Cấu trúc của trật tự hiện hữu trong Vũ trụ luận của Plotinus: Nhất Thể - Trí Tuệ – Linh Hồn – Vật chất…
Plotinus nhận thấy thế giới vật chất với vô vàn sự vật đa dạng, không thể là thực tại đích thực vì nó luôn luôn thay đổi. Chỉ cái gì không thay đổi mới có thể thực sự tồn tại và vì vậy thực tại không thay đổi này phải là cái gì khác với thế giới vật chất. Thực tại đích thực là Thượng đế nên ngài không phải là vật chất, không hữu hạn, không thể phân chia, không có hình thức đặc thù nào cho dù như là vật chất, linh hồn, hay trí khôn, vì mỗi thứ này đều thay đổi, không thể giới hạn vào một hay những ý niệm nào của trí khôn và vì thế không thể diễn tả bằng ngôn ngữ loài người, và không một giác quan nào đạt tới được, mà chỉ có thể đạt tới nhờ một sự xuất thần huyền nhiệm không lệ thuộc vào một kinh nghiệm nào của lý trí hay cảm giác.
“Sự lĩnh hội về Nhất Thể không diễn ra qua hiểu biết khoa học hay tư duy trí tuệ như trường hợp với các thực thể khả tri khác. Nó gần giống như một sự hiện diện vượt trội hơn tri thức khoa học”.
Vì vậy, Plotinus nói đến Thượng đế như là Nhất Thể. Plotinus tiếp nối mạch suy tư của Plato tiên sinh về một nguyên lý phi nguyên lý, nền tảng phi nền tảng và xác lập khái niệm Nhất Thể trong muôn ngần tuyệt đối, vượt lên trên mọi bản thể (ἐπέκεινα τῆς οὐσίας). Vì nó là nguyên lý của mọi hữu thể nên nó buộc là “bên kia hữu thể”, mà ở bên kia của cái là thì không phải là cái là hoặc ta sẽ gọi nó là cái không-là-gì. Nhất Thể như cách Plotinus gọi nó, là một cái gì đó đơn thuần, tột đỉnh, không thể diễn tả, khẳng định và phủ định cũng không vươn được tới nó.
“Nhất Thể là tất cả mà lại không phải là gì cả. Bởi vì nó là nguyên lý của tất cả nhưng không phải chính những thứ đó, dù mọi thứ đều giống với nó, bởi vì theo một cách nào đó, chúng đã tìm đường trở lại thế giới khả tri, hay đúng hơn, chúng vẫn chưa thực sự ở đó nhưng sẽ đạt đến. Vì nó là trọn vẹn, bởi vì nó không tìm kiếm gì, không có gì, và không cần gì nên theo cách nào đó, nó tuôn trào, và sự dư dả này đã tạo nên một cái khác.”
Theo dòng luận lý vậy, nó lại là không gì cả nhưng là cái KHÔNG cực kỳ sung mãn và là nguồn suối của tất cả. Và cũng không thể gắn cho Nhất Thể bất kỳ điều gì vì như thế đã định nghĩa Nhất Thể là gì rồi, nên ta chỉ gọi Nhất Thể là nó để biết rằng nó tồn tại. Nếu Thượng Đế là Nhất Thể thì ngài không thể tạo dựng vì tạo dựng là sự thay đổi, nghĩa là có sự khác biệt trước khi tạo dựng, đang khi tạo dựng và sau khi tạo dựng. Để giải thích triệt để hơn Plato, Plotinus diễn tả nguyên lý từ Nhất Thể qua khái niệm phát tỏa hoặc tuôn trào (ἀπορροή hoặc πρόοδοςo) một cách tất yếu.
“Cái được sinh ra đó quay trở lại với nó, được làm đầy và trở thành cái nó là thông qua việc chiêm ngưỡng nó và đó chính là Trí tuệ. Việc định vị của cái đó với Nhất Thể tạo ra Hữu thể; còn việc chiêm ngưỡng Nhất Thể tạo ra Trí tuệ. Như vậy, khi nó tự đặt mình trước Nhất Thể để nhìn thấy, nó đồng thời trở thành Trí tuệ và Hữu thể [khả tri]. Trí tuệ, theo một cách nào đó, là Nhất Thể và tuôn trào một sức mạnh dư thừa, sản sinh ra những gì giống như chính nó: Trí tuệ; rốt cuộc, là hình ảnh của Cái Một, giống như cái ở trước nó cũng đã tuôn trào ra vậy.”
Trong trật tự phát tỏa đó, Trí Tuệ (Νοῦς/Nous) được sinh ra đầu tiên rồi quay trở về nguyên lý gốc, được nên vẹn toàn thông qua hành vi chiêm ngưỡng. Bởi vì nó xuất hiện trong trật tự chính là việc tự định vị mình nên nó là Hữu thể Khả tri và hành vi chiêm ngưỡng là Trí Tuệ. Vì vậy khi nó hướng về Nhất Thể, nó đồng thời là cả hai. Trí tuệ này là thuần túy, là sự siêu việt thứ nhì nên nó được tham dự vào sự sung mãn của Nhất Thể và phản chiếu đầy đủ từ Nhất Thể để sản sinh ra thế giới ý niệm quy tụ toàn bộ ý tưởng về vũ trụ này. Nhưng khác với sự siêu vượt nơi Nhất Thể, Trí Tuệ có sự phân cực nội tại nơi mình bởi vì suy tư luôn kéo theo sự phân biệt: chủ thể suy tư và đối tượng được suy tư về. Hành vi này làm cho Trí Tuệ không còn là tuyệt đối nữa, nhưng nó vẫn vẹn nguyên tinh tuyền đầy ắp từ Nhất Thể để thông phối vạn sự ở cấp độ tiếp theo.
“Và trí tuệ tốt nhất, tức là trí tuệ không hướng ra bên ngoài chính nó, tất yếu phải tư duy về cái gì đó đi trước chính nó. Bởi vì khi nó quay về với chính mình, thì nó đang quay trở lại nguồn gốc của nó; và nếu nó vừa là kẻ tư duy vừa là đối tượng được tư duy, thì nó sẽ là một cái gì đó kép, không là duy nhất và do đó không phải là Nhất Thể. Nhưng nếu nó hướng đến một cái gì đó khác với chính nó, thì nó sẽ hoàn toàn hướng về cái gì đó tốt hơn và có trước chính nó. Nhưng nếu nó vừa hướng đến chính nó, vừa hướng đến cái tốt hơn nó thì theo cách đó, nó cũng là cái thứ yếu.”
Tiếp đến là Linh Hồn (Ψυχή/ Psychê) hay gọi là Hồn thế giới. Theo trật tự phát tỏa, thứ tự xa dần với Nhất Thể thì càng đa phức, mức độ chân thực của hiện hữu ngày càng yếu đi, độ hoàn hảo càng giảm. Như vậy, nguồn mạch của Linh Hồn là thứ tự trước nó: Trí tuệ.
“Vậy thì, nếu chấp nhận rằng Trí tuệ phổ quát tồn tại trọn vẹn và toàn thể trong cõi của tư duy thuần túy, vốn chính là cái mà ta xác lập như là vũ trụ khả tri và rằng trong đó bao hàm các năng lực trí năng cũng như các trí tuệ cá biệt; bởi lẽ nó không chỉ là một đơn thể, mà đồng thời là một và nhiều, thì tất yếu cũng phải có sự đa tạp các linh hồn lẫn một Linh Hồn [Hồn thế giới], trong đó các linh hồn đa tạp khác biệt với nó [Hồn thế giới], như các loài phát sinh từ một giống chung (genus), có loài ưu việt hơn, có loài kém hơn, có loài hoạt động trí năng mạnh mẽ hơn và có loài thì kém phần như thế.”
Mỗi cuộc phát tỏa như vậy, cái trước là nguyên nhân cho cái sau, mà vì Trí Tuệ là nguyên nhân của Linh Hồn nên mỗi cá vị linh hồn đều mang khả năng suy tư. Hồn thế giới nằm giữa của trật tự nên nó có hai hướng: Hướng lên Trí Tuệ để chiêm ngưỡng những gì siêu việt và hướng xuống dưới qua hành vi phát tỏa. Nó phát tỏa bằng suy luận, bằng lý trí nên đã gán ý nghĩa cho vạn vật, trao cho vạn vật khả năng quy hồi từ thế giới vật chất trở lại Nhất Thể. Bấy giờ, mọi sự đã mang những ý nghĩa, tương quan với nhau tạo thành biến cố và thời gian ra đời từ đó. Chính bởi sự xuất hiện của thời gian, mọi sự ở thế giới vật chất bị gắn chặt vào sự thay đổi, chuyển dời, không vĩnh cửu như Nhất Thể, Trí Tuệ và Linh Hồn. Linh hồn của mỗi con người theo đó có hai khía cạnh như vậy. Plotinus đã kế thừa tư tưởng tiền hiện hữu của linh hồn nơi Plato và cả việc linh hồn ở đây bị kéo xuống thân xác. Nhưng thay vì gán cho điều đó một cách nói mơ hồ và tiêu cực thì Plotinus gọi đó là kết quả tất yếu trong trật tự hiện hữu.
Nơi thế gian, vật chất là cấp thấp nhất trong trật tự và là nơi xa nhất đối với Nhất Thể. Tại đây vật chất tuân theo một quy luật vận hành và để đạt được sự hài hòa thì cần phải có lý trí. Bản chất của thế giới này là đa phức thuần túy, chuyển động không có mục tiêu, dễ va chạm và trở nên sự hủy diệt. Đây là điểm tối tăm, thiếu ánh sáng, thiếu sự hợp lý thống nhất từ Nhất Thể nhưng là nơi thân xác của con người tồn tại và sinh sống.
“Khi linh hồn làm như vậy [tồn tại riêng rẽ] trong một thời gian dài và lánh xa cái toàn thể, đứng tách biệt như một thể riêng thì nó ngừng nhìn về thế giới khả niệm; trở thành một phần tách rời, nó rơi vào sự cô lập và yếu đuối, bận rộn với những điều nhỏ nhặt, có cái nhìn phiến diện… Kết quả của sự sa ngã, nó bị bắt giữ tại đây, trở thành tù nhân và hoạt động chủ yếu qua giác quan vì ngay từ đầu nó đã bị cản trở không thể vận hành theo hướng trí tuệ. Và người ta nói rằng nó đã bị “chôn” và ở trong một “hang động”…Các linh hồn trở nên như thể là sinh vật “lưỡng cư”, bởi tất yếu chúng sống một phần đời trong thế giới khả niệm và một phần trong thế giới khả giác. Những ai có khả năng liên kết với Trí tuệ sẽ sống nhiều hơn ở cấp độ cao hơn; còn những ai [vì bản tính hoặc bất hạnh] ở trạng thái ngược lại thì bám trụ nhiều hơn ở tầng thấp.”
Con người giờ đây bước vào cuộc giằng co hiện sinh không ngừng. Phần hạ đẳng bị quyến rũ bởi cảm giác và dục vọng, luôn thôi thúc và che mờ lý trí khiến nó thực hiện những hành vi kém cỏi, tầm thường, không thống nhất. Trong khi đó, phần linh hồn cao quý vẫn lặng lẽ chi phối con người tìm lại sự giản đơn và duy nhất, từ phân mảnh mà hồi quy về Nhất Thể.
Cr: El Caballero Inexistente