Có thể sáng tạo mà không cần triết học không? Một suy tư từ hội hoạ – về khoảng trống mỹ học và triết học…

Catholic Net · · Đối luận Triết học
Có thể sáng tạo mà không cần triết học không?

Một suy tư từ hội hoạ – về khoảng trống mỹ học và triết học trong nghệ thuật Việt Nam.
Ở Việt Nam, dễ nhận ra một nghịch lý: nhiều hoạ sĩ chưa thật sự quan tâm đến mỹ học, trong khi người thưởng thức, đặc biệt là giới sưu tầm trẻ, những người tiếp xúc với nghệ thuật quốc tế, lại ngày càng khao khát hiểu nghệ thuật ở tầng sâu hơn.
Nghệ sĩ thường sáng tác theo cảm tính, trực giác hoặc kỹ thuật thuần tuý, và việc cảm thụ cái đẹp được xem là một năng khiếu bẩm sinh. Những câu hỏi mang tính triết học về bản thể, về nhận thức trong cái đẹp đôi khi bị gạt qua một bên vì lo ngại chúng có thể làm “nặng đầu”, gây cản trở cảm hứng. Điều này phần nào đến từ truyền thống đào tạo mỹ thuật vẫn còn thiên về hình thức, và phần khác từ một định kiến sai lệch rằng triết học là xa vời, khô khan và không dành cho người làm sáng tạo.
Nhìn sâu hơn, ta thấy những định kiến này là hệ quả của một lịch sử đứt gãy. Trong mắt Tây phương, Việt Nam thuở “khai phá”, từng không được thừa nhận là một nền văn minh, càng không có mỹ thuật. Người Pháp khai sinh trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương năm 1924 không nhằm đào tạo nghệ sĩ mà là đào tạo “người thợ làm mỹ thuật” bản xứ. Thế nhưng, với những tinh thần tìm tòi và khai phóng của thanh niên thời đó, một thế hệ hoạ sĩ thực thụ đã xuất hiện từ rất sớm. Những cái tên như Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Lê Phổ, Nguyễn Phan Chánh... đến nay vẫn được thế giới biết đến. Đáng tiếc là sau những thành tựu ban đầu ấy, dòng chảy nghệ thuật tiếp tục bị đứt đoạn, và sau một thế kỷ, nền mỹ thuật Việt vẫn loay hoay trong một vòng lặp chưa được phá vỡ: người sáng tác yếu về nền tảng tư tưởng, triển lãm thiếu công cụ để “đối thoại”, và giáo dục mỹ thuật vẫn còn thiếu vắng mỹ học.
Ở chiều ngược lại, người xem ngày nay cũng không ít khi rơi vào những cực đoan, dẫu mong muốn vươn tới cái đẹp qua nghệ thuật là một điều chính đáng và đầy nhân văn. Họ muốn “hiểu” tác phẩm nghệ thuật như “giải” một bài toán. Thị trường nở rộ những workshop, những người đi tìm công thức để “nâng cao thẩm mỹ”, như thể cái đẹp là một kỹ năng cần luyện tập hơn là một sự dậy cảm của tâm hồn, là một cảm thụ để khai mở. Tác phẩm trở thành vật thể thay vì một miền để đối thoại.
Dĩ nhiên, tài năng và cảm quan của nghệ sĩ lẫn người thưởng lãm Việt Nam chưa bao giờ là điều đáng nghi ngờ. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở việc “có nghệ sĩ” và “có thị trường”, mà chưa thực sự nuôi dưỡng được chiều sâu thẩm mỹ cũng như chiều sâu con người thông qua nghệ thuật, thì rất có thể, ta vẫn chần chừ ở ngưỡng cửa đã được mở ra của một trăm năm trước.
Ngày nay, chúng ta có nhiều phương tiện hơn bao giờ hết để lần tìm những đoạn đứt gãy của lịch sử văn hoá, và nếu may mắn có thể nối lại được điều gì đó. Nhiều nghệ sĩ trẻ đã quay về với di sản: chất liệu dân gian, tín ngưỡng, hình thức truyền thống,.. không chỉ để làm mới ngôn ngữ tạo hình mà còn để nghe lại một tiếng gọi sâu thẳm bên trong. Họ nhạy cảm với tâm lý, bị cuốn hút bởi một đối tượng, một nguồn cảm hứng; họ có thể từng nghe đến “siêu hình học”, “luận lý học”, và thường dùng từ “mỹ cảm”, nhưng tiếc thay, vẫn hiếm ai truy nguyên về cội nguồn, thứ nền tảng duy nhất có thể nâng đỡ và soi chiếu toàn bộ những kiếm tìm ấy: triết học.
Triết học không dạy nghệ sĩ cách sáng tạo mà khiến họ tự đặt câu hỏi về mình, về sáng tạo. Triết học không dạy những kỹ thuật tuyệt đỉnh nhưng từ những thao tác thủ công thường ngày, người nghệ sĩ có thể, qua triết học, hiểu mình hơn và ý thức về sự hiện hữu của chính họ. Triết học không giúp nghệ sĩ bán được tranh hay trở nên nổi tiếng, nhưng triết học giúp họ chất vấn về thành công thực sự trong cuộc đời, là thứ giữ họ không bị lạc lối bởi thành tựu. Triết học không khơi dậy cảm hứng một cách hào nhoáng mà dẫn họ đi qua những vùng tối tăm nhất trong nội tâm, để nếu có một nguồn cảm hứng nào bật lên, thì đó sẽ là một cảm xúc chân thật và thuần khiết.
Nghệ thuật không chỉ là hành vi, mà là cách tồn tại, là cách nhìn, là cách hiện diện giữa thế giới. Triết học không đứng ngoài nghệ thuật. Cũng vậy, nghệ sĩ không chỉ là nghề nghiệp mà là cách hiện diện, cách nhìn thế giới, cách hành động giữa cuộc đời, là điều người ta sinh ra cùng với nó, sống với nó, và sống nhờ vào nó. Nếu ai đó có thiên hướng nghệ thuật, họ là người may mắn, hoặc không, bởi họ có khả năng tạo ra thực tại, và đó là một trạng thái mong manh như đi trên sợi dây căng run rẩy giữa hai bờ thực – mơ. Sẽ thật thiếu sót và đáng tiếc nếu nghệ sĩ không được trang bị những kiến thức nền tảng trên hành trình đầy quyến rũ lẫn hiểm nguy này. Một người nghệ sĩ thực thụ không cần quan tâm đến mỹ học hay triết học vẫn có thể sáng tác được – điều này đúng. Lịch sử nghệ thuật đã chứng kiến những thiên tài bẩm sinh, cũng như những nghệ sĩ sống lặng lẽ đến cuối đời, sáng tác với những triết lý được họ chắt lọc từ chính cuộc nhân sinh của mình. Nhưng cũng vì vậy mà điều ấy khó, nếu không nói là hiếm. Và nếu không đến mức là thiên tài thì việc sống trọn vẹn một đời nghệ sĩ mà không bị lạc lối bởi những huyễn tưởng về cảm hứng, danh tiếng hay cái tôi, là điều mong manh vô cùng.
Mỹ học nói riêng và triết học nói chung, cần thiết, không vì để “giải mã” nghệ thuật, mà là để mở ra những cuộc đối thoại mạch lạc. Đối thoại ấy không nhằm tới kết luận, không đơn thuần là truyền đạt thông tin, mà là một diễn trình, nơi cả nghệ sĩ lẫn người xem dần hiểu hơn về chính bản chất của sự đối thoại thông qua cái đẹp. Nghệ thuật không đóng lại bằng một ý nghĩa cụ thể mà làm phong phú thêm các tầng nghĩa, là một khe nứt của thực tại mà qua đó ta khả dĩ nhận ra những bí ẩn của cuộc sống và huyền nhiệm của nhân sinh.

Cr: méo