thực sự của nó là gì?’ đã có được lời giải đáp rõ ràng. Đây có thể xem là những tên gọi lý tưởng, hay xa hơn nữa người ta có thể vươn tới một thứ ngôn ngữ lý tưởng nếu ‘bản chất thuyết’ có thể hiện thực hóa. Tuy nhiên, từ cuộc đối thoại Cratylus, ban đầu Socrates có vẻ bênh vực và ra tay bảo vệ ‘bản chất thuyết’ trước sự tấn công của Hermogenes; nhưng sau đó, Socrates lại dành cho ‘bản chất thuyết’ những phê bình rất sắc bén.

Vấn đề mà Socrates tập trung tra vấn và phê bình vẫn xoay quanh câu hỏi: có hay không sự chuẩn xác của tên gọi khi áp dụng ‘từ nguyên học’ để tìm ra chân tướng của sự vật? Theo ông, việc ‘chiết tự’ khá máy móc này, tuy có thể đạt tới những tên gọi hay từ ngữ nguyên gốc không thể phân tách được hơn nữa (421e-422c), nhưng chính các gốc từ này lại mang những ý nghĩa rời rạc và rất khó để nối kết lại. Tính chuẩn xác của những từ gốc này cũng là một vấn đề rất khó xác định; và nếu giả như có đi chăng nữa, thì sự chuẩn xác của những gốc từ này phải hệ ở một cái gì đó nền tảng hơn nhiều so với những sự diễn tả mang tính gượng ép, áp đặt.[34]

Trước sự tra vấn này của Socrates, Cratylus lý luận rằng: “mọi tên gọi đều được thiết lập cách chuẩn xác”, (429b) bởi vì “các nguyên tắc thiết lập nên chúng (tên gọi) đều duy trì mối liên hệ bản chất giữa chúng với những sự vật được gọi tên.”[35] Theo Cratylus, mối liên hệ này là mối liên hệ của sự tương đồng hay bắt chước giữa tên gọi và sự vật; điều này cũng giống như việc xem các bức tranh là sự diễn tả theo kiểu bắt chước sự vật (430b). Tuy nhiên, với vô vàn sự vật, hiện tượng có mặt trong vũ trụ này, làm sao người ta có thể tạo ra tên gọi theo kiểu bắt chước mà không gặp phải bất kỳ sự trùng lặp nào. Chắc chắn, phải có những quy tắc nhất định trong việc đặt tên mới có thể giúp tránh khỏi sự trùng lặp này. Vì thế, ý tưởng về một mối liên hệ bản chất giữa tên gọi và sự vật đặt nền trên sự tương đồng để đặt tên cho sự vật hầu chắc không thể xảy ra và không hoàn hảo.

Lại nữa, cũng theo ‘bản chất thuyết’, “nếu sự vật chỉ có thể được nhận biết ngang qua tên gọi của nó, vậy làm sao chúng ta có thể khẳng định nhà sáng chế tên gọi biết rõ bản chất sự vật trước cả khi người đó đặt tên cho sự vật?” (438b) Suy tới cùng, ai là người đầu tiên đặt ra những tên gọi nguyên gốc, ai là người biết rõ bản chất sự vật trước khi đặt cho nó một cái tên? Quả thực, Cratylus đã phải thừa nhận: “thưa ông Socrates, tôi tin rằng phải có một đấng mang năng lực và khả năng mạnh hơn những gì con người có thể, chính đấng đó sẽ đặt những tên gọi đầu tiên cho sự vật. Những tên gọi được trao ban này thực sự là những tên gọi chuẩn xác.” (438c)

Như vậy, một khi bị tra vấn tới cùng, Cratylus buộc lòng phải nại tới yếu tố siêu hình khi thừa nhận có một năng lực trổi vượt trên khả năng của con người, thiết định nên những tên gọi đầu tiên. Nói như thế, dường như ‘bản chất thuyết’ mà Cratylus đã ra sức bảo vệ lại rơi vào thế giới duy tâm, quy mọi sự về với siêu hình. Vì vậy, có lẽ Cratylus cũng phải chấp nhận rằng khả năng tri thức của con người có giới hạn, và việc truy nguyên bản chất thực tại sự vật cũng chỉ có thể đạt tới một mức độ nào đó, chứ không thể đi tới cái được gọi là tận cùng, là gốc rễ.

Nói tóm lại, việc hình thành nên những tên gọi lý tưởng như ‘bản chất thuyết’ đưa ra về mặt lý thuyết là đáng được ca ngợi, bởi vì sự chuẩn xác tuyệt đối mà nó mang lại. Hay nói đúng hơn, sự chênh lệch khoảng cách giữa tên gọi là thực tại sự vật sẽ không còn nếu người ta có thể tuyệt đối tuân theo ‘bản chất thuyết’. Nhưng đồng thời, chắc hẳn, ai cũng phải thừa nhận, có những tên gọi, mặc dù chỉ ám chỉ một chút, thậm chí là không hàm chứa sự liên hệ rõ ràng nào với sự vật được gọi tên, vẫn được mọi người sử dụng; và khi xướng gọi tên lên, mọi người vẫn có thể hiểu điều người nói muốn ám chỉ. Như thế, mối quan hệ giữa tên gọi và sự vật không nhất thiết luôn phải mang yếu tố của ‘bản chất thuyết’, nhưng đâu đó còn có sự đồng thuận hay quy tắc chung giữa những người sử dụng. Và khi đó, tên gọi và thực tại sự vật dường như không nhất thiết phải là một, đã có một khoảng cách chênh lệch nào đó giữa tên gọi và thực tại sự vật.

Chương 2

Tồn tại một khoảng cách đáng kể giữa tên gọi và thực tại sự vật

Những gì được trình bày trong chương một là một nỗ lực của người viết với mục đích làm nổi bật quan niệm về một tên gọi lý tưởng, và đáng ao ước mà Cratylus đề cập. Như thế, những luận điểm được đưa ra chủ yếu dựa trên sự tổng hợp, phân tích và gom góp từ những mẩu đối thoại rải rác trong tác phẩm nhằm nhấn mạnh rằng, dường như trong chương một Socrates rất mực bênh vực ‘bản chất thuyết’ của Cratylus, và tìm mọi cách để thuyết phục Hermogenes đón nhận lý thuyết này. Tuy nhiên, cuộc đối thoại sẽ không trọn vẹn nếu chỉ có một chiều như thế. Thực ra, tất cả các nhân vật đều được giãi bày, biện minh cho quan điểm của riêng mình. Chính vì thế, ngay từ đầu cuộc đối thoại, trước khi được Socrates soi dẫn bằng những giải thích và lập luận sắc bén về sự chuẩn xác của tên gọi theo Cratylus, Hermogenes vẫn có cơ hội bảo vệ quan điểm về sự chuẩn xác của tên gọi, vốn được xây nền trên ‘quy ước thuyết’ (conventionalism) mà ông đề xuất. Vì vậy, chương hai này sẽ là những phân tích, tổng hợp và phê bình để làm nổi bật tiếng nói của Hermogenes, đặc biệt là quan điểm về ‘quy ước thuyết’ của ông.

Tên gọi là sự quy ước

Không đồng tình với ‘bản chất thuyết’ mà Cratylus đề nghị, cùng với đó có lẽ là sự bất bình và không được thuyết phục khi Cratylus cho rằng tên gọi Hermogenes không phải là một tên gọi chuẩn xác (383b). Hermogenes nói:

Her. Sau những cuộc bàn luận với Cratylus và nhiều người khác, tôi xác tín, chẳng có sự chuẩn xác nào của tên gọi cho bằng đó là sự quy ước và đồng thuận. Với tôi, bất cứ tên gọi nào mà người ta dùng để gọi tên sự vật đều là chính xác. Và nếu tên gọi đó được thay đổi thành một tên khác, thì cái tên mới này vẫn không hề kém chuẩn xác hơn tên gọi trước đây. Ví dụ, khi chúng ta đặt tên cho người nô lệ của mình, tên mới cũng chuẩn xác như tên cũ. Chẳng hề có cái tên nào lệ thuộc vào một sự vật cụ thể do bởi bản chất, nhưng chỉ bởi những quy luật và thói quen sử dụng của những người thiết lập và sử dụng tên gọi đó. (384c-d)

Hermogenes cho thấy lập trường về sự chuẩn xác của tên gọi của ông vốn được hình thành là do sự quy ước và đồng thuận, và bất cứ tên gọi nào được người ta đặt đều chuẩn xác (384c). Nghĩa là, việc đặt tên cho dẫu chỉ là sự quy gán, nhưng cũng đủ để có thể tạo nên sự chuẩn xác cho tên gọi. Vì thế, khi một ai đó quyết định thay đổi một tên gọi nào đó, người đó có thể thực hiện cách dễ dàng, và việc thay đổi này tự nó được xác chuẩn. Hermogenes minh họa điều này qua việc nại đến truyền thống Hy Lạp trong việc đổi tên những người nô lệ trong nhà. Khi có một người nô lệ mới, ông chủ hoàn toàn có quyền thay đổi tên cho người này, tùy theo ý muốn của ông “hoặc đặt cho người nô lệ một cái tên mới theo tiếng Hy Lạp, hoặc chỉnh sửa tên cũ và gán cho nó một ý nghĩa trong tiếng Hy Lạp.”[36] Điều này ngụ ý “người nô lệ sẽ không có một cái tên riêng biệt, duy nhất.”[37] Dù có đặt tên theo cách nào đi nữa, thì tên gọi mới vẫn là một tên gọi chuẩn xác như tên gọi cũ. Như thế, “cùng là một sự vật, nhưng có thể mang nhiều tên gọi khác nhau tùy thuộc vào từng hoàn cảnh, thời đại và con người.”[38] Tuy nhiên, liệu rằng việc đặt tên mới hoặc thay đổi tên gọi có cần phải bám theo tên gọi hay sự chuẩn xác của tên gọi cũ hay không? Có hay không một nền tảng chung cho việc theo đuổi ‘quy ước thuyết’, hay tất cả chỉ là việc gọi tên một cách tùy tiện, theo ý muốn của người đặt tên?

Hermogenes không đưa ra bất cứ giải thích nào cụ thể về điều này, tuy nhiên theo lối giải thích của tác giả John. E Joseph trong tác phẩm Limiting the Arbitrary:Linguistic Naturalism and Its Opposites in Plato’s Cratylus and the Modern Theories of Language , “sự chuẩn xác của tên gọi mới phải được dựa trên sự chuẩn xác của tên gọi cũ hay tên gọi ban đầu”[39], bởi vì theo ông Hermogenes đã hiểu việc thay đổi tên gọi của người nô lệ đơn thuần chỉ như việc chuyển dịch tên người nô lệ đó sang tiếng Hy Lạp, hay gán cho người đó một tên gọi khác nhưng không thể nào thay đổi sự thật “người đó vẫn là nô lệ.”[40] Như thế, ngay cả khi một tên gọi mới xuất hiện thì tên gọi cũ vẫn duy trì sự chuẩn xác của nó dù không ai còn sử dụng nó. Tuy nhiên, với người viết, lối giải thích này của Joseph dường như không giải quyết được tuyên bố trước đó của Hermogenes: “giữa các tên gọi không có bất kỳ sự lệ thuộc nào cả về bản chất, chúng đơn thuần chỉ là quy ước và thói quen của người sử dụng.” (384d) Như thế, tên gọi mới có thể hoàn toàn độc lập với tên gọi cũ, và sự chuẩn xác của nó luôn được đảm bảo. Và vì vậy, ‘quy ước thuyết’ mà Hermogenes đề nghị có thể được áp dụng cho việc thiết lập tên gọi dành cho mọi người; “ai cũng có thể được coi là nhà sáng chế ngôn ngữ.”[41] Tuy nhiên, liệu rằng ‘quy ước thuyết’ và sự tự do trong việc thiết lập tên gọi này như những gì Hermogenes tuyên bố có đủ sức thuyết phục, và tự nó có đủ để làm nên sự chuẩn xác của tên gọi khi được để xướng?

Sự chuẩn xác của tên gọi khi được phát biểu, xướng gọi

Ngay sau khi Hermogenes trình bày quan niệm của mình về sự chuẩn xác của danh từ vốn có thể được tạo nên bởi bất kỳ ai, Socrates lập tức khơi mào công cuộc tra hỏi Hermogenes liên quan tới khả năng tồn tại của một câu văn và một tên gọi chuẩn xác.

Soc. Anh có thừa nhận rằng phải chăng trong những điều anh từng nói ra, có một số điều là chuẩn xác, và cũng có những thứ là sai lầm hay không chuẩn xác?

Her. Đúng là có chuyện đó.

Soc. Phải chăng có một số mệnh đề là chính xác, trong khi cũng có một số mệnh đề là sai?

Her. Chắc chắn rồi.

Soc. Vậy có phải một mệnh đề đúng cho thấy điều nó là, trong khi một mệnh đề sai cho thấy cái nó không là?

Her. Đúng rồi.

Soc. Tuy nhiên, chả lẽ một mệnh đề được xét là đúng trong một tổng thể, mà vẫn có những phần sai?

Her. Không phải thế, các thành phần trong mệnh đề cũng phải đúng như trong tổng thể.

Soc. Phải chăng các thành phần, thành phần lớn thì đúng, còn các thành phần nhỏ không nhất thiết cần phải đúng, hay tất cả đều phải đúng?

Her. Theo tôi, tất cả chúng phải đúng.

Soc. Liệu rằng có một phần của mệnh đề còn nhỏ hơn cả một tên gọi?

Her. Không có, tên gọi là phần nhỏ nhất.

Soc. Tên gọi có phải là một phần trong một mệnh đề đúng?

Her. Đúng rồi.

Soc. Phải chăng một phần nhỏ của một mệnh đề là sai, thì mệnh đề đó cũng là sai?

Her. Ngài nói đúng.

Soc. Vậy nếu các mệnh đề có thể là đúng hoặc sai, thì các tên gọi cũng có thể đúng hoặc sai?

Her. Có thể suy luận như thế. (385b-d)

Tên gọi trong mệnh đề

Khác với quan điểm mà Hermogenes đề nghị – mọi tên gọi đều chuẩn xác, theo Socrates tên gọi có đúng, có sai (385d). Điều này khởi đi từ việc Socrates cho rằng trong những câu nói hay thông tin mà người ta trao đổi vẫn có những điều đúng và cũng có điều sai (385b). Từ đó Socrates dẫn Hermogenes tới lập luận: trong các mệnh đề độc lập có mệnh đề đúng, có mệnh đề sai, và Hermogenes thừa nhận trường hợp này có thể xảy ra. Vấn đề còn được đẩy đi xa hơn khi suy xét đến các thành phần nhỏ hơn trong mệnh đề, với câu hỏi: liệu có chăng một mệnh đề tổng thể có thể đúng, trong khi các thành phần của nó có thể sai? Hermogenes đi tới chỗ phải đồng ý với lập luận trên của Socrates. Điều đưa tới một hệ quả song song: trong một mệnh đề đúng, thì các thành phần nhỏ trong nó cũng phải đúng; và ngược lại, trong một mệnh đề sai, các thành phần nhỏ bên trong nó có thành phần sai. Bởi vì, tên gọi là một thành phần nhỏ trong mệnh đề, nên tên gọi có đúng, và có sai.

Tuy nhiên, nếu xem xét kỹ lưỡng, dường như “Socrates đang dùng lối ‘ngụy biện thành phần’ (fallacy of division) để dẫn dắt Hermogenes đi theo quan niệm của ông.”[42] Trong những câu hỏi đầu tiên, Socrates ngụ ý rằng một mệnh đề có thể đúng mà không cần xem xét tới giá trị-chân lý (truth-value) của các thành phần trong nó; và nếu như vậy, rõ ràng “giá trị-chân lý của một mệnh đề tổng thể sẽ chẳng lệ thuộc vào giá trị-chân lý của các thành phần.”[43] Điều này khiến Hermogenes phải đi tới chỗ hoặc thừa nhận, hoặc chối bỏ phát biểu ‘một mệnh đề có thể đúng mà không liên quan tới việc xem xét liệu rằng các thành phần của nó là đúng hay sai’. Thực tế, Hermogenes khẳng định: “nếu một mệnh đề đúng thì mọi thành phần trong nó cũng đúng.” (385c) Câu nói này cũng tương tự như câu nói ‘nếu Mỹ là một đất nước giàu, thì mọi người trong đất nước Mỹ đều giàu có’. Như thế, phải chăng Socrates đã tạo ra một cái bẫy – một lối ngụy biện khôn ngoan để lèo lái Hermogenes đi vào sai lầm, và rơi vào thế tự đối nghịch với chính mình vì trước đó ông đã nói: “mọi tên gọi đều chuẩn xác”. (384c) Tuy nhiên, đây có thực sự là ý đồ hay là cái bẫy mà Socrates đặt ra cho Hermogenes; hay đây chỉ là lối nẻo mà Socrates muốn giúp Hermogenes đi tìm hiểu sâu hơn về ‘quy ước thuyết’.

Vai trò của tên gọi trong mệnh đề

Có lẽ, cần phải khẳng định rằng những gì Socrates nhắm tới không phải là tạo nên một cái bẫy qua việc vận dụng lối ‘ngụy biện thành phần’; nhưng đúng hơn, điều Socrates muốn nhấn mạnh ở đây chính là “vai trò của tên gọi trong một mệnh đề”.[44] Tên gọi được xem là một thành phần trong một mệnh đề, và nó hàm chứa giá trị-chân lý trong mệnh đề. Bao lâu tên gọi còn được bao bọc, và là thành phần của mệnh đề, bấy lâu tên gọi mang trong nó giá trị-chân lý. Như thế, tên gọi có thể là đúng hay sai chỉ khi nó là thành phần của một mệnh đề đúng hay sai. Đồng thời, nếu như Socrates có thể chỉ cho thấy tên gọi hàm chứa trong nó những giá trị-chân lý khi đặt trong những mệnh đề cụ thể, thì ông đã gầy dựng nên một phát biểu: “phải có một cái gì đó được gọi là sự chuẩn xác của tên gọi.”[45] Và do đó, có thể rút ra kết luận: tồn tại sự chuẩn xác của tên gọi.

Tuy nhiên, theo ‘quy ước thuyết’, chỉ việc đặt tên cho một sự vật nào đó thôi cũng đủ để xác định sự chuẩn xác của nó; nghĩa là ‘con người’ có thể được gọi là ‘con ngựa’ nếu như người ta quyết định như vậy, và chiều ngược lại (gọi con ngựa là con người) cũng vẫn đúng. Như thế, không thể xảy ra trường hợp có một tên gọi nào đó là không chuẩn xác. Và vì vậy, theo quan điểm này, sự phân biệt giữa sự chuẩn xác và không chuẩn xác của tên gọi là không cần thiết. Đến đây, vấn đề về sự chuẩn xác của tên gọi vẫn chưa được thống nhất, vì có sự khác biệt rất lớn nơi quan điểm của Socrates và Hermogenes như đã nói ở trên. Xem ra ‘quy ước thuyết’ đang mang trong mình những nút thắt không hề dễ tháo cởi.

Con người chủ động

Trái ngược với ‘bản chất thuyết’ Cratylus đề cập – nơi đó con người dường như trong tâm thế bị động, nhún nhường để sự vật tỏ lộ cái nó là cho mình, ‘quy ước thuyết’ lại đặt con người trong tâm thế chủ động. Nghĩa là thay vì để sự vật lôi kéo, con người giờ đây chủ động tiếp cận sự vật và muốn gán cho sự vật một cái tên gọi theo ý muốn của riêng mình. Sự chủ động này có thể được thực hiện ở cả nơi cá nhân và tập thể.

Soc: Hermogenes, có phải anh đang cho rằng bất cứ điều gì mà ai đó gọi tên một sự vật cụ thể đều là chính xác?

Her: đúng như vậy.

Soc: đó là một quyết định của một cá nhân hay một tập thể?

Her: cả hai, thưa ông.

Soc: Điều này nghĩa là gì? Giả như hiện tại tôi gọi “sự vật (người)” nào đó là “người” – tên gọi mà chúng ta vẫn thường gọi, nhưng sau đó cá nhân tôi lại muốn gọi tên đó là “ngựa”, liệu rằng có xảy ra trường hợp cùng một sự vật vừa có tên gọi chung là “người”, nhưng cũng có tên gọi riêng là “ngựa”?

Her: đúng như ngài nói đó. (384d-385a)

Trên bình diện cá nhân và tập thể

Trước hết, xét từ khía cạnh cá nhân, Hermogenes cho rằng bất kỳ ai cùng có thể gọi tên cho sự vật miễn là người đó sử dụng tên gọi đó. Hay nói cách khác, yếu tố “sử dụng của tên gọi được nhấn mạnh; tên gọi phải được sử dụng trong hoàn cảnh thực tế. Ngay cả khi tên gọi mà một cá nhân sử dụng trái ngược, hay khác biệt với tên gọi mà một tập thể vẫn gọi, thì sự chuẩn xác của tên gọi đó vẫn được duy trì.”[46] Nghĩa là, nếu giả như ai đó gọi ‘con người’ là ‘ngựa’ và gọi ‘ngựa’ là ‘người’ thì việc gọi này cũng chuẩn xác như việc một tập thể gọi ‘người’ là ‘người’ và ‘ngựa’ là ‘ngựa’. Tuy nhiên, liệu đây có có phải là “hình thái của ‘duy chủ quan’ (subjectivism) khi tên gọi là do quyết định của mỗi cá nhân?”[47]

Nếu xét từ khía cạnh tập thể, tên gọi chính là sự đồng thuận của một nhóm người đối với một sự vật và tên gọi này được sử dụng chung trong tập thể đó. Dĩ nhiên, tên gọi này cũng có thể do một cá nhân đề xướng, nhưng nó cần phải có sự thống nhất của tập thể; hẳn rằng theo ‘quy ước thuyết’ tên gọi đó là một tên gọi chuẩn xác. Như thế, có lẽ Hermogenes cũng thừa nhận rằng có sự xuất hiện của yếu tố truyền thống và thói quen của một tập thể trong việc đặt tên. Một tên gọi cho một sự vật, chất chứa nơi nó cả một truyền thống lịch sử, nét đặc trưng văn hóa riêng của một nhóm người. Điều này giải thích được tại sao, cùng là một sự vật hay hiện tượng, các nhóm người khác nhau lại gọi chúng bằng những tên gọi khác nhau. Đây cũng là lý do giải thích cho sự tồn tại của nhiều ngôn ngữ khác nhau. “Tôi gọi tên một sự vật bằng cái tên mà tôi đặt cho nó; ngài gọi nó bằng một cái tên khác mà ngài đặt ra. Tương tự vậy, các nhóm người khác nhau cũng có những tên gọi khác nhau cho cùng một sự vật”. (385d-e)

Như vậy, với những giải thích về ‘quy ước thuyết’ như trên, có thể rút ra một kết luận, sự chuẩn xác của tên gọi trên bình diện cá nhân, không hề có sự thua kém so với sự chuẩn xác của tên gọi trên bình diện tập thể. Cả hai cách lối đặt tên đều được chấp nhận, miễn là tên gọi đó được người ta đề xướng và sử dụng khi diễn tả sự vật, bất chấp tên gọi đó có diễn tả được bản chất sự vật hay không. Rõ ràng, điều này “có thể tránh được sự phân biệt giữa tên gọi riêng và tên gọi chung (langage privé et langage public).”[48] Tuy nhiên, nếu bỏ qua sự phân biệt như thế, thì phải chăng ‘quy ước thuyết’ đã bước vào thế giới của ‘tương đối thuyết’ (relativism)?

Con người – thước đo cho mọi sự và tính tương đối của tên gọi

Khi nói rằng mọi người đều có khả năng, sự chủ động, và thẩm quyền để quyết định tên gọi cho sự vật, dường như Hermogenes đang đưa người ta tới xác quyết: ‘con người là thước đo, là cán cân cho mọi sự’. Liệu khẳng định này có chuẩn xác và có đủ sức thuyết phục Socrates và Cratylus? “Liệu rằng sự vật tồn tại với bản chất riêng biệt của nó, hay chỉ đơn thuần tồn tại nơi sự quy ước của con người?”[49] Socrates quyết định bàn luận thẳng thắn với Hermogenes về vấn đề này:

Soc. Hermogenes, liệu rằng các sự vật xuất hiện trước mắt anh có giống với người khác hay không; hay phải chăng bản chất, tính chất của mỗi sự vật là riêng biệt và khác biệt với mỗi người giống như cách mà Protagoras đã nói với chúng ta: “con người là thước đo cho mọi sự.” Sự vật với tôi như là những gì nó xuất hiện với tôi; với bạn như là những gì tỏ lộ cho bạn. Liệu anh có đồng ý với quan điểm này không; anh có tin rằng sự vật có cái bản chất cố định bất biến của riêng nó?

Her. Ngài Socrates, đã có những lần tôi cảm thấy khó xử tới mức tôi đã phải nại đến lý thuyết của Protagoras, cho dù thực sự tôi không tin ở lý thuyết này. (386a)

Dường như Socrates đang đẩy Hermogenes vào thế tiến thoái lưỡng nan với câu hỏi liệu Hermogenes có đồng tình với Protagoras về ‘tương đối thuyết’ – ‘con người là thước đo cho mọi sự’. Theo quan điểm này, “cách lối mà sự vật xuất hiện cho con người được coi là chính sự vật.”[50] Như thế, những gì sự vật tỏ lộ với người này sẽ khác biệt so với những gì sự vật tỏ lộ cho người khác. Do vậy, không thể có sự tồn tại của phát biểu cho rằng tên gọi này chính xác hơn tên gọi kia, khi cùng chỉ một sự vật; mọi tên gọi có thể đặt cho một sự vật đều ở vị thế ngang hàng nhau và tất cả đều đúng. Để đáp lại, Hermogenes không ngần ngại thừa nhận, dẫu không tin vào lý thuyết này, những đã có những lúc trong tình cảnh bối rối ông đã nghiêng mình đi theo Protagoras. Một mặt Hermogenes chối bỏ tính đúng đắn nơi ‘tương đối thuyết’ – không có quan điểm nào chính hơn hơn quan điểm nào, nhưng mặt khác đã có những khi ông chấp nhận cách vội vã và gượng ép quan điểm này. Như thế, hẳn rằng ở đây, Hermogenes không đồng tình với phát biểu ‘con người là thước đo cho mọi sự’. Tuy nhiên, việc không đồng tình này cũng tạo nên cho Hermogenes không ít khó khăn vì chính ông đã tuyên bố ‘mọi tên gọi đều là chuẩn xác và mọi người đều có thể đặt tên cho sự vật theo ý mình’.

Trước những khó khăn mà Hermogenes đang vấp phải, thay vì tiếp tục tấn công, Socrates nỗ lực chỉ cho Hermogenes thấy những khiếm khuyết trong quan điểm ‘tương đối thuyết’ của Protagoras.

Soc. Có khi nào anh thực sự tin rằng không hề có cái gọi là một người xấu xa?

Her. Không, tôi không nghĩ như vậy. Tôi xác tín rằng có nhiều người rất xấu xa.

Soc. Anh nói gì vậy? Vậy anh có tin rằng chẳng hề có người tốt không?

Her. Không nhiều.

Soc. Vậy anh có tin rằng có một số người tốt?

Her. Tôi nghĩ là có.

Soc. Vậy anh nghĩ gì về những người tốt này? Họ có phải là những người khôn ngoan, còn những người xấu là những kẻ ngu ngốc?

Her. Đúng rồi, tôi nghĩ vậy.

Soc. Nhưng liệu rằng Protagoras đang nói cho chúng ta một chân lý? Nếu có chân lý rằng sự vật là những gì chúng là cho từng người, vậy làm sao có thể nói rằng người này khôn, người kia dại hay người này đúng, người kia sai?

Her. Điều này không thể xảy ra.

Soc. Dường như với tôi, anh đã thực sự xác tín mạnh mẽ rằng nếu có những người khôn ngoan và những người khờ dại, thì những gì Protagoras nói không phải là điều đúng đắn.

Her. Ngài nói đúng đó. (386b-d)

Qua hàng loạt câu hỏi, Socrates giúp Hermogenes tin rằng trên đời này chắc chắn có sự tồn tại của người tốt cũng như kẻ xấu, của những người khôn ngoan lẫn những người khờ dại. Trong khi đó, ‘tương đối thuyết’ với quan niệm ‘sự vật là những gì chúng là đối với từng người’ không thể giúp phân biệt sự tồn tại của người tốt và kẻ xấu, người khôn kẻ khờ vốn luôn hiện hữu trong cuộc sống. Tuy nhiên, dù có chối bỏ, nhưng ‘tương đối thuyết’ ít nhiều đã có những ảnh hưởng, hay nói đúng hơn là đã ngấm ngầm bào mòn ‘quy ước thuyết’. Hermogenes không thể loại trừ trường hợp ‘quy ước thuyết’ có thể can hệ tới ‘tương đối thuyết – hình dáng bên ngoài sự vật xác định bản chất của nó’, bởi vì dù sao chăng nữa ‘quy ước thuyết’ vẫn đặt nền trên những phán đoán mang tính chủ quan về mối liên hệ giữa tên gọi và sự vật. Nếu như nơi ‘tương đối thuyết’ người ta hoàn toàn có thể quy gán cho sự vật những bản chất khác nhau tùy thuộc vào cách lối mà sự vật xuất hiện với họ, thì nơi ‘quy ước thuyết’ người ta cũng hoàn toàn có tự do để quyết định gán một cái tên cho sự vật.[51] Theo lối diễn nghĩa này, rõ ràng quan điểm về tên gọi của sự vật theo Hermogenes ít nhiều rơi vào không gian của ‘chủ nghĩa tương đối’.

Để giúp Hermogenes hiểu tường tận vấn đề hơn nữa, Socrates tiếp tục giải thích chi tiết hơn khi nêu dẫn quan điểm của nhà ngụy biện Euthydemus: “sự vật đồng thời vừa là và vừa không là.”[52] Theo ông, “mọi sự đều sở hữu tất cả mọi thuộc tính có thể là trong cùng một thời điểm.” (386d) Nghĩa là người ta có thể vừa tốt vừa xấu, vừa khôn ngoan vừa dại khờ tại cùng một thời điểm. Rõ ràng quan điểm theo ‘tương đối thuyết’ như trên của Euthydemus không thuyết phục được Hermogenes, và buộc ông phải đồng tình với Socrates, “mỗi sự vật đều có bản chất riêng của nó” (386e). Socrates không ngần ngại nói:

Soc. Nếu như loại trừ quan điểm cho rằng mọi sự vật luôn sở hữu mọi thuộc tính có thể trong cùng một thời điểm, hay mỗi sự vật có bản chất của riêng nó tùy thuộc vào mỗi người, thì sẽ chẳng có gì là sai khi tuyên bố sự vật có bản chất cố định của riêng chúng. Chúng không có sự liên hệ với chúng ta, và cũng không thay đổi bởi cách thức mà chúng xuất hiện với chúng ta. Chúng là chính chúng trong tương quan với bản chất của chúng. (386d-e)

Việc chối bỏ ‘tương đối thuyết’ của Hermogenes ngụ ý ông chấp nhận quan điểm: bản chất của mỗi vật tùy thuộc vào chính vật đó, không lệ thuộc vào hình dáng bên ngoài, hay sự áp đặt suy nghĩ nơi con người. Như vậy, bản chất của sự vật đóng vai trò thiết yếu trong việc xác định tính chuẩn xác nơi tên gọi của chúng. Tuy nhiên, nếu quả thật sự chuẩn xác của tên gọi gắn chặt với bản chất của chúng, thì sự xuất hiện của ‘tương đối thuyết’ cho thấy rằng, ‘quy ước thuyết’ của Hermogenes không có sự mạch lạc và thống nhất khi nói ‘mọi người có quyền đặt tên cho sự vật và việc đặt tên xác định việc sử dụng tên gọi.’ Như thế, phải chăng ‘quy ước thuyết’ của Hermogenes đã tự mâu thuẫn với chính mình và hầu chắc không giúp ích gì trong việc hình thành và xác chuẩn tên gọi cho sự vật. Tuy vậy, nhìn vào thực tế, ắt hẳn mọi người đều phải đồng ý với nhau rằng, có rất nhiều tên gọi cần đến sự đóng góp của ‘quy ước thuyết’; và nếu không có sự có mặt của những quy ước về ngôn ngữ, chắc chắn việc hình thành tên gọi sẽ vấp phải không ít khó khăn. Vậy đâu là vai trò hay những cống hiến của ‘quy ước thuyết’ đối với việc hình thành và xác chuẩn tên gọi?

Vai trò của quy ước thuyết

Sau khi đưa ra hàng loạt những tra vấn và những luận lý với mục đích cùng nhau tìm hiểu kỹ hơn về ‘quy ước thuyết’, đặc biệt là việc đưa ra những phê bình rất sắc xảo, giờ đây trong những đoạn cuối cùng của cuộc đối thoại, Socrates lại dành cho ‘quy ước thuyết’ của Hermogenes những sự nhìn nhận khá tích cực. Ông đã ghi nhận những đóng góp mà ‘quy ước thuyết’ mang lại cho sự chuẩn xác của tên gọi.

Soc. Cratylus, với sự im lặng mà theo tôi có nghĩa là sự đồng tình của anh, tôi cho rằng quy ước chắc chắn có những đóng góp nhất định đối với việc trình bày hay làm tỏ rạng những tư tưởng của chúng ta. Ví dụ liên quan đến các con số, bằng cách nào anh có thể nghĩ rằng anh sẽ tìm ra đủ tất cả mọi tên gọi tương ứng cho từng con số mà không cần tới sự quy ước nào đó để xác định sự chuẩn xác của các tên gọi cho những con số? Tôi đồng tình với anh khi cho rằng tên gọi thì tương ứng với đối tượng cụ thể của nó. Tuy nhiên, tôi e rằng cho dù chúng ta đi theo ‘một con đường mòn’ như thế, chúng vẫn phải thừa nhận sự trợ giúp của những quy ước liên quan tới sự chuẩn xác của tên gọi. (435b)

Cho dù đã có những lúc tưởng chừng như Socrates phản bác và có những tra vấn rất gay gắt ‘quy ước thuyết’ của Hermogenes, nhưng cuối cùng Socrates vẫn phải đi tới việc nhìn nhận sự có mặt của ‘quy ước thuyết’ đối với sự hình thành và sự chuẩn xác của tên gọi. Không thể tạo ra những tên gọi cho vô vàn những con số khác nhau mà không tránh khỏi sự trùng lặp nơi các tên gọi. Tuy nhiên, chỉ cần sự có mặt của một vài quy luật mang tính quy ước là đủ để có thể giải quyết được vấn đề này. Các quy ước chính là những quy luật vừa giúp người đặt tên tránh khỏi những nhầm lẫn và sai sót, vừa làm cho các tên gọi trở nên thống nhất, dễ nhớ. Ví dụ trong tiếng Việt, các con số từ mười đến mười chín sẽ được đọc là mười, mười một, mười hai, mười ba…mười chín. Không chỉ riêng với các con số mà thôi, vẫn còn vô vàn những thứ khác trong thế giới này mà tên gọi của chúng cần tới những quy ước hay sự đồng thuận giữa con người với nhau. Như vậy, sự có mặt của ‘quy ước thuyết’ ít nhất cũng có thể cung cấp những tiêu chuẩn hay những sự thống nhất chung nào đó giúp cho việc hình thành trở nên nhất quán, mạch lạc và tránh khỏi những sự trùng lặp trong các tên gọi.

Hơn nữa, sự có mặt của ‘quy ước thuyết’ phần nào cũng cung cấp cho các nhà sáng chế ngôn ngữ những quy luật hay tiêu chuẩn chung nhất định khi cùng làm việc với nhau để tìm ra những tên gọi chuẩn xác nhất. Một ví dụ cụ thể, sự xuất hiện của một loại virus (COVID-19) gây nên đại dịch toàn cầu trong thời gian vừa qua như là một minh họa cho thấy việc tìm và đặt tên gọi cho loại virus này cũng không hề đơn giản nếu không có sự góp mặt của những quy ước.

Nói tóm lại, một mặt, tuy còn có rất nhiều những khúc mắc, thậm chí là những bất đồng chưa được giải quyết thỏa đáng nơi ‘quy ước thuyết’, nhưng đâu đó người ta vẫn có thể tìm thấy những áp dụng thực tế mà ‘quy ước thuyết’ đóng góp cho triết học ngôn ngữ nói chung và sự chuẩn xác của tên gọi nói riêng. Nhưng mặt khác, cũng không vì thế mà người ta có thể vội vã vận dụng triệt để ‘quy ước thuyết’, bởi vì dẫu sao chăng nữa một thứ khoảng cách quá lớn giữa tên gọi và thực tại sự vật sẽ gây ra không ít trở ngại trong việc truyền đạt và thâu nhận tri thức. Như vậy, cũng giống như ‘bản chất thuyết’, ‘quy ước thuyết’ cũng cần phải được điều chỉnh và vận dụng cách phù hợp, khéo léo trong việc hình thành và xác chuẩn tên gọi sự vật. Chính vì thế, giờ đây, đứng trước những vấn nạn mà ‘bản chất thuyết’ và ‘quy ước thuyết’ để lại, mỗi cá nhân như được gọi mời vận dụng vốn tri thức mình đã thâu nhận bằng cách này hay cách khác để vượt thắng hay tháo gỡ những nút thắt mà ‘bản chất thuyết’ và ‘quy ước’ thuyết để lại.

Nguồn: https://sjjs.edu.vn/

Đọc Phần 1 Đọc Phần 3

[28] Plato, Cratylus, trans. C.D.C. Reeve (Cambridge: Hackett Publishing Company, 1998), xii.

[29] Ibid., xiii.

[30] Franco V. Trivigno, “Etymology and the Power of Names in Plato’s Cratylus,” Ancient Philosophy 32, (2012): 37.

[31] Cf. Plato, Cratylus, trans. C.D.C. Reeve, xiv.

[32] Ibid.

[33] Ibid., 28.

[34] Cf. Paul Livingston, “Naturalism, Conventionalism and Forms of Life: Wittgenstein and the Cratylus,” Nordic Wittgenstein Review 4, no.2 (2015): 18.

[35] Ibid.

[36] Geoffrey Scott Bagwell, “A Study Plato’s Cratylus”, 19.

[37] Jean Greisch, Être et Langage: Introduction à L’ontologie – Le temps des Fondations, 269.

[38] Geoffrey Scott Bagwell, “A Study Plato’s Cratylus”, 20.

[39] J.E. Joseph, Limiting the Arbitrary, 18.

[40] Ibid.

[41] Ibid., 19.

[42] Geoffrey Scott Bagwell, “A Study Plato’s Cratylus”, 32.

[43] Ibid.

[44] Ibid., 33.

[45] Ibid., 34.

[46] Geoffrey Scott Bagwell, “A Study Plato’s Cratylus”, 22.

[47] Rachel Barney, Names and Nature in Plato’s Cratylus (New York: Routledge, 2001), 28.

[48] Jean Greisch, Être et Langage: Introduction à L’ontologie – Le Temps des Fondations, 270.

[49] Joseph John Earl, Limiting the Arbitrary, 23.

[50] Geoffrey Scott Bagwell, “A Study Plato’s Cratylus”, 38.

[51] Cf. David Sedley, Plato’s Cratylus (Cambridge: Cambridge University Press, 2003), 54-55.

[52] Melina G. Mouzala, “Names and Falsity in Plato’s Cratylus,” Journal of Classical Studies, vol.13 (2011): 59.