BÌNH ĐẲNG VÀ QUYỀN TỰ DO Trích từ HỌC THUYẾT CÁNH TẢ, Từ de Sade và Marx cho đến Hitler và Marcuse(Leftism…
Trích từ HỌC THUYẾT CÁNH TẢ, Từ de Sade và Marx cho đến Hitler và Marcuse(Leftism, From de Sade and Marx to Hitler and Marcuse)
--
BÌNH ĐẲNG TRONG TÔN GIÁO
--Vì cuốn sách này được viết bởi một Kito-Hữu, trước tiên chúng ta hãy giải quyết câu nói sáo rỗng nổi tiếng, theo đó, mặc dù chúng ta không giống nhau, cũng không bình đẳng về thể chất hay trí tuệ, nhưng ít nhất chúng ta cũng "bình đẳng trước mắt Chúa". Tuy nhiên, điều này chắc chắn không như thế . Không một niềm tin Kitô giáo nào dạy rằng tất cả chúng ta đều được Chúa yêu thương như nhau. Chúng ta có điều đó từ Kinh thánh rằng Chúa Kitô yêu một số môn đệ của mình hơn những người khác. Cũng không có bất kỳ tôn giáo Kitô giáo nào khẳng định rằng ân sủng được ban cho tất cả mọi người với số lượng như nhau. Học thuyết Công giáo, có quan điểm lạc quan hơn Luther hay Calvin, chỉ đơn thuần nói rằng mọi người đều được ban cho đủ ân sủng để có thể tự cứu mình, mặc dù không ở mức độ giống nhau. Các nhà Cải cách, những người theo chủ nghĩa tất định, thậm chí còn không đạt được mức tối thiểu đó. Rõ ràng là Hầu tước de Sade và Thánh Jean Vianney hay Mục sư von Bodelschwingh không "bình đẳng trong mắt Thiên Chúa. Nếu đúng như vậy, Ki-tô giáo sẽ không còn hợp lí nữa, bởi vì khi đó tội nhân sẽ ngang hàng với thánh nhân và xấu cũng giống như tốt.
--Tuy nhiên, thật thú vị khi quan sát tư tưởng “dân chủ” thế tục len lỏi vào tâm trí các nhà thần học. Bình đẳng(equality) rõ ràng không hiện diện trong Kinh thánh. Tự do(freedom) được nhắc đến nhiều lần nhưng không hề có bình đẳng. Thế nhưng có quá nhiều người trong số các nhà tư tưởng tôn giáo muốn thu hẹp khoảng cách giữa tôn giáo[tức là đức tin Ki-tô của họ] và một số quan niệm chính trị hiện tại. Kể từ đó khi họ nói về bình đẳng về trạng thái(adverbial equality)-và không thực sự nhận thức rằng họ đang lừa dối. Họ sẽ bắt đầu nói rằng tất cả mọi người là những linh hồn bình đẳng, rằng họ được kêu gọi bình đẳng để cứu lấy linh hồn của mình, rằng họ được tạo một cách bình đẳng theo hình ảnh của Thiên Chúa, v.v.. Nhưng hai người đều có mũi hoặc tài khoản ngân hàng, không có nghĩa họ có những chiếc mũi giống nhau(equal noses) hoặc tài khoản ngân hàng như nhau. Khi mà các điểm vượt trội, thấp kém và khác biệt về tri thức và thể chất của chúng ta có thể khá rõ ràng, trạng thái tinh thần(spiritual status) của chúng ta thì khó xác định hơn nhiều. Chúng ta không biết ai giữa chúng ta gần gũi với Thiên Chúa hơn, và bởi vì chúng ta không biết dữ kiện quan trọng này, chúng ta NÊN đối xử với mọi người như nhau(as equals). Tuy nhiên điều này đơn thuần mang tính thủ tục(procedural). Chúng ta ở trong vị trí gần giống với người đưa thư, người giao hai lá thứ đã dán seal [một cách không phân biệt], một lá thì mang một quảng cáo vô giá trị còn một lá thì mang lại niềm hân hoan lớn lao. Anh ta[hoặc cô ấy, tức người đưa thư] không biết cái gì bên trong. Phép so sánh còn lâu mới hoàn hảo, bởi vì tất cả con người đều có cùng một người Cha(Father với chữ F viết hoa, có thể đang đề cập đến Chúa Cha) và do đó chúng ta là anh chị em với nhau- ngay cả khi chúng ta có trải nghiệm tâm linh khác nhau và chức vụ khác nhau trong xã hội loài người.( Từ quan điểm xã hội, một người rõ ràng có thể quan trọng hơn người khác; tuy nhiên, kể từ khi [quan điểm cho rằng] mỗi người là độc nhất, [cho nên] mọi người đều không thể thiếu. Quan điểm ngược lại [với điều này] là chủ nghĩa hư vô dân chủ(democratic nihilism).
--BÌNH ĐẲNG TRƯỚC PHÁP LUẬT
--Tại đây, chúng ta cũng nói đôi điều về thứ bình đẳng khác được nhiều người nhắc đến một cách quả quyết nhất: bình đẳng trước pháp luật. Đôi khi, bình đẳng trước pháp luật có thể là một biện pháp hành chính, tiết kiệm tiền bạc và giảm bớt căng thẳng cho các cuộc điều tra kéo dài. Nói cách khác, bình đẳng trước pháp luật là “thực tiễn”(pratical). Vấn đề còn sót lại là liệu nó có thực sự đáng khao khát, liệu nó có phải luôn luôn được tuân thủ hay không và cuối cùng là liệu nó có công bằng(just) hay không. Rõ ràng là một đứa trẻ bốn tuổi phạm tội ngộ sát(điều đó đã thực sự xảy ra!) phải bị xử lý khác với một đứa trẻ mười hai tuổi, một thanh niên mười bảy tuổi, hoặc một người trưởng thành ở tuổi ba mươi. Phe bình quyền(egalitarian) sẽ chấp nhận điều này nhưng sẽ thêm thắt rằng tất cả đàn ông lẫn phụ nữ ở tuổi ba mươi nên bị trừng phạt bằng hình thức giống nhau. Tuy nhiên đa số(không phải tất cả) các tòa án trong thế giới văn minh sẽ cân nhắc dựa trên “tình huống”(circumstance). Lấy ví dụ như, thánh Thomas quả quyết rằng ăn trộm(stealing) trong tình huống khẩn cấp thực sự thì không có tội-ví dụ như: một người ăn xin khốn cùng không được bố thí gì cả và do đó ăn trộm một ổ bánh mì cho gia đình. Thực hành luật pháp ở Áo, trong những trường hợp như vậy, sẽ viện dẫn đến unwiderstehlicher Zwang(sự thôi thúc không thể cưỡng lại) và “tội phạm” sẽ nhận án treo hoặc được thả tự do. Khi quân Đức lạnh cóng trong mùa đông 1945-1946. Đức Hồng Y Frings của Giáo phận Cologne đã nói với các tín hữu rằng, dưới một số tình huống, ăn trộm than không phải là tội lỗi, không phải tội ác trong mắt Thiên Chúa.(Do đó có cụm từ: Kohle fringsen, tức “ăn trộm than[nhưng vô tội]”. Trong các trường hợp nhất định, sự khác biệt giữa hai giới sẽ gây trở ngại cho con đường bình đẳng trước pháp luật. Ví dụ, phụ nữ có thể quyết định mang thai và do đó được nghỉ thai sản có lương, trong khi đàn ông không thể làm điều này. Khi bộ bikini hở ngực trở thành mốt vào năm 1964, một tờ báo của Đức đã phản đối [một cách hài hước] sự can thiệp của cảnh sát bởi vì nó vi phạm Staatsgrundgesetz(“Luật cơ bản” của Cộng hòa Liên Bang” rất dân chủ và bình quyền, trong đó cấm mọi sự phân biệt đối xử giữa hai giới; Tại sao phụ nữ phải che phần trên của cơ thể trong khi đàn ông thì không? Chẳng phải Chúa đã phân biệt giới tính về mặt thể chất hay sao? Bình đẳng trước pháp luật có thể rất bất công(unjust): hãy chứng kiến sự phản đối kịch liệt, Summum ius, summa iniuria[Công bình mà thiếu yêu thương sẽ đưa đến tàn nhẫn]. Thật vậy, công bình(justice) được thực thi tốt hơn nhờ nguyên tắc Ulpian mà chúng ta đã trích dẫn, Suum cuique, chia cho mỗi người cái mà họ đáng được nhận.
--BÌNH ĐẲNG VỀ CƠ HỘI
--Một kiểu bình đẳng thứ ba được rất nhiều người đòi hỏi: bình đẳng về cơ hội. Theo nghĩa hẹp của thuật ngữ này, nó không bao giờ có thể đạt được và thậm chí không nên cố gắng thực hiện. Sẽ khôn ngoan hơn nhiều nếu yêu cầu loại bỏ sự phân biệt đối xử bất công(unjust discrimination), sự phân biệt đối xử tùy tiện(arbitrary discrimination) mà không có nền tảng dựa trên “thực kiện”(factual) chắc chắn nào. Trong tuyển dụng lao động, chúng phải phân biệt giữa người lành nghề(skilled) và người thiếu kinh nghiệm, người chuyên cần và kẻ lười biếng, người ù lì và người thông minh, v.v. Tuy nhiên, điều thú vị là có một xu hướng ở nhiều công đoàn phản đối sự phân biệt đối xử công minh(just discrimination) đó và nhấn mạnh vào mức lương "không phân biệt đối xử" và sự đảm bảo tuyển dụng(employment security,[cụm này hay bị dịch là an ninh công việc mà mình đọc thấy khá tối nghĩa, ý của nó là đảm bảo bạn không bị thất nghiệp, luôn có việc làm). (Mặt khác, các công đoàn có thành tích xấu về sự phân biệt chủng tộc rõ ràng là bất công - đặc biệt là ở Liên minh Nam Phi, nơi "dân thường"(common man) có xu hướng phân biệt chủng tộc(racial discrimination) trong khi tư bản và doanh nghiệp lớn lại "mù màu"(color-blind,[nghĩa là không đánh giá năng lực dựa trên màu da].
--Nói cách khác, “sự phân biệt đối xử công minh”, nghĩa là “sự ưu tiên[hoặc đánh giá] dựa trên năng lực(merit,[hoặc có thể dịch là công đức, tài năng], dễ dàng thấy rằng [đang] vắng mặt trong một quá trình có ảnh hưởng rộng lớn và sâu sắc như một cuộc bầu cử chính trị gương mẫu đã được thừa nhận(sanctified) trong xã hội chúng ta. Cho dù đó là một cuộc bầu cử dân chủ thực sự ở phương Tây hay một vở kịch “trưng cầu ý dân”( plebiscitarian) ở phương Đông, nguyên tắc mỗi người một phiếu bầu giờ đây đã được coi là hiển nhiên. Kiến thức, kinh nghiệm, các tài năng(merits), địa vị trong cộng đồng, giới tính, của cải(wealth), thuế má, lý lịch quân sự của cử tri không được tính, chỉ có nguyên lý thực vật về tuổi tác(vegetable principle of age) – anh ta[hoặc chị ta] phải đủ 18, 21, 24 tuổi và vẫn còn “chưa đủ chính chắn”(on the hoof). Cô gái điếm mù chữ 21 tuổi và giáo sư khoa học chính trị 65 tuổi bị mất một cánh tay trong chiến tranh, có một gia đình đông con, gánh một gánh nặng thuế đáng kể và có sự hiểu biết thực sự về các vấn đề chính trị mà anh ta phải bỏ phiếu - họ đều bình đẳng về mặt chính trị với tư cách là công dân. So với một sinh viên khoa học chính trị 20 tuổi, cô gái điếm nhỏ bé thân thiện của chúng tôi thực sự được đánh giá cao hơn với tư cách là một cử tri. Do đó, không nên ngạc nhiên nếu ở “các quốc gia mới nổi” - và ngay cả ở 23 quốc gia khác - việc bỏ phiếu không bắt buộc phải biết chữ. Chính chủ nghĩa bình quyền(egalitarianism) này của các cử tri đã hình thành về mặt tâm lý (như chúng ta sẽ thấy sau) các quan niệm bình quyền khác và đã bị Giáo hoàng Pius XII, và không chỉ có ngài ấy, chỉ trích gay gắt.
--Quay lại với “Bình đẳng về cơ hội”, theo nghĩa hẹp mà nói, ngay cả một chế độ chuyên chế toàn trị(totalitarian tyranny) cũng không thể làm được điều này, bởi vì không quốc gia nào có thể ra quy định rằng một đứa trẻ khi bước vào thế giới này phải có “cha mẹ bình đẳng”(equal parents). Họ có thể bình đẳng với tất cả các bậc cha mẹ khác trong cả nước về mặt tài sản, nhưng liệu họ có trình độ sư phạm bình đẳng nhau không? Họ sẽ cung cấp di truyền bình đẳng như nhau hay không? Liệu họ có cho con mình chế độ dinh dưỡng giống như các bậc cha mẹ khác không? Lời kêu gọi về một nền giáo dục giống hệt và bình đẳng đã được dấy lên nhiều lần trong các nền dân chủ, toàn trị hay các chế độ khác, và sự tồn tại của nhiều loại trường học khác nhau được coi là "phi dân chủ". Chỉ vì cha mẹ quá khác nhau (tất cả các cuộc hôn nhân đều yêu cầu một "sự hợp thành"(constellation) khác), những người theo chủ nghĩa bình quyền đã ủng hộ không chỉ việc học tập chuyên sâu mà còn ủng hộ trường nội trú cho tất cả mọi người. Trẻ em nên được đưa ra khỏi nhà và được giáo dục tập thể 24 giờ một ngày. Hiện nay, đây là xu hướng ở Liên Xô khi (nếu mọi việc thực sự diễn ra theo đúng kế hoạch) hơn 90% trẻ em sau 6 tuổi sẽ học trường nội trú sau năm 1980. (Điều này sẽ ảnh hưởng như thế nào đến tỷ lệ sinh là một vấn đề hoàn toàn khác). Tuy nhiên, ngay cả tất cả các biện pháp này cũng sẽ không bao giờ mang lại sự bình đẳng hoàn toàn về cơ hội trừ khi người ta hoàn toàn coi thường “hợp tính”-idoneity[(năng lực, kỹ năng, v.v.)[ND: nghĩa là các yếu tố đánh giá con người giúp xã hội tiến bộ, “phù hợp” với sự phát triển của xã hội”]. Nếu điều này xảy ra, sự thoái bộ chung ở mọi cấp độ sẽ xảy ra.
--
Tuy nhiên, như Friedrich August von Hayek đã chỉ ra, một sự đối xử bình đẳng nhất định là cần thiết trong một xã hội tự do. Chỉ có đối xử bình đẳng với mọi người thì mới biết ai hơn ai. Chúng ta phải đưa ra cùng một bài kiểm tra cho một nhóm để phân biệt(classify) các thành viên của nhóm đó. Chúng ta phải thấy rằng những con ngựa trong cuộc đua đều xuất phát từ cùng một đường. Bằng cách đối xử bình đẳng(equally) với mọi người (chúng ta quay lại trạng từ[adverb]), chúng ta không làm cho họ trở nên bình đẳng(make them equal). Đương nhiên, trong một xã hội tự do và cởi mở, nguyên tắc thời gian sẽ chiếm ưu thế: Những người có trình độ cao hơn những người khác sẽ thăng tiến nhanh hơn. "Hãy vinh danh người xứng đáng được vinh danh." Không thể nghi ngờ rằng từ quan điểm lợi ích chung, phúc lợi chung, xã hội mở là tốt nhất, bởi vì tài năng có cơ hội phát triển trong đó tốt hơn so với những xã hội bị chia rẽ bởi đẳng cấp hoặc giai cấp. Bản chất của các rào cản giai cấp là chính chúng có thể bị vượt qua. Tuy nhiên, sẽ là một sai lầm lớn khi nghĩ rằng việc không có những khuyết tật xã hội cố định sẽ làm tăng hạnh phúc cá nhân. Giai cấp tư sản tài năng đã thất bại trong xã hội Pháp trước Cách mạng luôn được an ủi rằng một hệ thống bất công đã ngăn cản sự vươn lên dẫn đầu của họ. Con người trong một xã hội tự do hoặc phải tự trách mình (điều này dẫn đến chứng u sầu của những người bị mặc cảm tự ti) hoặc sẽ buộc phải đổ lỗi(accuse) những âm mưu tưởng tượng của những kẻ ác tâm và những kẻ thù thực thụ.Về mặt tâm lý, lập trường của ông ấy giờ đây khó khăn hơn nhiều. Một xã hội có tính cơ động cao đương nhiên sẽ mang lại nhiều sự thỏa mãn nhưng, như bản chất của sự vật, thậm chí còn mang lại nhiều thất vọng hơn. Trên thực tế, chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy rằng số lượng các ca rối loạn tâm lý, “suy nhược thần kinh” và các vụ tự tử ở nam giới tăng lên cùng với sự di động xã hội (cũng như một điều gì đó hoàn toàn khác, mất đi niềm tin tôn giáo). Tuy nhiên, điều này không hủy bỏ tính ưu việt nội tại của một xã hội mở(open society) so với một xã hội đóng(closed society).
--KẾT ÁN CHỦ NGHĨA BÌNH QUYỀN
--Chủ nghĩa bình quyền, như chúng ta đã đề cập, không thể đạt được nhiều tiến bộ nếu không sử dụng vũ lực: Sự bình đẳng hoản hảo, một cách tự nhiên, chỉ có thể có được trong chế độ nô lệ toàn diện(total slavery). Vì tự nhiên-nature[và tính tự nhiên(naturality), cũng bao hàm sự tự do khỏi những ràng buộc giả tạo] không có thành kiến chống lại những bất bình đẳng thậm chí là thô thiển, nên vũ lực phải được sử dụng để thiết lập sự bình đẳng. Hãy tưởng tượng một lớp học sinh trung bình ở một trường nội trú có đủ tài năng, sở thích và khuynh hướng làm việc chăm chỉ. Hiệu trưởng đầy quyền lực và độc tài của trường khẳng định rằng tất cả học sinh trong lớp phải đạt điểm B trong một môn học nhất định. Cách đơn giản nhất có lẽ là đánh vào đầu họ. Vũ lực sẽ phải được sử dụng, như Procrustes đã sử dụng nó. Nhưng việc sử dụng vũ lực sẽ hạn chế và trong hầu hết các trường hợp sẽ phá hủy tự do.
--Quang cảnh “tự do” có đồi núi và thung lũng. Để tạo ra một quang cảnh "bình đẳng" , người ta sẽ phải thổi bay các đỉnh núi và lấp đầy các thung lũng bằng đống đổ nát. Để có được hàng rào đồng đều, người ta phải cắt tỉa nó thường xuyên. Để bình đẳng hóa của cải(điều mà rất nhiều quốc gia “tiến bộ” ở hai bên Bức màn sắt-Iron Curtain hiện đang thực hiện), người ta sẽ phải trả “tiền công và thu nhập bằng nhau”, hoặc đánh thuế phần thặng dư - đến mức mà những người có thu nhập bình quân sẽ từ chối làm thêm. Vì đây thường là những người có thiên bẩm về sức chịu đựng và lên các ý tưởng nên sự chối từ của họ có tác động làm tê liệt phúc lợi chung.[ND: Tại sao phải làm nhiều hơn người khác cơ chứ?]
--BÌNH ĐẲNG VÀ [QUYỀN] TỰ DO- Liệu có thể kết hợp cả hai?
--Nói cách khác, có một sự phản nghịch thực sự, một sự không tương thích, một sự loại trừ lẫn nhau giữa tự do và sự bình đẳng được thực thi(enforced equality). Đây là một tình huống gây tò mò nếu chúng ta nhớ rằng trong suy nghĩ đại chúng, hai khái niệm này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Phải chăng điều này chỉ do Cách mạng Pháp chọn làm khẩu hiệu “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” - hay còn có lý do nào khác? Ngoài công thức này, trên thực tế không có cơ sở nào cho tình trạng này ngoại trừ mối liên hệ tâm lý mà chúng tôi đã đề cập trước đó. Nếu A vượt trội hơn B-mạnh mẽ hơn, đẹp trai hơn, thông minh hơn, có ảnh hưởng hơn, giàu có hơn-thì B sẽ cảm thấy thấp kém hơn, không thoải mái và thậm chí có thể sợ A. Nếu chúng ta cam kết(subcribe) theo đuổi “Bốn quyền tự do” nổi tiếng và chấp nhận với công thức “Tự do khỏi sợ hãi”-Freedom from Fear, thì chúng ta có thể thấy sự bất bình đẳng thực sự gây ra sợ hãi và ghen tị như thế nào, mặc dù sự ghen tị hiếm khi được đề cập đến trong mối liên hệ này. Không cần phải nói, sợ hãi(fear) và ghen tị(envy) là anh em sinh đôi, nhưng chúng ta thực sự nên nói đến bộ ba, bởi vì sự căm ghét(hate) khiến họ trở thành bạn đồng hành tốt. Bất chấp sự ràng buộc tâm lý này, một bên là sự bình đẳng và một bên là tự do đều thù địch lẫn nhau. Vì bình đẳng là yếu tố năng động của nền dân chủ, trong khi quyền tự do(liberty) là nền tảng của chủ nghĩa tự do thực sự(real liberalism), nên hai khái niệm chính trị này thực sự không hòa hợp lẫn nhau.
--
Còn tiếp
Cr: Nyxar