TẠI SAO “CHỦ NHÂN” CỦA HEGEL BUỘC PHẢI LÀ QUÝ TỘC? Trích từ The Uniqueness of Western Civilization Tôi rút ra…
Trích từ The Uniqueness of Western Civilization
Tôi rút ra quan điểm sâu sắc của Montesquieu (1990: 151–52) rằng “chẳng có ích gì khi tìm kiếm lòng cao thượng ở các quốc gia chuyên chế, vì kẻ cai trị không thể thể hiện sự vĩ đại mà bản thân hắn không sở hữu. Vinh quang vắng bóng nơi hắn.” Một kẻ cai trị chuyên chế “thường bị chiếm hữu bởi cơn giận hoặc sự báo thù… hắn ta không thể có bất kỳ khái niệm nào về vinh quang chân chính.” Fukuyama đã đúng khi đề cập đến Stalin và Mao như những ví dụ về những kẻ khao khát quyền lực khủng khiếp. Nhưng ông ấy đã khiến vấn đề rối ren khi đề cập đến những cá nhân này trong lúc thảo luận về đức tính chiến binh(warrior ethos) của các nền văn hóa quý tộc. Hãy xem xét Stalin; cách mà ông giành được quyền thống trị tuyệt đối của mình hầu như không mang tính quý tộc, và chế độ mà ông củng cố là hoàn toàn chuyên quyền. Stalin cực kỳ tự ti về vai trò cấp dưới của mình trong đảng Bolshevik trước năm 1917. Ông phẫn nộ với những thành tựu trí tuệ của Trotsky cũng như khả năng chỉ huy Hồng quân trong Nội chiến. Có một nhận xét[được kể lại] của Burkharin vào năm 1928 rằng Stalin “đã bị nuốt chửng” bởi khao khát được công nhận như một nhà lý thuyết danh tiếng. Lòng thèm khát được nịnh bợ và bất an của ông, theo lời của Burkharin, là do ông không có khả năng “thuyết phục được mọi người, ngay cả chính bản thân ông, rằng ông vĩ đại hơn tất cả” (Tucker 1973: 424–5). Nhưng vấn đề không phải là Stalin thiếu những tài cán đặc biệt. Như nghiên cứu tiểu sử gần đây của Simon Sebag Montefiore (2008) đã tiết lộ, Stalin phi thường về nhiều mặt; một chiến sĩ du kích, cầm đầu và cướp nhà băng chuyên nghiệp và kiên định trong giai đoạn trước cách mạng; và trong nhiều lần bị lưu đày, ông đã có được sự kiên nhẫn, lòng dũng cảm, sự khéo léo và sự thận trọng. Ông là một kẻ nhìn người giỏi, và có thể rất hòa nhã và cuốn hút; ông biết nhiều thứ tiếng và đọc ngấu nghiến nhiều chủ đề; và cuối cùng ông đã đánh lừa được Trotsky trong cuộc chiến giành quyền lực.Vấn đề là ông đến từ một bầu không khi chuyên quyền chính trị, một bối cảnh mang chất Á châu/ Georgia nằm ngoài phạm vi Tây phương, kết hợp với ý thức hệ marxist thô cứng coi khinh chủ nghĩa tự do. Stalin là nguyên mẫu của tính cách chuyên quyền. Ông là một kẻ đầy thù hận và tận hưởng việc trả thù thầm lặng của mình hơn bất kỳ điều gì. Như ông đã từng tuyên bố: “Thú vui lớn nhất của tôi là lựa chọn nạn nhân, lên kế hoạch tỉ mỉ, thưởng thức sự trả thù không khoan nhượng rồi lên giường ngủ. Trên đời không có gì ngọt ngào hơn thế”(trong Montefiore: 309). Không giống như giới quý tộc thích làm quen với những người có năng lực tương xứng, Stalin không thích những người tài năng và loại bỏ bất kỳ ai đã đạt được bất kỳ sự nổi bật nào hoặc bị nghi ngờ là có đầu óc nhạy bén hơn. Khi đã nắm toàn quyền kiểm soát Đảng Cộng sản, không có quý tộc nào xung quanh y; tất cả cố vấn thân cận nhất của ông đều là những nhân vật có tính cách phục tùng/ nô lệ(slavish), kể cả Molotov, người có vợ bị bắt và bị đày đi lưu vong, và Kaganovich, người có hai anh trai bị xử tử, tuy nhiên cả hai vẫn tiếp tục cộng tác với Stalin. Việc sử dụng mưu mô và lừa dối là trụ cột quan trọng cho quyền lực của ông. Sau khi đánh bại mọi đối thủ và giành được toàn quyền, ông vẫn cần nghe những lời tán thành của công chúng để củng cố cái tôi của mình (Bazhanov 1982; Ulam 1982).
Chúng ta hãy nhắc lại đóng góp tích cực của Fukuyama cho đến nay: isothymia là một khao khát của mỗi người mong muốn được công nhận là bình đẳng với những người khác; megalothymia là một tình trạng hiếm gặp chỉ được biểu hiện ở một số ít người. Chỉ có các xã hội quý tộc mới thể hiện - như một “cốt lõi thiết yếu” trong nền văn hóa của họ – một “đức tính chiến binh [trong] ý thức về tính ưu việt bẩm sinh dựa trên sự sẵn lòng mạo hiểm đối đầu với cái chết”.
Vấn đề là Fukuyama đã làm cho chủ đề trở nên rối rắm khi tuyên bố rằng các xã hội quý tộc từng tồn tại "khắp nơi trên thế giới". Nếu Hayden khiến vấn đề rối rắm vì không phân biệt giữa việc theo đuổi của cải (vật chất) và việc theo đuổi danh vọng/danh dự (phi vật chất), thì Fukuyama lại từ bỏ trực giác đúng đắn của mình về bản chất quý tộc của tầng lớp chủ nhân, khi ông đi theo—một cách thiếu cân nhắc—quan niệm Hegel–Kojeve rằng “những con người đầu tiên” là những con người nói chung, và cho rằng người ta có thể tìm thấy khát vọng danh dự thuần túy ở những cá nhân vĩ đại trên khắp các châu lục. Đây là một cách diễn giải có cơ sở trong văn bản của Hegel và Kojeve, nhưng nếu chúng ta muốn hiểu một cách có tính lịch sử các hệ quả triết học của “trận chiến đầu tiên” thì cần phải hình dung một xã hội quý tộc ngay từ khởi đầu của lịch sử.
Tôi tin rằng có một khiếm khuyết lớn trong lập luận triết học của Kojeve (một khiếm khuyết chưa từng được các nhà chú giải của ông ghi nhận, vì độc giả của ông chủ yếu là triết gia chứ không phải là sử gia), đó là: biện chứng chủ-nô đã bỏ sót vai trò lịch sử thiết yếu của tầng lớp chiến binh quý tộc. Hình ảnh mà ta nhận được từ Kojeve là hình ảnh của một chủ nhân đơn độc – một tên bạo chúa – kẻ sau khi thắng trong trận chiến “đầu tiên”, đã đối diện với những con người nô lệ, vốn không còn sẵn sàng thách thức quyền uy của hắn bởi họ chuộng sự an toàn hơn là một đời sống phiêu lưu và nổi loạn. Nhưng các xã hội chiến binh đích thực là những xã hội được dẫn dắt bởi những người giỏi chiến đấu nhất, và tất cả họ cùng công nhận lẫn nhau như những chủ nhân. Trong các xã hội quý tộc chiến binh, luôn luôn tồn tại những chủ nhân biết tôn vinh những chiến công anh hùng của nhau. Chỉ trong một xã hội chuyên chế, nơi “chỉ có một người là tự do”, thì chủ nhân mới rơi vào tình thế trong đó sự công nhận đến từ những người còn lại – những kẻ nô lệ – trở nên vô giá trị đối với y. Kojeve đã không nhận ra rằng, các xã hội chiến binh đích thực không phải là nơi một người duy nhất được tự do còn phần còn lại đều là kẻ nô lệ, mà là nơi có một tầng lớp các chiến binh – những người công nhận nhân tính của nhau, dù cho chỉ có một người lãnh đạo được công nhận, “người anh hùng dũng cảm nhất”, kẻ nhận phần thịt của anh hùng khi tất cả những chiến binh hùng mạnh nhất ngồi quây quần quanh vòng tròn để cùng dùng bữa tối4. Một chủ nhân không có danh dự thì cũng chẳng có giá trị gì cả – và danh dự chỉ có thể được trao bởi những người đồng đẳng.Tôi phải nói rằng, Kojeve không thật sự quan tâm đến các chủ nhân, dù ông đã nắm bắt phần này trong Hiện tượng học Tinh thần của Hegel tốt hơn bất kỳ nhà chú giải nào thời đó. Điều Kojeve — với tư cách một nhà marxist — quan tâm, chính là biện chứng tương lai của quan hệ chủ-nô5. Ông tin rằng một khi chủ nhân đã hoàn thành vai trò mạo hiểm mạng sống của mình trong các cuộc chiến đẫm máu vì danh dự, thì không còn gì nhiều cho ông ta để làm nữa. Chủ nhân bị mắc kẹt trong “lối rẽ sai” của lịch sử, trong một tình huống mà ông được công nhận bởi một “sự vật” chứ không phải một con người khác. Dù cho có bao nhiêu cuộc chiến vì danh dự, chủ nhân cuối cùng cũng sẽ rơi vào một “ngõ cụt hiện sinh”: hoặc là sống trong khoái lạc và nhàn rỗi, hưởng thụ thành quả lao động của nô lệ, hoặc đơn giản là chết trận. Vai trò của ông trong lịch sử không vượt quá thành tựu ban đầu của tự- ý thức và không để lại di sản lâu dài nào khác. Trong khi đó, nô lệ lại là kẻ “sẵn sàng thay đổi”. “Bản tính đích thực” của nô lệ chính là sự biến đổi, bởi vì anh ta tất yếu phải lao động vượt lên tự nhiên, học hỏi về tự nhiên, và trở thành “chủ nhân của tự nhiên”; anh ta “vượt qua bản thân mình thông qua lao động… anh ta tự giáo dục chính mình, anh ta ‘tu dưỡng’ và ‘thăng hóa’ các bản năng của mình,” khi anh ta kìm nén các ham muốn tức thời và tập trung vào công việc. Nô lệ, theo cách ấy, học cách làm chủ các dục vọng sinh học trực tiếp của mình để thay vào đó là việc tạo ra những sản phẩm mang tính khách quan, biểu hiện các mục tiêu của anh ta. Anh ta nhận ra năng lực bản chất của mình thông qua lao động và qua những sản phẩm do mình tạo ra, và nhờ đó anh ta thôi không còn là một “hữu thể tự nhiên” mà trở thành kẻ thật sự ý thức về nhân tính của mình (Kojeve: 20–30, 42–52).
Vì thế, theo quan điểm của Kojeve, trong khi chủ nhân “không thể vượt qua chính mình, không thể thay đổi, không thể tiến bộ,” thì nô lệ lại là kẻ làm nên lịch sử “trong thế giới kỹ thuật được biến đổi bởi lao động của mình.” Khi kìm nén dục vọng hưởng thụ tức thời, và hình thành một ý niệm về điều mình định tạo ra – “ý niệm làm phát sinh kỹ thuật là một ý niệm khoa học” – thì nô lệ (trong quá trình trở thành tầng lớp tư sản(bourgeois, còn có nghĩa là dân thành thị)) đã sản sinh ra “tư duy trừu tượng, khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật – tất cả những thứ này đều có nguồn gốc từ lao động cưỡng bức của nô lệ.” Do đó, thông qua lao động , nô lệ dần dần giải phóng bản thân khỏi các điều kiện tự nhiên của sự hiện hữu của y, học cách làm chủ tự nhiên và cải thiện điều kiện kinh tế của đời sống. Khi nhận ra các năng lực trí tuệ của mình, nô lệ “trở nên ý thức về tự do của mình,” và từ đó hình thành “ý niệm về tự do”, một ý niệm mà về sau y sẽ hiện thực hóa thông qua hành động bãi bỏ chế độ nô lệ. Trong khi đó, chủ nhân chỉ đơn thuần là chính mình, tự do trong sự nhàn rỗi, là chủ nhân của một hữu thể mà sự công nhận từ kẻ ấy không còn giá trị với ông ta; và ngoài trạng thái này ra, chủ nhân không thể tiến thêm nữa. Do đó, “chủ nhân không bao giờ thành công trong việc vượt lên khỏi hình thức tự do được hiện thực hóa nơi bản thân ông ta và sự thiếu hụt của chính hình thức tự do ấy” (Kojeve: 53–70).
Chính lao động mới đem lại sự biến đổi thực sự, chứ không phải hành động quân sự; “là lao động tạo ra súng máy, chứ không còn là rìu nữa”. Thái độ thuần túy hiếu chiến của chủ nhân không thay đổi suốt nhiều thế kỷ, và do đó không thể tạo ra một biến chuyển lịch sử nào. Chính lao động mới biến đổi thế giới và bản thân con người, bằng cách tạo ra một Con Người biết cách cải biến tự nhiên và nhờ đó trở nên ý thức về tự do của mình. Chủ nhân khởi động lịch sử bằng việc buộc nô lệ phải lao động, nhưng chính nô lệ mới là kẻ đẩy lịch sử tiến về phía trước sau khi nó đã bắt đầu. Trước khi hiện thực hóa được tự do “nhân loại”, nô lệ suy tưởng qua một chuỗi các triết thuyết về tự do… cho đến khi hắn hình dung ra Kitô giáo – như một thế giới “bên kia” nơi nô lệ bình đẳng với chủ nhân; nhưng chừng nào nô lệ còn không dám liều mạng sống của mình thì hắn vẫn chưa thôi làm nô lệ. Hắn phải liều mạng trong một cuộc chiến với chủ nhân – và hắn sẽ làm điều đó khi vượt qua Kitô giáo bằng cách hiện thực hóa lý tưởng Kitô giáo trong thế giới thực – điều đã “được thực hiện trong và qua cuộc Cách mạng Pháp” (Kojeve: 53–70).
Khi viết về Hy Lạp cổ đại, Kojeve thoáng đề cập đến “các chủ nhân với tư cách công dân” và một “Nhà nước của những chủ nhân”, như thể ông nhận ra rằng trong xã hội này không tồn tại một chủ nhân đơn lẻ, mà là một nhà nước được điều hành bởi một đại hội nhân dân gồm các công dân – tất cả đều là chủ nhân (tr. 57). Rõ ràng, “các chủ nhân với tư cách công dân” này có thể được xem là đã “thực sự thỏa mãn” trong chừng mực mỗi người đều được những người đồng đẳng thừa nhận. Tuy nhiên, bởi vì Kojeve diễn giải mối quan hệ chủ-nô theo đường lối marxist, và do đó cho rằng lao động của con người là lực lượng chuyển hóa chính trong lịch sử, ông không dành sự chú ý đến các chủ nhân ngoài phương diện sơ khai – nơi họ là những người khơi dậy thực tại thiết yếu của tự- ý thức con người. Hơn nữa, lập luận của ông được trình bày hoàn toàn dưới dạng triết học, thiếu đi nhận thức về cách mà những hữu thể lịch sử cụ thể có thể đã đạt được tự-ý thức của mình. Theo tôi, ý tưởng Hegel–Kojeve về nguồn gốc của tự-ý thức vẫn có thể mang giá trị về mặt lịch sử, miễn là đã từng tồn tại một xã hội “đầu tiên” gồm các chủ nhân tận tâm với việc đề cao danh dự – như là cách thiết yếu để các thành viên của xã hội ấy khẳng định “tồn tại cho-mình” (tự do) và bộc lộ nhân tính của họ. Như tôi đã lập luận trong các chương trước, ứng viên gần nhất trong lịch sử thế giới có thể đã đóng vai trò này chính là dân tộc Ấn-Âu.
Cr: Nyxar