Bài dịch | Thuyết kiểm đúng và kiểm sai | Claire Johnson (Phần cuối) *Có phải thuyết kiểm đúng của Ayer đã tự…
*Có phải thuyết kiểm đúng của Ayer đã tự khiến nó sụp đổ?*
Làm sao ta có thể định lượng xem thứ gì là có nghĩa trên đời, đặt biệt là đối những lý thuyết, mệnh đề, và tình trạng của sự việc? Đây là những câu hỏi mà nhóm Vienna Circle đã nỗ lực trả lời bằng thuyết kiểm đúng. Trong bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu về thuyết kiểm đúng của Alfred Jules Ayer và cách mà nhóm Vienna Circle đã nỗ lực tạo ra một lý thuyết cho ý nghĩa nhưng lại thất bại trong việc logic hóa chính nó. Ayer là thành viên nổi bật nhất trong nhóm các nhà duy nghiệm tự gọi mình là Vienna Circle, hoặc động từ năm 1924 đến 1936. Nhóm các nhà triết gia, toán học, và khoa học này gặp gỡ và bàn luận về ngôn ngữ cùng các phương pháp khoa học, sau đó trở nên nổi tiếng với việc tạo ra thuyết kiểm đúng.
*A.J Ayer là ai và thuyết kiểm đúng là gì?*
Thuyết kiểm đúng được tạo ra nhằm mục đích tách bạch những diễn ngôn có nghĩa khỏi những thứ vô nghĩa. Ayer đã cố gắng xác lập một tiêu chí cho ngữ nghĩa, có thể được sử dụng để đánh giá kỹ lưỡng những cuộc nói chuyện về chủ đề siêu hình học và những ý tưởng trừu tượng – như những kiểu giao tiếp của Plato, bởi những kiểu nói chuyện như vậy có thể tự xô ngã chính nó ngay cả khi nó thật sự mang ý nghĩa hay một giá nào đó. Nhánh triết học này và tư tưởng chống đối của nó đối với những ý nghĩa trừu tượng được gọi là “chủ nghĩa duy nghiệm logic”. Điều mỉa mai là trong suốt bài viết này, bạn sẽ nhận ra rằng thuyết kiểm đúng dường như lại tự xô ngã chính nó và những điều mà nó dự định sẽ mang lại ý nghĩa.
*Tại sao nhóm Vienna Circle xem những ý nghĩa trừu tượng và siêu hình là một vấn đề?*
Đối với Ayer và nhóm Vienna Circle, một mệnh đề có ý nghĩa phải có thể được thực nghiệm kiểm chứng hay ít nhất phải có khả năng hình dung ra một cách để kiểm chứng nó (Ayer, 1971). Những mệnh đề khoa học như “có 8 hành tinh trong hệ mặt trời” được xem là có nghĩa bởi chúng có thể được xác minh bằng các dụng cụ và phương pháp khoa học. Tương tự vậy, Ayer tuyên bố, mệnh đề “có 12 hành tinh trong thiên hà Andromeda” có thể không được xác minh bởi ta vẫn chưa có đủ khả năng du hành không gian để quan sát, thì nó vẫn mang ý nghĩa thực tế bởi về nguyên tắc, nó vẫn có thể được xác minh nếu có những công cụ cần thiết. (Kali, 2003).
Mặt khác, những tuyên bố siêu hình như những “hình thức của thực tại kiểu Plato” hay “sự tồn tại của chúa trời” thì về nguyên tắc, chúng thậm chí còn không thể được xác minh bởi chúng thể hiện những mệnh về một thế giới siêu việt vượt qua kinh nghiệm của giác quan. Trong trường hợp này, những loại mệnh đề kiểu đó được coi như vô nghĩa về mặt nhận thức. Theo Ayer, những câu hỏi siêu hình học không gì hơn là những câu hỏi ngụy khoa học.
*Có phải tư tưởng của David Hume đã tạo cảm hứng cho nhóm Vienna Cirle?*
Nhóm Viena Circle hẳn đã xem xét một ý tưởng về ý nghĩa của David Hume được gọi là “cái nĩa của Hume”. Hume tin rằng chỉ có hai loại sự thật; một là “mối quan hệ của các ý tưởng” liên quan đến những mệnh đề phân tích và có tính tái lập, chúng là những phát biểu được suy luận từ lý thuyết hơn là quan sát (McGill, 2004). Loại thứ hai “mối quan hệ giữa những vấn đề thực tế” liên quan đến những mệnh đề tổng hợp với giá trị của chúng phụ thuộc vào hoạt động quan sát (McGill, 2004). Dưới đây là hai ví dụ về cách phân định sự thật theo “Cái nĩa của Hume”:
- Một mệnh đề mang tính phân tích – là mệnh đề nhất thiết phải đúng hoặc sai tùy theo con chữ hoặc định nghĩa: “các tam giác có 3 cạnh” – “bà mẹ nào cũng phải có một đứa con”
- Một mệnh đề mang tính tổng hợp – là mệnh đề về trạng thái của những sự vật thuộc thế giới thực, có thể được quan sát và xác minh: “nước sôi ở 100 độ C” – “thứ Ba tuần tới trời sẽ mưa”.
*Vậy còn với những mệnh đề có thể phân định đúng – sai, nhưng lại vô nghĩa thì sao?*
Cái nĩa của Hume công nhận và đánh giá cao những giá trị khoa học, nhưng những mệnh đề tổng hợp của nó cũng lại gán luôn nghĩa cho những mệnh đề mà ta thường cho là vô nghĩa. Ví dụ: mọi con mèo đều có lông màu hồng và tai màu xanh – mệnh đề này thuộc dạng tổng hợp bởi ta có xác minh tính đung sai của nó bằng thực nghiệm – do đó mang lại ý nghĩa cho nó. (McGill. 2004)
Vẫn lấy cảm hứng từ Hume, công thức của Ayer trong thuyết kiểm đúng đã kết luận ràng những kiến thức khoa học chỉ có thể là những kiến thức thực tế duy nhất ta có thể biết, bởi đó là những thứ duy nhất có thể xác minh và quan sát bằng thực nghiệm. Cả Hume lẫn Ayer đều đồng thuận rằng do siêu hình học không chứa bất cứ lý lẽ thực nghiệm nào về các vấn đề thực tế, nên ta cần “thiêu nó trong ngọn lửa”, và xem chúng “không vì khác ngoài sự ngụy biện và ảo tưởng” (David, 1981).
*Thuyết kiểm đúng mềm và thuyết kiểm đúng cứng*
Công thức đầu tiên của Ayer trong việc xác lập nguyên tắc – hay còn được biết đến là thuyết kiểm đúng – cho rằng một mệnh đề có thể được xác minh khi và chỉ khi sự thật của nó có thể được thiết lập một cách thuyết phục bằng các bằng chứng hoặc bởi một tập hợp những mệnh đề đã được quan sát dẫn đến mệnh đề đó một cách hợp lý (Ayer, 1946). Tuy nhiên, người ta sớm nhận ra rằng thứ ngôn ngữ mà họ muốn giữ lại – ví dụ như ngôn ngữ khoa học tự nhiên, cũng sẽ trở nên vô nghĩa dưới lý thuyết này, cũng như hầu hết những mệnh đề thông thường khác. Ví dụ, sự khái quát hóa mang tính khoa học rằng “tất cả các loại nước đều sôi ở 100 độ C” là thứ không thể được xác minh bằng một tập hợp những quan sát hữu hạn (Kali, 2003). Tương tự, những mệnh đề liên quan đến khoa học hạ nguyên tử, lịch sử, và cảm xúc con người cũng bị loại trừ. Bởi vì liệu ta có thể thật sự xác minh thực nghiệm với trọng lực được không? Hay làm thế nào để đánh giá về lịch sử và cảm xúc đối với sự kiện các trại tập trung của phát xít Đức?
Để khắc phục vấn đề này, Ayer đã phát triển lý thuyết kiểm đúng mềm, thừa nhận rằng một tuyên bố có thể được xem là có ý nghĩa mà thậm chí không cần phải được kiểm chứng thực tế. Ayer nhấn mạnh rằng một mệnh đề có thể có nghĩa nếu nó có thể được chứng minh là đúng trong phạm vi nghi ngờ hợp lý hoặc khi nó được kết hợp với những mệnh đề quan sát có ý nghĩa khác (David, 1981). Lý thuyết kiểm đúng mềm này đã cho phép nhóm Vienna Circle xem xét những mệnh đề lịch sử, lý thuyết khoa học, và cảm xúc con người là con nghĩa, trong khi vẫn loại bỏ siêu hình học, tôn giáo, và đạo đức là vô nghĩa. Dưới thuyết kiểm đúng mềm, Ayer vẫn có thể tuyên bố rằng siêu hình học và tư duy trừu tượng nên bị loại bỏ bởi không thể có hoạt động quan sát hay bằng chứng dựa trên cảm giác nào được đưa ra. Và về mặt nguyên tắc, những mệnh đề như “có tồn tại một thế giới độc lập với trải nghiệm của chúng ta – là không mang bất kỳ ý nghĩa nào và “vô nghĩa theo nghĩa đen” (David, 1981).
*Có phải thuyết kiểm đúng mềm đã quá hời hợt?*
Sự dễ dãi trong cách xác minh ý nghĩa của thuyết kiểm đúng mềm chỉ mang đến cho Ayer và những nhà duy nghiệm logic nhiều vấn đề hơn. Carl Hempel trong tuyên bố về “những điều kiện cần thiết để thỏa mãn các tiêu chí về ý nghĩa của nhận thức” đã đưa ra một lời phê bình sâu sắc đến lập luận của Ayer. Hempel đã chỉ ra rằng nguyên tắc kiểm đúng mềm sẽ mang lại ý nghĩa cho bất cứ mệnh đề nào, miễn là nó được kết hợp với một hoạt động quan sát có thể được kiểm chứng. Hempel tiếp tục chỉ ra rằng theo logic của Ayer, bất kỳ tuyên bố S nào khi kết hợp với một tiền đề P nào đó đều tạo ra tính hợp lý – nói tóm lại, nó trở thành một mệnh đề quan sát. Do đó, S có thể tự thân nó không mang ý nghĩa nào nhưng lại là có nghĩa khi được kết hợp với bất kỳ tiền đề nào khác (Hempel, 2009). Trong trường hợp đó, thuyết kiểm đúng mềm sẽ cho phép mệnh đề rằng “nếu các hình thức của Plato là đúng thực tế, thì cuốn sách trước mặt tôi có màu nâu” là có ý nghĩa. Song, đây chính xác là kiểu mệnh đề mà Ayer muốn loại trừ, bởi ông tin rằng nó vô nghĩa.
*Có phải thuyết kiểm đúng đã tự khiến nó sụp đổ?*
Cả hai phiên bản mềm và cứng trong thuyết kiểm đúng của Ayer đều có sai sót. Một mặt, thuyết kiểm đúng cứng không thể tự xác minh tính đúng đắn của chính nó hay với những mức độ khoa học cao cấp hơn như hạ nguyên tử và vật lý lượng tử - chính là những lĩnh vực mà thuyết này mong muốn mang lại ý nghĩa (Kali, 2003). Thuyết kiểm đúng cứng sau cùng sẽ vô hiệu hóa chính những mục tiêu ban đầu của nó. Mặt khác, thuyết kiểm đúng mềm lại cho phép bất mệnh đề nào cũng có thể có nghĩa khi được kết hợp với một tuyên bố khách quan. Nguyên tắc dễ dãi này vô tình lại gán nghĩa cho cả siêu hình học, ngụy khoa học, và thậm chí là cả những thứ thuần túy vô nghĩa.
*Một nỗ lực sau cùng của Ayer...*
Trên thực tế, Ayer đã nhìn ra và chấp nhận những vấn đề mà Hempel nêu lên liên quan đến những điểm yếu trong nguyên tắc của mình, và ông đã trình bày lại trong một bản phụ lục – như một nỗ lực khắc phục sai sót. Trong bản tái trình bày thuyết kiểm đúng mềm, Ayer phân biệt giữa khả năng xác minh trực tiếp và gián tiếp, ông tuyên bố rằng một mệnh đề có thể được xác minh trực tiếp khi và chỉ khi nó là một tuyên bố đã được quan sát hoặc khi nó được kết hợp với một hoặc nhiều tuyên bố đã được quan sát, đòi hỏi ít nhất một mệnh đề không thể được suy ra chỉ từ tiền đề (Ayer, 1971). Điều này sẽ loại trừ khả năng tuyên bố siêu hình học hay những tuyên bố trừu tượng khỏi sự thiết lập ý nghĩa do sự kết hợp của chúng với một mệnh đề được quan sát không mang giá trị suy diễn ra ý nghĩa. Ví dụ như trong tuyên bố, ““nếu các hình thức của Plato là thực tế thực sự, thì cuốn sách trước mặt tôi có màu nâu” – thì mệnh đề trước không thể có nghĩa kể cả khi nó được gán với tiền đề sau, còn tiền đề sau đơn giản chỉ là hậu quả trực tiếp của việc “có một cuốn sách trước mặt tôi và nó màu nâu”. Phần thứ hai được Ayer được trình bày khá dài dòng:
Một mệnh đề có thể được kiểm chứng một cách gián tiếp khi và chỉ khi; nó liên kết với những tiền đề khác, đòi hỏi một hoặc nhiều mệnh đề có thể xác minh trực tiếp mà không thể được suy ra chỉ từ những tiền đề, và những tiền đề này không bao gồm bất cứ mệnh đề nào mang tính phân tích, xác minh trực tiếp, hoặc có khả năng được xem xét độc lập là có thể kiểm chứng gián tiếp (Ayer 1971). Khá là dài dòng...
Theo công thức trên, dường như Ayer đã giới hạn phạm vi lập luận của Hempel, khi ông chỉ ra rằng những mệnh đề như là “các hình thức của Plato là sự thật” không thể được phân tích, không thể được kiểm chứng trực tiếp, cũng không có khả năng đứng độc lập để được kiểm chứng gián tiếp. Nói một cách đơn giản, bất cứ mệnh đề không mang tính phân tích nào, nếu muốn có nghĩa thì phải được xác minh một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.
*Vậy là Ayer đã tái cấu trúc công trình của mình?*
Thật không may cho Ayer, những nỗ lực cuối cùng của ông vẫn bị Hempel tìm ra lỗ hổng. Hempel đã chỉ ra rằng Ayer đã thất bại trong việc ngăn không cho tính thực nghiệm thâm nhập vào những mệnh đề thông qua mối liên kết với những mệnh đề có nghĩa về mặt thực nghiệm. Tức là với bất kỳ sự kết hợp nào, nếu mệnh đề đầu tiên có ý nghĩa thì bất kỳ sự kết hợp nào với nó cũng mang lại giá trị thực nghiệm đúng theo tiêu chí của Ayer, nhưng sự kết hợp đó về tổng thể lại bị loại trừ là vô nghĩa (Humpel, 2004). Bản thân Hempel cũng thừa nhận rằng ông không thể đề xuất một lý thuyết xây dựng ý nghĩa nào tốt hơn. Ông kết thúc bằng kết luận rằng, thật vô nghĩa khi tiếp tục tìm một tiêu chuẩn đầy đủ cho ý nghĩa dựa trên mối quan hệ logic và hoạt động quan sát, bởi kết quả sẽ là quá hạn chế hoặc quá dễ dãi, hoặc là cả hai. Điều mà Ayer mà nhóm Vienna Circle không thể giải quyết được là một vấn đề quan trọng của chủ đề về ý nghĩa, điều mà sau này đã được xác định bởi Ludwig Wittgenstein rằng, tầm quan trọng của ý nghĩa phụ thuộc trong một số bối cảnh (Biletzki, 2011). Bản thân chính Ayer thừa nhận rằng ông đã bỏ qua thực tế là đa phần những mệnh đề thực nghiệm đều mơ hồ ở một mức độ nào đó. Nhưng đáng tiếc thay là ông đã không suy nghĩ xa hơn để nhận ra rằng bản thân chính ý nghĩa cũng có thể mơ hồ.
Hóa ra bất kỳ ai nỗ lực định nghĩa ý nghĩa thông qua những nguyên tắc đều sẽ thất bại do sự mơ hồ và khó nắm bắt của chính khái niệm này. Do đó, ngay cả những triết gia cũng thất bại trong việc loại bỏ những ý tưởng trừu tượng, chúa trời, hay siêu hình học như những thứ vô nghĩa.
Cr: Sodom