Vấn đề khoảng cách giữa tên gọi và thực tại sự vật trong tác phẩm Cratylus của Plato (Phần 3)
Sau khi đưa ra hàng loạt những tra vấn và những luận lý với mục đích cùng nhau tìm hiểu kỹ hơn về ‘quy ước thuyết’, đặc biệt là việc đưa ra những phê bình rất sắc xảo, giờ đây trong những đoạn cuối cùng của cuộc đối thoại, Socrates lại dành cho ‘quy ước thuyết’ của Hermogenes những sự nhìn nhận khá tích cực. Ông đã ghi nhận những đóng góp mà ‘quy ước thuyết’ mang lại cho sự chuẩn xác của tên gọi. Soc. Cratylus, với sự im lặng mà theo tôi có nghĩa là sự đồng tình của anh, tôi cho rằng quy ước chắc chắn có những đóng góp nhất định đối với việc trình bày hay làm tỏ rạng những tư tưởng của chúng ta. Ví dụ liên quan đến các con số, bằng cách nào anh có thể nghĩ rằng anh sẽ tìm ra đủ tất cả mọi tên gọi tương ứng cho từng con số mà không cần tới sự quy ước nào đó để xác định sự chuẩn xác của các tên gọi cho những con số? Tôi đồng tình với anh khi cho rằng tên gọi thì tương ứng với đối tượng cụ thể của nó. Tuy nhiên, tôi e rằng cho dù chúng ta đi theo ‘một con đường mòn’ như thế, chúng vẫn phải thừa nhận sự trợ giúp của những quy ước liên quan tới sự chuẩn xác của tên gọi. (435b) Cho dù đã có những lúc tưởng chừng như Socrates phản bác và có những tra vấn rất gay gắt ‘quy ước thuyết’ của Hermogenes, nhưng cuối cùng Socrates vẫn phải đi tới việc nhìn nhận sự có mặt của ‘quy ước thuyết’ đối với sự hình thành và sự chuẩn xác của tên gọi. Không thể tạo ra những tên gọi cho vô vàn những con số khác nhau mà không tránh khỏi sự trùng lặp nơi các tên gọi. Tuy nhiên, chỉ cần sự có mặt của một vài quy luật mang tính quy ước là đủ để có thể giải quyết được vấn đề này. Các quy ước chính là những quy luật vừa giúp người đặt tên tránh khỏi những nhầm lẫn và sai sót, vừa làm cho các tên gọi trở nên thống nhất, dễ nhớ. Ví dụ trong tiếng Việt, các con số từ mười đến mười chín sẽ được đọc là mười, mười một, mười hai, mười ba…mười chín. Không chỉ riêng với các con số mà thôi, vẫn còn vô vàn những thứ khác trong thế giới này mà tên gọi của chúng cần tới những quy ước hay sự đồng thuận giữa con người với nhau. Như vậy, sự có mặt của ‘quy ước thuyết’ ít nhất cũng có thể cung cấp những tiêu chuẩn hay những sự thống nhất chung nào đó giúp cho việc hình thành trở nên nhất quán, mạch lạc và tránh khỏi những sự trùng lặp trong các tên gọi. Hơn nữa, sự có mặt của ‘quy ước thuyết’ phần nào cũng cung cấp cho các nhà sáng chế ngôn ngữ những quy luật hay tiêu chuẩn chung nhất định khi cùng làm việc với nhau để tìm ra những tên gọi chuẩn xác nhất. Một ví dụ cụ thể, sự xuất hiện của một loại virus (COVID-19) gây nên đại dịch toàn cầu trong thời gian vừa qua như là một minh họa cho thấy việc tìm và đặt tên gọi cho loại virus này cũng không hề đơn giản nếu không có sự góp mặt của những quy ước. Nói tóm lại, một mặt, tuy còn có rất nhiều những khúc mắc, thậm chí là những bất đồng chưa được giải quyết thỏa đáng nơi ‘quy ước thuyết’, nhưng đâu đó người ta vẫn có thể tìm thấy những áp dụng thực tế mà ‘quy ước thuyết’ đóng góp cho triết học ngôn ngữ nói chung và sự chuẩn xác của tên gọi nói riêng. Nhưng mặt khác, cũng không vì thế mà người ta có thể vội vã vận dụng triệt để ‘quy ước thuyết’, bởi vì dẫu sao chăng nữa một thứ khoảng cách quá lớn giữa tên gọi và thực tại sự vật sẽ gây ra không ít trở ngại trong việc truyền đạt và thâu nhận tri thức. Như vậy, cũng giống như ‘bản chất thuyết’, ‘quy ước thuyết’ cũng cần phải được điều chỉnh và vận dụng cách phù hợp, khéo léo trong việc hình thành và xác chuẩn tên gọi sự vật. Chính vì thế, giờ đây, đứng trước những vấn nạn mà ‘bản chất thuyết’ và ‘quy ước thuyết’ để lại, mỗi cá nhân như được gọi mời vận dụng vốn tri thức mình đã thâu nhận bằng cách này hay cách khác để vượt thắng hay tháo gỡ những nút thắt mà ‘bản chất thuyết’ và ‘quy ước’ thuyết để lại.
HỌC VIỆN THÁNH GIUSE – DÒNG TÊN VIỆT NAM
Học viên thực hiện: Phaolô Lê Văn Kiều, S.J.
Giáo sư hướng dẫn: Phaolô Đậu Văn Hồng
Tháng 03 năm 2021
Chương 3
Vận dụng và thắng vượt khoảng cách chênh lệch giữa tên gọi và thực tại sự vật
Qua những gì đã được trình bày trong chương 1 và chương 2, có thể nói cả ‘bản chất thuyết’ lẫn ‘quy ước thuyết’ đều lưu giữ nhiều điểm đáng quý và người ta có thể đem một số yếu tố trong hai thuyết này áp dụng vào việc thiết lập và kiểm định tên gọi của sự vật. Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận rằng, cả hai lý thuyết đều không thiếu những yếu tố cần được duyệt xét và điều chỉnh. Thực ra, ‘bản chất thuyết’ về mặt lý thuyết có thể giúp xóa bỏ khoảng cách chênh lệch giữa tên gọi và thực tại sự vật, và gầy dựng nên một thứ tên gọi lý tưởng; nhưng trong thực tế, vấn đề không đơn giản là như thế, bởi vì câu hỏi ‘thực tại của sự vật là gì’ cũng còn là một vấn nạn không hề nhỏ trong suy tư triết học nơi con người. Còn về ‘quy ước thuyết’, dù đây là lý thuyết xem ra có thể áp dụng cách dễ dàng khi đặt tên, nhưng nó lại chưa thể giải quyết trọn vẹn vấn nạn về sự chuẩn xác của tên gọi nếu ai cũng có thể đặt tên cho sự vật. Tuy vậy, với nỗ lực suy tư triết học, một mặt, con người vẫn ý thức về khoảng cách không thể tránh khỏi giữa tên gọi và thực tại sự vật; nhưng mặt khác, việc ý thức này cũng mở lối, nhường chỗ cho nỗ lực nhằm điều chỉnh, giảm thiểu tối đa khoảng cách chênh lệch như đã nói qua những lối nẻo khác nhau.
Tiếp cận và vận dụng ngôn ngữ thi ca
Liên quan tới việc hình thành một tên gọi, cho dù không thể tìm ra được những tên gọi hoàn hảo và lý tưởng, nhưng cũng không vì thế mà người ta lại có thể tùy tiện đặt cho sự vật một tên gọi. Vì thế, khi được Hermogenes hỏi liệu có ai có thể giúp mình học biết về sự chuẩn xác của tên gọi, Socrates không ngần ngại giới thiệu cho Hermogenes đi vào trong thế giới của ngôn ngữ văn chương và thi ca. Cụ thể, Socrates nhắc tới Homer và các tác phẩm thi ca của ông.
Her. Trong những quan điểm về ‘tương đối thuyết’ và những điều mà Protagoras đề cập, thật là bất nhất cho tôi, nếu tôi bám víu vào những cuốn sách và những khẳng định của ông ta.
Soc. Vậy, nếu anh khước từ ông ta, anh phải học biết về Homer và các tác phẩm thi ca.
Her. Homer đã nói điều gì về tên gọi và ông ta nói ở những nơi đâu?
Soc. Ông ta thường xuyên nói về chúng – nhất là ở những chỗ ông ta phân biệt sự khác nhau giữa tên mà các thần và con người đặt cho sự vật. Anh có nghĩ, các thần sẽ gọi tên các sự vật theo đúng tên gọi bản chất của chúng.
Her. Tôi biết chắc chắn rằng nếu các thần gọi tên chúng bằng bất kỳ tên gọi nào, thì tất cả những tên đó đều chuẩn xác. (391c-d)
Qua cách giới thiệu này, hẳn rằng Socrates đánh giá rất cao giá trị và tính chuẩn xác của ngôn ngữ nói chung, và của tên gọi nói riêng trong văn chương thi ca; cụ thể là ở nơi Homer, với những tác phẩm trứ danh như Eliad và Odyssey vốn được xem là nguồn tư liệu cổ xưa nhất về ngôn ngữ Hy Lạp. Vậy tại sao ngôn ngữ thi ca lại có khả năng cung cấp sự chuẩn xác của danh từ? Trước hết, cần phải gợi nhớ lại, trước đó Hermogenes và Socrates đã không cho rằng các nhà ngụy biện (tiêu biểu là Protagoras) có sự hiểu biết về sự chuẩn xác của tên gọi. Vì thế, sự xuất hiện của các nhà thi sĩ như là một chỗ dựa đáng tin cậy, bởi vì họ chính là những người được truyền nguồn cảm hứng thần thiêng (divinely inspired) (396d), nhờ đó họ có sự hiểu biết về sự chuẩn xác của tên gọi.[53]
Tuy nhiên, nếu cho rằng ngôn ngữ thi ca dựa trên nguồn cảm hứng thần thiêng và hàm chứa tri thức về sự chuẩn xác của tên gọi, thì thật khó để người ta có thể giải thích theo kiểu luận lý về sự chuẩn xác của các tên gọi, bởi vì không có những căn cứ và bằng chứng khách quan để lập luận và chứng minh. Tới đây, cả Socrates và Hermogenes đều phải thừa nhận có sự phân biệt giữa tên gọi mà các thần đặt và tên gọi do con người tạo nên; mọi tên gọi mà các thần đặt cho sự vật đều là chuẩn xác. Chí ít, tên gọi do các thần đề xướng cũng có sự chuẩn xác hơn tên gọi do con người tạo ra (392b). Lại nữa, ngay cả trong số các tên gọi mà con người đặt ra, theo Socrates, sở dĩ tên gọi Homer sử dụng trong các tác phẩm của ông trổi vượt về sự chuẩn xác là do bởi ông ta vừa sở hữu sự khôn ngoan, vừa được phú ban nguồn cảm hứng thần thiêng.[54]
Thực vậy, chắc hẳn, ai cũng phải thừa nhận sự tinh tế, hàm súc và siêu vượt trong những áng thơ văn. Chỉ cần một vài câu từ ngắn gọn thôi, tác giả của những bài thơ, bài văn có thể miêu tả và đụng chạm tới không chỉ bề mặt của sự vật, hiện tượng, vấn đề… nhưng còn đưa dẫn người đọc đi vào cõi thâm sâu, bản chất nội tại của từng chi tiết nhỏ. Đôi khi chỉ vì một từ ngữ thôi mà tác giả đã phải hao tốn không biết bao nhiêu công sức để giải thích và truyền tải cho bằng được nội dung ẩn sau từ ngữ ấy. Tất cả chỉ để nói lên rằng ngôn ngữ thi ca là nguồn tư liệu quý giá để người ta có thể nương vào trong việc xướng gọi tên của sự vật.
Hơn nữa, ngôn ngữ thi ca còn tỏ lộ tính chất độc đáo và huyền nhiệm của nó nơi các nền văn hóa khác nhau. Nơi những áng văn thơ khác nhau của các nền văn hóa, người ta có cơ hội để đi vào chiều sâu của tư tưởng (những quan niệm về vũ trụ, tôn giáo và con người…) vốn hình thành nên những truyền thống, nét đẹp độc sáng của từng dân tộc. Vì thế, tự chính nơi mình, ngôn ngữ thi ca gọi mời con người: một mặt hãy can đảm mở lối để khám phá bao nhiêu có thể sự huyền nhiệm chất chứa nơi ngôn ngữ, mặt khác hãy đợi chờ, lắng nghe để được ngôn ngữ mặc khải.
Nói cho cùng, sự chuẩn xác về tên gọi và thực tại sự vật đề cập ở đây theo hướng tiếp cận và vận dụng ngôn ngữ thi ca tuy không mang tới những tên gọi hoàn hảo tuyệt đối theo luận lý của con người, nhưng nó lại mang tới những nét độc đáo, vừa vén mở thực tại sự vật, nhưng cũng vừa huyền nhiệm, thâm sâu để người ta có thể cậy dựa, hầu mong có thể tìm được những tên gọi gần sát với thực tại sự vật hơn và tế vi hơn.
Trung hòa giữa duy danh và duy thực
Thực ra, khái niệm về ‘duy danh’ (nominalism) và ‘duy thực’ (realism) không xuất hiện trong cuộc đối thoại Cratylus này, và dường như cũng không phải là những từ ngữ có mặt trong thời kỳ triết Cổ Đại[55]. Có lẽ, hai khái niệm này xuất hiện nổi bật trong thời trung cổ với sự xuất hiện của một số triết gia như William Ockham hay Thomas Aquinas… Tuy nhiên, trong phạm vi liên hệ nào đó, có thể nói rằng ‘duy thực thuyết’ có những liên hệ khá gần gũi với ‘bản chất thuyết’ mà Cratylus đề xuất. ‘Bản chất thuyết’ đòi hỏi sự hợp lý và trùng khớp giữa tên gọi và thực tại sự vật; điều này cũng khá tương đồng với quan điểm của ‘duy thực’ cho rằng “sự vật là chính nó”[56]; con người chỉ nói đúng về nó khi mô tả nó đúng với bản chất của nó. Tuy nhiên, cả ‘duy thực thuyết’ và ‘bản chất thuyết’ đều có thể đi tới những thái quá khi đòi hỏi người ta phải xây dựng nên một thứ ngôn ngữ có thể diễn tả chính xác tuyệt đối bản chất sự vật, điều này vốn luôn vượt quá khả năng hữu hạn của con người.
Còn về ‘duy danh thuyết’ – vốn chỉ quan tâm tới “cái vỏ nơi danh từ”[57], nó cũng có sự tương đồng nhất định với ‘quy ước thuyết’. Nghĩa là, cả hai đều cho rằng tên gọi của sự vật là bất cứ cái tên nào đó mà người ta đặt; nó chỉ mang ý nghĩa ám chỉ, tượng trưng chứ hầu như không diễn tả được bản chất nội tại của sự vật. Vì thế, sẽ là thái quá nếu người ta quá cậy dựa vào ‘duy danh thuyết’ hoặc ‘quy ước thuyết’ để xác định tên gọi cho sự vật, bởi khi ấy dù vô tình hay hữu ý người ta đã tạo nên một thứ khoảng cách rất xa giữa tên gọi và thực tại sự vật.
Chính vì lẽ đó, cần có một giải pháp trung hòa giữa ‘duy danh’ và ‘duy thực’, giữa ‘bản chất thuyết’ và ‘quy ước thuyết’. Nói cách khác, việc thiết lập tên gọi cho sự vật cần tới việc áp dụng và kết hợp song song của ‘quy ước thuyết’ và ‘bản chất thuyết’ để nhờ đó, cho dẫu không thể tìm thấy được một tên gọi lý tưởng, người ta vẫn có thể lần mò tìm cách tiến gần hơn tới một tên gọi, vốn không tạo nên một khoảng cách xa chênh lệch quá lớn với thực tại sự vật. Hẳn rằng, yếu tố quy ước chung giữa một nhóm người là điều cần phải có, nhưng nó phải đi tới chỗ tiệm cận với chân lý, thực tại, chứ không phải theo kiểu ‘chân lý thuộc về đám đông’. Mặt khác, ‘bản chất thuyết’ có lẽ cũng cần phải khiêm tốn hơn để đón nhận một số quy luật mà ‘quy ước thuyết’ cung cấp, nhờ đó con người mới có thể tạo ra được những tên gọi vừa có nét ‘nghiêm ngặt’, nhưng cũng có sự ‘uyển chuyển’ cả về nội dung lẫn hình thức.
Lắng nghe, chiêm ngắm, thâu nhận và truyền đạt
Không hoàn toàn bị động hay chủ động trong việc tiếp cận với sự vật, con người – trong tư cách là chủ thể tri nhận sự vật để xác định tên gọi cho sự vật, được mời gọi tiến bước vừa trong tư thế bị động để sự vật tự tỏ lộ chính nó, nhưng cũng vừa trong tư thế chủ động để điều tỏ lộ được đón nhận. Nhờ đó, không chỉ bản thân chủ thể có được tri thức trọn vẹn về sự vật, nhưng còn có thể thông truyền cho người khác những điều khả dĩ là chất chứa.
Để hữu thể tự tỏ lộ
Tuy không có khả năng đối thoại hay nói trực tiếp cho con người biết những gì nó là, nhưng sự vật trong thầm lặng tự tỏ lộ, và từ đó tạo điều kiện cũng như cung cấp cơ hội và không gian để cho con người có thể đón nhận những gì là thiết yếu nơi chính nó. Thoạt nhìn, người ta có thể cho rằng con người có hoàn toàn tự do và ý muốn để áp đặt suy nghĩ của mình lên sự vật và mô tả chúng theo khuynh hướng thiên tư. Tuy nhiên, sự vật – xét như một hữu thể, cũng hiện hữu theo phương thức ‘tự tỏ lộ chính mình’; nghĩa là ‘hữu thể tự nói về chính mình’ cho con người. Về phần mình, con người (cũng xét như một hữu thể) sở dĩ khó hiểu thấu sự vật là bởi vì còn bám chặt vào vị trí cố hữu, vốn chỉ có thể đón nhận khía cạnh này của sự vật mà hụt mất khía cạnh kia, để rồi không thể mở ra trước cái tổng thể, cái sâu thẳm bên trong của sự vật. Vì thế, để có được tri thức trọn vẹn và chuẩn xác hơn về sự vật và tên gọi của nó, thái độ lắng nghe, chiêm niệm và sằn sàng thâu nhận là cần thiết. Như thế, hữu thể (con người) giờ đây không đứng trong tâm thế để nắm bắt chân lý, nhưng đúng hơn đó là thái độ chuẩn bị, sửa soạn để đón chờ chân lý tỏ lộ ra, và nhờ thế mà nhận biết được chân lý.[58]
Hướng tới giá trị chân lý trong đạo đức truyền thông
Không chỉ nhờ việc ‘rút lui’ để nhường chỗ cho sự vật tỏ lộ mà con người có thể tri nhận tri thức về sự vật, về tên gọi của nó, nhưng thực ra con người vẫn có thể hiểu biết được thực tại và tên gọi sự vật cách gián tiếp thông qua trung gian một người khác. Đây có thể được xem như một mối tương quan ‘liên chủ thể’, mỗi cá nhân ngang qua lời nói hay chữ viết, thậm chí là hành động đều có thể chuyển trao một thông điệp, tri thức nào đó cho người khác. Tuy nhiên, để có thể gửi gắm được những thông điệp chuẩn xác và có ý nghĩa, mỗi người cần sử dụng đến những vốn ngôn ngữ nói chung và tên gọi nói riêng sao cho chuẩn xác nhất có thể. Và nhờ có sự thông chuyển qua lại này, con người có khả năng cung cấp cho nhau những tri thức thuộc nhiều lãnh vực khác nhau.
Hơn nữa, điều này còn được mở rộng và áp dụng thực tế khi đặt vào trong bối cảnh của lãnh vực truyền thông ngày nay. Đứng trước biết bao thông tin vô cùng phong phú, phức tạp và thậm chí là mâu thuẫn được cập nhật từng giây, từng phút bởi các phương tiện truyền thông, con người không khỏi bối rối và tự hỏi, liệu thông tin mình nhận được có đầy đủ, và chính xác hay không? Đã đến lúc người ta đặt dấu hỏi về đạo đức trong lãnh vực truyền thông. Phải chăng tin tức mà các phương tiện truyền thông mang lại hoàn toàn là độc lập và khách quan, chứ không vì một mục đích hay lợi ích nào khác (ví dụ kinh tế, chính trị hay tôn giáo)? Hơn bao giờ hết, vấn đề về sự chuẩn xác và khách quan của ngôn ngữ khi trao chuyển thông tin hay truyền thông giữa con người với nhau phải là mối bận tâm hàng đầu. Để làm được điều này, mỗi cá nhân không thể tự khép kín mình, và cũng không thể lấy mình là tiêu chuẩn chân lý về ngôn ngữ hay tên gọi; thay vào đó, mỗi người một đàng phải tự trau đồi cho bản thân sự am hiểu về ngôn ngữ và khả năng truyền tải chính xác sự thật, nhưng đàng khác cũng cần nhường chỗ cho tiếng nói của người khác được vang lên, vì chân lý hay sự thật nói cho cùng không thuộc sở hữu của riêng ai, nhưng đúng hơn nó cần phải được sẻ chia và thông truyền.
Vì thế, để cùng vượt qua những rào cản về khoảng cách giữa tên gọi và thực tại, mỗi người được mời gọi để hướng tới một nền đạo đức truyền thông, nơi đó sự chuẩn xác và tính khách quan về ngôn ngữ khi diễn tả thực tại cần phải được tôn trọng; và phải coi đó là nền tảng trong một xã hội vốn đang bị bóp méo bởi rất nhiều thông tin giả mạo, mang tính định hướng, cố súy một lối sống vị lợi thái quá.
Nói tóm lại, tất cả những lối tiếp cận như đã nói ở trên, tuy không phải là những giải pháp căn cơ và rốt ráo, nhưng chí ít chúng cũng đề xướng và gọi mời mỗi người tiếp tục hành trình luyện tập triết học nói chung và triết học ngôn ngữ nói riêng, hầu có thể tiệm cận với chân lý về sự vật nơi thế giới, và cũng là để giảm thiểu tối đa khoảng cách chênh lệch giữa tên gọi và thực tại sự vật.
Kết luận
Thực tại sự vật là gì? Liệu ngôn ngữ có đủ khả năng để truyền tải thực tại ấy cách trọn vẹn ngang qua tên gọi? Câu trả lời, qua việc tìm hiểu cuộc đối thoại Cratylus, có lẽ là vừa có, vừa không? Có là bởi nếu xét về khía cạnh lý thuyết mà Cratylus và Hermogenes giới thiệu, người ta bằng cách này hay cách khác vẫn có thể tìm ra những tên gọi chuẩn xác cho từng sự vật. Cụ thể, với ‘bản chất thuyết’ của Cratylus, ‘tên gọi một sự vật nếu có chắc chắn là một tên gọi chuẩn xác và duy nhất đúng cho sự vật đó’. Như thế, tên gọi và thực tại sự vật đồng nhất với nhau; nói tới tên gọi là nói tới thực tại sự vật và ngược lại. Đây chắc chắn là một lý tưởng trong việc đặt tên, với những đòi hỏi vô cùng khắt khe và sự chính xác tuyệt đối về bản chất. Còn với ‘quy ước thuyết’, sẽ chẳng có gì là sai khi người ta có quyền được diễn tả về sự vật theo tên gọi của riêng một cá nhân hay một nhóm. Và tên gọi đó, nếu đã được gọi và sử dụng, thì sự có mặt của nó đã đủ để biện minh sự chuẩn xác của chính nó. Vì thế, không cần phải tốn quá nhiều công sức, người ta vẫn có thể thiết định nhiều tên gọi khác nhau để chỉ cùng một sự vật.
Câu trả lời cũng có thể là không, bởi vì trong thực tế, nếu vận dụng hoặc chỉ ‘bản chất thuyết’, hoặc chỉ ‘quy ước thuyết’ người ta hoặc không thể tìm ra được những tên gọi hoàn toàn trùng khớp với bản chất, thực tại sự vật; hoặc cho dẫu có thể tìm ra rất nhiều tên gọi khác nhau, nhưng những tên gọi này lại thường tạo nên một khoảng cách quá xa với thực tại sự vật.
Quá khắt khe cũng không được, mà quá lỏng lẻo, tự do cũng không xong. Cuộc đối thoại Cratylus, tuy không đưa ra được bất kỳ phán quyết tỏ tường ai đúng ai sai, lý thuyết nào cần giữ hay loại bỏ, nhưng lại mở cho người ta một lối nhìn trung hòa hơn, toàn diện và sâu sắc hơn về mối tương quan giữa tên gọi và thực tại sự vật. Cho dù thực tế vẫn phải chấp nhận rằng có một khoảng chênh lệch nào đó giữa tên gọi và thực tại sự vật, nhưng đây cũng là cơ hội để con người có thể vận dụng năng lực, sự khôn ngoan để không ngừng đào sâu tri thức triết học cho riêng mình. Nhờ thế, con người dần dần lần mò tới bản chất và thực tại nơi sự vật, hầu có thể thiết lập và xác chuẩn cách chính xác và khách quan hơn tên gọi dành cho sự vật.
Ngoài ra, công cuộc tìm hiểu cuộc đối thoại Cratylus này của Plato, cũng mở ra cho người viết một vài suy tư mở rộng liên quan tới sự nối kết trong quan niệm ngôn ngữ giữa Plato với Heraclitus và Martin Heidegger; ở đó, Plato được coi là một trung gian, hay một nhịp cầu bắc ngang giữa Heraclitus và Heidegger.
Như đã nói ở phần giới thiệu, quan niệm về ngôn ngữ của Heraclitus chủ yếu xoay quanh nội dung của từ ‘logos’. ‘Logos’ mà Heraclitus đề cập mang nhiều ý nghĩa phong phú đến nỗi chính Heraclitus phải thừa nhận “thật khó để có thể đưa ra một định nghĩa về logos”[59]. Tuy vậy, Heraclitus đã mô tả một số đặc điểm về ‘logos’. Trước hết, ‘logos’ mang trong mình sự “trường tồn và thánh thiêng.”[60] Điều này không hiểu theo nghĩa tôn giáo, nhưng ‘logos’ là cái vượt lên trên bản tính con người và bao phủ lấy con người. Thứ đến, ‘logos’ mang chiều kích “vũ trụ tính”[61]; nó là cái thiết yếu, nền tảng đối với sự hình thành của vũ trụ. Cuối cùng, ‘logos’ là “sự diễn tả tận cùng, duy nhất và tốt nhất về vũ trụ.”[62]. Với sự phong phú về nội dung của ‘logos’, tuy chưa thể để xuất được một định nghĩa chuẩn xác, nhưng qua việc vận dụng khéo léo ngôn ngữ, phần nào đó Heraclitus có thể giúp người khác nhận biết về ‘logos’.
Vì thế, thay vì lắng nghe những gì Heraclitus nói về ‘logos’, mọi người được mời gọi sử dụng các quan năng của mình để chiêm ngắm, cảm nhận những gì mà ‘logos’ tự tỏ lộ. Ngoài ra, Heraclitus cũng để nghị sử dụng khoa tu từ, nghệ thuật trong văn chương và thi ca, như ẩn dụ, hoán dụ, so sánh, loại suy… để nhờ đó mà có thể tiếp cận ‘logos’.[63] Thêm vào đó, với quan niệm, ‘mọi sự luôn chuyển dịch’, Heraclitus cũng cho rằng ngôn ngữ luôn luôn thay đổi, khi người ta vừa chuẩn bị chạm tới nó, thì nó lại chuyển sang một trạng thái khác. Vì thế, người ta không thể nắm bắt được ‘logos’, nhưng chỉ có thể phần nào chạm sát ‘logos’.
Những quan niệm như trên của Heraclitus cho dù chưa được diễn đạt bằng những khái niệm và phạm trù theo kiểu của các triết gia thời mới như Jacques Derrida, Ludwig Wittgenstein, Gottlob Frege… nhưng dầu vậy ông cũng đã giúp người ta phần nào định hình ngôn ngữ hiểu như là ‘logos’ huyền nhiệm và bí ẩn; đồng thời, ông cũng nhắc nhở mọi người cần đầu tư tối đa sự khôn ngoan, thận trọng và tế nhị trong nỗ lực truyền tải ‘logos’.
Còn về phần mình, Heidegger lại phát triển khái niệm và vai trò của ngôn ngữ trong tương quan với hữu thể: “ngôn ngữ là ngôi nhà của hữu thể.”[64] Ngôn ngữ chính là nơi con người cư ngụ, là mái nhà che chở và nuôi dưỡng những suy tư, khao khát và mong mỏi muốn được phô bày hay lột tả chính mình của hữu thể. Nhờ ngôn ngữ, hữu thể khám phá và tỏ lộ sự hiện hữu của chính mình. Tuy nhiên, không phải bất kỳ hình thái ngôn ngữ nào cũng có thể làm được điều này. Heidegger phê bình thứ ngôn ngữ mang tính hình thức và duy luận lý của khoa học kỹ thuật bởi vì thay vì quan tâm đến ý nghĩa của ngôn từ, nó lại tập chú quá nhiều vào cấu trúc. Thêm vào đó, chính vì sự cứng nhắc của cấu trúc, nên ngôn ngữ khoa học không thể nào truyền tải hết những gì sự vật tỏ bày, vì sự vật tỏ lộ trong muôn hình vạn trạng mà ngôn ngữ khoa học lại nghèo nàn trong hình thức.[65] Do vậy, Heidegger mời gọi người ta quay lại với thứ ngôn của thi ca, bởi lẽ thi ca vừa uyển chuyển trong việc khai mở sự tỏ lộ của sự vật, lại vừa mang ý nghĩa chất chứa trong ngôn từ. [66] Quan niệm này khá tương đồng với giải pháp mà Socrates đề nghị cho Hermogenes và Cratylus liên quan tới việc tìm kiếm sự chuẩn xác của tên gọi nơi ngôn ngữ thi ca.
Đối với Plato, ngôn ngữ hay cụ thể là tên gọi của sự vật mang trong mình một mối giằng co biện chứng giữa ‘bản chất thuyết’ và ‘quy ước thuyết’, giữa những gì là ‘bất dịch’ (form) và ‘chuyển dịch’ (flux). Nói Plato được ví như cây cầu nối kết giữa Heraclitus và Heidegger là bởi, một mặt, Plato[67] (ngang qua cuộc đối thoại Cratylus) nhấn mạnh tới vai trò và sự chuẩn xác của tên gọi khi diễn tả thực tại sự vật; điều này khá tương đồng với quan niệm ‘ngôn ngữ tỏ lộ cho con người về logos’ của Heraclitus. Hơn nữa, Plato cũng vận dụng quan niệm ‘mọi sự luôn chuyển dịch’ nơi tên gọi (410b-e) khi cho cho thấy, tên gọi luôn cần điều chỉnh hầu tiến tới ngưỡng giao thoa giữa ‘bản chất thuyết’ và ‘quy ước thuyết’. Mặt khác, Plato khi nói tới những nỗ lực không ngừng nhằm vượt thắng khoảng cách giữa tên gọi và thực tại sự vật, có lẽ cũng giúp ta liên hệ tới Heidegger trong công cuộc suy tư về ‘Dasein’ vốn mang trong mình những trăn trở, khát vọng muốn được diễn tả chính xác tối đa về ‘logos’ nơi Heraclitus; đồng thời, chiều kích vận dụng ngôn ngữ thi ca mà Heidegger đề cập khi nói về hữu thể có lẽ cũng khởi đi từ một chút âm vang nơi cuộc đối thoại Cratylus, khi Socrates (Plato) dám mạnh dạn giới thiệu cho Hermogenes và Cratylus tìm đến với sự chuẩn xác nơi ngôn ngữ thi ca.
Một vài tư tưởng mở rộng như trên, cho dẫu chỉ là những gợi mở có phần chập chững và thô ráp của người viết, nhưng tất cả những liên tưởng đó đều muốn nhắm tới vai trò bản lề của Plato đối với nền triết học ngôn ngữ, và cho thấy các quan niệm về ngôn ngữ cho tới ngày nay không phải là những suy tư riêng lẻ, manh mún, nhưng nó là cả một tiến trình luôn mãi trong dòng lịch sử con người. Bao lâu con người còn hiện hữu, bấy lâu ngôn ngữ nói chung và tên gọi sự vật nói riêng vẫn tồn tại và phát triển cùng với tất cả sự phô bày vừa sáng tỏ, nhưng cũng vừa huyền nhiệm về sự vật và về chính nó cho con người.
Nguồn: https://sjjs.edu.vn/
[53] Cf. Geoffrey Scott Bagwell, “A Study Plato’s Cratylus”, 65.
[54] Ibid., 66.
[55] Có chăng chúng chỉ xuất hiện dưới dạng ý niệm tương đương trong một vài tác phẩm của Plato và Aristotle
[56] Trần Văn Hiến Minh, Từ Điển và Danh Từ Triết Học (Hồ Chí Minh: Phương Đông, 1996), 91.
[57] Ibid., 88.
[58] Cf. “Martin Heidegger: Khái lược con người – sự nghiệp – tư tưởng,” Trung Tâm Học Vấn Đa Minh, accessed Feb 28, 2021, http://catechesis.net/martin-heidegger-khai-luoc-con-nguoi-su-nghiep-tu-tuong/
[59] Manuel de Zubiría Rueda, “Knowledge, Language, and Communication in Heraclitus” (PhD diss., University of Edinburgh, Edinburgh, 2019), 31.
[60] Ibid., 39.
[61] Ibid., 48.
[62] Ibid., 54.
[63] Ibid., 102.
[64] Martin Heidegger, Basic Writings, trans. David Ferrell Krell (New York: Harper & Row, 1977), 193.
[65] Cf. Catherine Frances Botha, Heidegger: Technology, Truth and Language (Pretoria: University of Pretoria, 2001), 102-103.
[66] Ibid., 104.
[67] Plato cũng chính là nhân vật Socrates trong cuộc đối thoại.