Nhân học triết linh của Vladimir Solovyov: Tự trị, phẩm giá và sự toàn hảo nơi con người *Phần 1 GIỚI…
*Phần 1
GIỚI THIỆUVladimir Solovyov được công nhận rộng rãi là triết gia vĩ đại nhất, hoặc cụ thể hơn là triết gia tôn giáo vĩ đại nhất của Nga. Bài viết này nhằm giới thiệu một quan niệm cốt lõi trong triết học của Solovyov liên quan đến chủ nghĩa nhân văn của riêng ông, Thần-nhân vị (Godmanhood). Phần lớn, nếu không nói là tất cả, tác phẩm của Solovyov đã được dịch sang tiếng Việt, trong đó có ba tập Siêu lý tình yêu (tên của một tiểu luận). Solovyov tin rằng nhân vị (personhood) bao gồm ý thức về cái tuyệt đối và năng lực tự xác định bản ngã dựa trên ý thức ấy, hay nói cách khác, dựa trên những ý niệm tuyệt đối (absolute ideals). Quan niệm của ông về bản chất con người, hay nhân học triết linh (philosophical anthropology), có nguồn gốc sâu xa từ Kant. Solovyov phát triển quan niệm này trong ba tiểu luận triết học quan trọng bậc nhất sau: Các bài giảng về Thần-nhân vị (tựa khác: Thuyết trình về Thần-nhân loại), Phê phán nguyên lý trừu tượng (Critique), Biện minh cho cái Thiện. Bài viết này được Lược dịch từ quyển A History of Russian Philosophy 1830-1930 của tác giả Randall A. Poole.
THẦN-NHÂN VỊ VÀ Ý NGHĨA VỀ PHẨM GIÁ TUYỆT ĐỐI CỦA CON NGƯỜIÝ tưởng cốt lõi trong triết học của Solovyov là bogochelovechestvo, một thuật ngữ có thể được dịch thành Thần-nhân vị (Godmanhood), nhân tính thần thánh (divine humanity), hoặc nhân tính của Thiên Chúa (humanity of God). Khái niệm này được truyền bá thông qua các bài thuyết giảng của thánh Athanasius và các giáo phụ thông qua câu nói “Chúa trở nên người để con người trở thành Chúa.”
Công thức này gồm hai yếu tố chính:kenosis (quá trình thành nhân của Chúa thông qua sự nhập thể)theosis (quá trình thành thần của nhân loại)Đối với Solovyov, bogochelovechestvo vừa có nghĩa là nhân tính của Thiên Chúa vừa có nghĩa là thần tính (khả hữu) của nhân loại. Khái niệm Thần-Nhân vị diễn đạt tốt quan niệm rằng Chúa và con người là một thể thần-nhân tuyệt đối nhất thống (ultimately absolute): thần tính cũng chính là nhân tính (thuộc về bản chất chứ không chỉ thông qua sự nhập thể), và nhân tính cũng chính là thần tính (bởi nguồn cội và ơn gọi). Đây là trạng thái mà ta cần đạt được.
Thần-Nhân vị không phải là tiền đề triết thuyết của Solovyov mà là hệ quả của phương pháp triết học chặt chẽ của ông. Xuất phát điểm của ông không phải từ Thiên Chúa mà từ nhân loại, cụ thể là từ ý thức và đạo đức của con người. Ông tin rằng đạo đức – ý thức của chúng ta về các ý niệm tuyệt đối và năng lực hành động dựa trên những ý niệm ấy – không chỉ là đặc tính độc nhất của con người mà là bằng chứng rõ ràng nhất về bản chất tối hậu của thực tại. Solovyov xây dựng triết thuyết của mình trên nền tảng này. Ông theo chân Kant, với tri thức luận (thuyết duy tâm siêu nghiệm) được thiết kế để hợp thức hóa trải nghiệm đạo đức và chứng minh khả thể của “những tiên đề” siêu hình mà ông rút ra từ nó: Thiên Chúa, tự do và sự bất tử.
Phương pháp của Solovyov, đi từ phân tích con người để vươn lên tới Thiên Chúa, được triển khai một cách xuất sắc ngay từ đầu trong Những bài giảng về Thần-Nhân vị. Ba bài giảng đầu tiên giới thiệu những khía cạnh quan trọng trong nhân học triết linh của ông bằng cách khảo sát sự trỗi dậy của chủ nghĩa nhân văn thế tục trong lịch sử châu Âu hiện đại. Theo Solovyov, chừng nào các hệ tư tưởng nhân văn hiện đại như chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa thực chứng vẫn tuyên xưng nguyên lý về phẩm giá con người, thì chúng vẫn đúng; nhưng ông cho rằng chúng sai lầm khi cho rằng con người có thể có giá trị tuyệt đối trong khi cũng chỉ là những sự kiện(facts) giữa muôn vàn sự kiện khác. Do đó, phê phán chính của Solovyov đối với các nhà nhân văn thế tục — theo cách diễn đạt của Paul Valliere — là họ không nhận thức được những hệ quả của tiền đề nền tảng của chính mình. Solovyov phân tích những hệ quả ấy và kết luận rằng năng lực để hình dung chính mình như có giá trị tuyệt đối hàm chứa thực tại của cái tuyệt đối, tức là một hình thức siêu hình học hữu thần.
Vị triết gia người Nga phân biệt hai khía cạnh trong cách con người hình dung về chính mình. Khía cạnh thứ nhất là “tính tuyệt đối tiêu cực”, tức là “khả năng vượt qua mọi nội dung hữu hạn, giới hạn”, không bao giờ thỏa mãn với những nội dung ấy và không ngừng vươn tới điều gì đó lớn hơn. Tính tuyệt đối tiêu cực mô tả bản chất của ý thức: đó là khả năng vượt lên trên các sự kiện, đánh giá mọi thứ dựa trên các lý tưởng, và hướng tư tưởng cũng như hành vi của ta tới những lý tưởng ấy – tức là đạo đức theo nghĩa rộng. Đây chính là nền tảng cho tính toàn hảo hay sự hoàn thiện/phát triển vô hạn của con người. Tuy nhiên, tính tuyệt đối tiêu cực tất yếu hàm chứa một cứu cánh tích cực, tức là mục đích sau cùng mà toàn bộ quá trình phát triển vô hạn ấy hướng đến; đây chính là “tính tuyệt đối tích cực” – sự viên mãn của hiện hữu, hay “sự hợp nhất của tất cả”. Các nhà nhân văn thế tục dừng lại ở tính tuyệt đối tiêu cực, vì họ không nhận ra rằng khả năng vươn lên và phát triển vô hạn – lý tưởng quý báu của họ (và của chính Solovyov) về sự toàn hảo của con người – hàm nghĩa sự hiện hữu của tính tuyệt đối tích cực. Từ lô-gic đó, Solovyov rút ra một kết luận gây ấn tượng mạnh: “Niềm tin vào bản thân, vào nhân vị con người, đồng thời cũng là niềm tin vào Thiên Chúa”.
Lý lẽ đằng sau kết luận rằng tính tuyệt đối tiêu cực hàm chứa tính tuyệt đối tích cực là ở chỗ: có điều gì đó “phi tự nhiên” trong cách con người hình dung về chính mình và trong ý thức con người nói chung. Ý niệm về “cái tuyệt đối” – vốn hiện diện ở mọi tầng bậc trong tư duy của ta, dù ta có ý thức về nó hay không – là một dị biệt nổi bật trong thế giới thường nghiệm, nơi mọi sự kiện đều mang tính tương đối. Ngay cả những phán đoán như việc gọi thế giới là “thường nghiệm” và các sự kiện là “tương đối” cũng cho thấy tính tất yếu của cái nhìn tuyệt đối nơi ý thức. Bản chất của tâm trí là phán đoán, và trong việc phán đoán ấy, chúng ta dựa vào những chuẩn mực lý tưởng, tuyệt đối. Như Solovyov viết: “Sự phân biệt đơn giản, phổ quát, và có thể nói là hiển nhiên giữa thiện và ác, chân và ngụy, đẹp và xấu – tự bản thân nó đã hàm ý sự thừa nhận một nguyên lý khách quan và tuyệt đối trong ba lĩnh vực của đời sống tinh thần này.” Tóm lại, năng lực phán đoán – cũng như khả năng gán giá trị và hoàn thiện bản thân như một cái tuyệt đối – trong khi kinh nghiệm chỉ đem đến cho ta các sự kiện đơn thuần, đã tạo nên một sự mâu thuẫn rõ rệt với thế giới quan duy tự nhiên (tức là thế giới quan vô thần).
“Nguyên lý khách quan và tuyệt đối” vốn được hàm ẩn trong các phán đoán trí tuệ, đạo đức và thẩm mỹ của chúng ta – và là điều mà ta không ngừng hướng tới thông qua “tính tuyệt đối tiêu cực” – chính là Thiên Chúa, trong sự hợp nhất cao nhất của Ngài. Dù Solovyov không nhắc trực tiếp đến Kant, nhưng rõ ràng ông đang nghĩ đến “ý niệm của lý tính thuần túy” – điều mà vị triết gia người Đức ấy cũng gọi là Thiên Chúa. Theo Solovyov, không thể chứng minh được sự tồn tại của Thiên Chúa, cũng như sự tồn tại của ngoại giới nói chung – chúng ta phải tiếp nhận điều đó bằng đức tin. Solovyov nói như vậy vì cùng một lý do với Kant: chúng ta chỉ biết các hiện tượng, chứ không biết vật-tự-thân; và các mô thức cùng khái niệm mà ta sử dụng để nhận thức là không đủ để xác lập sự tồn tại thực sự của sự vật, vượt khỏi các biểu tượng chủ quan mà ta có về chúng. Tuy nhiên, không như Kant, Solovyov không cho rằng chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm là cơ sở biện minh cho niềm tin ấy.
Trong quan niệm của Solovyov về giá trị tuyệt đối của con người, còn một khía cạnh khác đi thẳng vào trung tâm của khái niệm Thần-Nhân vị Solovyov khẳng định rằng Thần-Nhân vị không thể đạt được nếu thiếu vắng tính tự trị(autonomy) của con người: “Thần tính phải được con người nhận ra từ nội tâm, một cách có ý thức và tự do.”Thần-Nhân vị chỉ có thể là một sự hợp nhất tự do giữa con người và Thiên Chúa, như ông nhấn mạnh trong một đoạn then chốt của Những bài giảng về Thần-Nhân vị (tr. 17):
“Một sự hợp nhất như thế sẽ là bất khả nếu nguyên lý thánh thần chỉ thuần túy tồn tại bên ngoài con người, nếu nó không bám rễ chính nơi nhân vị con người. Nếu không có sự bám rễ như thế, thì mối quan hệ của chúng ta với nguyên lý thánh thần chỉ có thể là một sự khuất phục cưỡng ép, mang tính chất định mệnh. Sự hợp nhất nội tại và tự do giữa nguyên lý tuyệt đối, thánh thần, và nhân vị con người chỉ khả hữu bởi vì nhân vị con người cũng mang ý nghĩa tuyệt đối. Con người chỉ có thể kết hợp với nguyên lý thánh thần một cách tự do, từ bên trong, là bởi trong một ý nghĩa nào đó, con người cũng là thánh thần — hay nói chính xác hơn, là hữu thể có tham dự vào Thần Tính.Nhân vị con người “theo một nghĩa nào đó là thánh thần” bởi vì thần tính ấy là một tiềm thể nội tại, vốn chỉ có thể được hiện thực hóa một cách tự do và mang tính người– và điều đó sẽ là bất khả nếu không có sự bình đẳng giữa thần linh và con người. Chính sự bình đẳng này làm nên ý nghĩa của giá trị tuyệt đối của con người.
Cr: Nyxar