Heraclitus (Stanford Encyclopedia of Philosophy)

Catholic Net · · Đối luận Triết học
BÀI DỊCH: HERACLITUS

Tài liệu sinh hoạt Doxa Book Club 08/06/2025.
Chuyển ngữ bởi nhóm Dịch thuật Doxa, từ bài viết của DANIEL W. GRAHAM trên trang STANFORD ENCYCLOPEDIA OF PHILOSOPHY.
(
--3. Các nguyên lý triết học
Mặc dù lời văn của Heraclitus hướng tới việc đem lại những trải nghiệm phái sinh về thế giới, ông vẫn cho rằng có một số nguyên lý trừu tượng chi phối thế giới. Ngay từ thời cổ đại, Heraclitus đã nổi tiếng vì chủ trương tính đồng thời của các mặt đối lập, thuyết biến đổi, và quan điểm rằng lửa là nguồn gốc và bản chất của mọi vật. Khi bình luận về Heraclitus, Plato đã đưa ra những diễn giải đầu tiên mà về sau được tiếp nối có chọn lọc bởi Aristotle, và trở nên phổ biến cho đến ngày nay (được Barnes (1982, chương 4) mài giũa và ủng hộ mạnh mẽ). Theo cách hiểu của Barnes, Heraclitus là một nhà nhất nguyên luận duy vật tin rằng mọi sự vật đều là những biến thể của lửa. Mọi vật đều trong trạng tháichuyển dịch, biến đổi không ngừng (theo nghĩa rằng “mọi vật luôn luôn biến đổi ở một vài phương diện nhất định”, tr. 69). Điều này đi cùng với tính đồng thời của các mặt đối lập (được hiểu là “bất kỳ cặp đối lập nào cũng cùng hiện diện ở một nơi nào đó; và mỗi sự vật đều cùng hiện diện ít nhất một cặp đối lập”, tr. 70). Tính đồng thời của các mặt đối lập, khi được hiểu như trên, dẫn đến những mâu thuẫn không thể tránh khỏi trong quan điểm của Heraclitus. Cụ thể, Heraclitus chịu ảnh hưởng bởi nhất nguyên luận duy vật có từ trước và bởi các quan sát kinh nghiệm dường như ủng hộ thuyết biến đổi cũng như tính đồng thời của các mặt đối lập. Barnes do đó kết luận rằng, sống trong thời đại trước khi logic phát triển, Heraclitus đã vi phạm các nguyên tắc của logic và khiến cho việc tri thức là bất khả.
Rõ ràng cách diễn giải trên không có lợi cho Heraclitus. Hơn nữa, có những lý do để nghi ngờ cách diễn giảiđó. Một số quan điểm của Heraclitus không tương thích với thuyết nhất nguyên duy vật (sẽ được thảo luận phía sau), do đó cần tra xét lại bối cảnh nền tảng cho các học thuyết của ông. Có bằng chứng cho thấy thuyết biến đổi của Heraclitus ít triệt để hơn so với điều mà cách diễn giải trên quy gán cho ông. Tương tự, quan điểm của ông về tính đồng thời của các mặt đối lập cũng ít triệt để hơn so với cách diễn giải nêu trên.
3.1.


Thuyết biến đổi
Barnes đã dựa trên chính phát biểu của Plato để đặt nền tảng cho cách diễn giải “kiểu Plato” về quan điểm của Heraclitus của mình:
“Tôi tin rằng Heraclitus quan niệm rằng mọi vật đều biến đổi và không có thứ gì bất biến, và khi so sánh các sự vật đang tồn tại với dòng chảy của một dòng sông, Heraclitus cho rằng bạn không thể bước hai lần xuống cùng một dòng sông.” (Plato, Cratylus 402a = A6)
Để kiểm chứng cách diễn giải nêu trên của Plato, một phương pháp học thuật đáng tin cậy là xem xét chính lời của Heraclitus, nếu có thể. Về tổng thể, có ba trích đoạn được cho là “trích đoạn dòng sông” của Heraclitus:- B12. potamoisi toisin autoisin embainousin hetera kai hetera hudata epirrei. – “Khi người ta bước xuống cùng một dòng sông, những dòng nước khác nhau vẫn liên tục chảy qua.” (Cleanthes dẫn theo Arius Didymus, trích từ Eusebius)- B49a. potamois tois autois … – “Với cùng một dòng sông, chúng ta bước xuống và cũng không bước xuống, chúng ta tồn tại và không tồn tại.” (Heraclitus Homericus)- B91[a]. potamôi … tôi autôi … – “Theo Heraclitus, không thể bước hai lần xuống cùng một dòng sông cũng giống như không thể chạm hai lần vào cùng một tồn tại thế tục - hữu thể khả tử ở - với cùng một trạng thái.” (Plutarch)
Trong các trích đoạn này, chỉ đoạn đầu tiên (B12) có sự cô đọng ngôn ngữ, vốn là đặc trưng văn phong của Heraclitus. Đoạn thứ hai bắt đầu với ba từ giống như B12 nhưng lại bằng tiếng Attica (trong khi Heraclitus viết bằng phương ngữ Ionia), và vế câu thứ hai thì không có liên hệ ngữ pháp với vế đầu. Đoạn thứ ba rõ ràng là một bản diễn giải mà tác giả của nó (Plutarch) lại nổi tiếng với việc hay trích dẫn theo trí nhớ hơn là từ văn bản. Thậm chí, đoạn của Plutarch mở đầu bằng từ “dòng sông” ở dạng số ít, trái với cú pháp thông thường của văn xuôi tiếng Hy Lạp. Ngoài ra, không có bằng chứng nào cho thấy việc lặp lại cùng một cụm từ với vài biến đổi là một phần phong cách của Heraclitus (trong khi Empedocles thì có). Đồng thời, việc mở đầu câu bằng từ “dòng sông” đi ngược lại lối hành văn thông thường. Nếu giả định rằng mọi nguồn trên đều cố gắng mô phỏng văn phong Heraclitus, một người nổi tiếng không lặp lại, chúng ta có cho rằng trích đoạn B12 là “trích đoạn dòng sông” nguyên bản, tức trích dẫn duy nhất từ sách của Heraclitus. Đây cũng chính là kết luận của Kirk (1954) và Marcovich (1967), dựa trên phương pháp diễn giải truy nguyên về Reinhardt (1916). Cụ thể, tính xác thực của B12 càng được củng cố bởi những đặc điểm mà nó chia sẻ với các đoạn văn khác của Heraclitus: sự mơ hồ về cú pháp (cụm toisin autoisin – nghĩa là “giống nhau” – có thể áp dụng cho “những dòng sông” tức “những dòng sông giống nhau”, hoặc cho “những người bước xuống” tức “những người như nhau”), cấu trúc đảo ngữ (phép chiasmus), lối “vẽ bằng âm thanh” (âm thanh róc rách của nước chảy được gợi lên qua các âm đôi và âm xì), cùng với việc gieo vần và điệp âm đặc trưng[2].
Nếu chấp nhận đoạn B12 là trích đoạn chính xác, điều này sẽ phủ định tính hiệu lực của hai trích đoạn còn lại. Mối liên hệ then chốt trong đoạn B12 nằm ở cặp đối “dòng sông (vẫn) như cũ” và “dòng nước (đã) khác”. Đoạn B12, ngoài những ý nghĩa khác, chính là một phát biểu về sự tương phùng của các mặt đối lập nhưng đồng thời cũng chỉ rõ rằng những dòng sông ấy vẫn là chính mình. Phát biểu này, tuy bề ngoài thì có vẻ nghịch lý, nhưng không hề sai hay tự mâu thuẫn. Xem xét một cách kỹ lưỡng, câu nói hoàn toàn hợp lý: chúng ta gọi một khối nước là dòng sông chính vì nó bao hàm những làn nước luôn luân chuyển; nếu dòng nước ngừng chảy, khối nước ấy sẽ không còn gọi là dòng sông nữa, mà sẽ là một cái hồ hoặc một lòng sông khô. Theo nghĩa đó, một dòng sông là một dạng tồn tại hết sức đặc biệt: nó giữ được chính nó nhờ không ngừng thay đổi những gì cấu thành nên nó (so sánh với Hume, Luận về Bản tính Con người I.iv.6, tr. 258).
Từ một trải nghiệm thường nhật, Heraclitus rút ra một nhận thức sâu sắc và đáng chú ý. Hơn nữa, Heraclitus còn đưa ra, thông qua sự mơ hồ ở mệnh đề đầu tiên, một cách hiểu khác: rằng khi cùng một con người bước xuống sông thì những làn nước chảy quanh người đó mỗi lần đều khác đi. Với cách hiểu này, con người mới là thứ giữ nguyên sự đồng nhất của mình trái ngược với dòng nước luôn biến đổi, cứ như thể việc tiếp xúc với một môi trường luôn trôi chảy lại giúp xác lập chủ thể tri giác vẫn là chính mình (xem Kahn 1979).Ngược lại, đoạn B49a vừa phủ nhận lại vừa khẳng định rằng người ta có thể bước xuống cùng một dòng sông, còn đoạn B91[a], tương tự như Plato trong Cratylus, thì thẳng thừng phủ nhận khả năng tắm hai lần trên cùng một dòng sông. Thế nhưng, nếu những dòng sông thật sự vẫn giữ nguyên (tức vẫn là cùng một dòng sông), thì dĩ nhiên người ta có thể bước xuống hai lần – tuy không phải là cùng một dòng nước, nhưng vẫn là cùng một dòng sông. Do đó, hai đoạn trích kia không thể phù hợp với đoạn trích duy nhất cho là nguyên bản.
Thực tế, Marcovich (1967) đã chỉ ra được cách mà việc hiểu sai đoạn B12 có thể dẫn đến cách diễn giải như được thể hiện trong đoạn B49a và đoạn B91[a]. Ta có thể hình dung chính Cratylus, môn đệ muộn của Heraclitus, đã đưa ra cách hiểu lệch lạc này, rồi còn thêm lời đáp nổi tiếng của mình rằng không thể bước vào cùng một dòng sông thậm chí một lần. (Cũng có khả năng cách hiểu sai lệch đó có từ thời Hippias trước đó: xem Mansfeld 1990, tr. 43–55). Vì nghe nói Plato từng theo học các bài giảng của Cratylus, rất có thể ông đã tiếp thu cách hiểu của mình từ chính Cratylus.
Nếu diễn giải trên là đúng, thông điệp của “trích đoạn dòng sông” B12 không phải là “mọi thứ đều thay đổi đến mức chúng ta không thể gặp lại chúng lần thứ hai”, mà tinh tế và sâu sắc hơn nhiều. Thông điệp ở đây là: một số sự vật chỉ duy trì được sự đồng nhất của mình bằng cách không ngừng thay đổi. Như vậy, một thực thể vật chất tồn tại bền vững được là nhờ sự biến chuyển không ngừng của vật chất cấu tạo nên nó. Ở đây, tính ổn định và biến đổi không hề đối lập mà gắn chặt lấy nhau. Thân thể con người cũng có thể được hiểu theo đúng cách này: nó sống và tiếp tục tồn tại chính nhờ quá trình trao đổi chất không ngừng. Theo cách hiểu này, Heraclitus tin vào sự biến đổi không ngừng, nhưng không phải như một quá trình hủy hoại tính thường hằng; trái lại, nghịch lý thay, đó là điều kiện tất yếu để đảm bảo cho tính thường hằng (ít nhất trong một số trường hợp nếu không muốn nói là trong mọi trường hợp). Nói rộng ra, chí ít trong một vài trường hợp tiêu biểu, những cấu trúc tầng cao tồn tại được là nhờ vào sự vận động biến đổi liên tục ở tầng thấp. Tổng kết, cách hiểu “kiểu Plato” về Heraclitus vẫn nhận được nhiều sự ủng hộ (ví dụ Tarán 1999), nhưng giờ đây nó không còn là lối diễn giải duy nhất mà các học giả chấp nhận về Heraclitus.
3.2.


Sự Thống Nhất của Các Mặt Đối Lập
Thuyết biến đổi của Heraclitus thật ra là một trường hợp đặc thù của nguyên lý thống nhất các mặt đối lập, cho thấy cách mà sự vật có thể vừa là chính nó vừa không phải chính nó trong dòng chảy của thời gian. Heraclitus chỉ ra rằng có những cặp đối lập chủ chốt gắn bó mật thiết với nhau nhưng không đồng nhất. Thỉnh thoảng, Heraclitus còn giải thích cách mà sự vật có những đặc tính trái ngược nhau:“Biển là nước tinh khiết nhất và cũng là nước ô uế nhất: đối với loài cá thì uống được và có lợi, còn đối với con người thì không uống được và có hại.” (B61)
Barnes nghĩ rằng Heraclitus đã hình thành học thuyết về sự đồng hiện diện phổ quát của các thuộc tính đối lập bằng cách tùy tiện lược bỏ những cụm từ điều kiện (chẳng hạn như “đối với loài cá”, “đối với con người”). Nhưng đoạn B61 cho thấy Heraclitus thừa biết những điều kiện đó; có thể nói ông ngầm hiểu chúng ngay cả khi không nói rõ ra. Khi ông viết:“Tập hợp: toàn thể và bộ phận; hợp lại và tan rã; hòa hợp và xung đột; từ tất cả thành một và từ một thành tất cả.” (B10)Heraclitus không hề tự mâu thuẫn. Hoàn toàn có những ngữ cảnh thích hợp trong đó mọi điều ông nói đều đúng: người ta có thể phân một tập hợp thành các phần của nó, hoặc kết hợp các phần riêng lẻ lại thành một chỉnh thể thống nhất.
Đáng chú ý nhất, Heraclitus còn giải thích chính xác cách mà các cặp đối lập gắn bó với nhau:“Trong cùng một con người tồn tại cả sự sống và cái chết, trạng thái thức và trạng thái ngủ, tuổi trẻ và tuổi già. Bởi lẽ những thứ này hoán đổi cho nhau: cái này thay đổi thành cái kia, và ngược lại, cái kia thay đổi thành cái này.” (B88)
Những phẩm chất tương phản hiện diện trong chúng ta “như thể chúng là một”. Tuy nhiên, chúng chỉ là một bởi vì một cái đã biến đổi thành cái kia. Chúng ta khi ở trạng thái ngủ rồi sẽ thức dậy; khi đang thức rồi sẽ đi ngủ. Như vậy, trạng thái ngủ và trạng thái thức đều tồn tại trong mỗi người, nhưng không cùng lúc và không trong cùng một phương diện. Thật vậy, nếu ngủ và thức là một và đồng nhất, thì đã không hề có sự thay đổi như câu thứ hai của đoạn trên ngụ ý. Các cặp đối lập có thể xem là “một” theo nghĩa chúng tạo thành một hệ thống các chuyển hóa qua lại: sống – chết, thức – ngủ, trẻ – già. Một chủ thể không thể mang những thuộc tính bất khả dung hòa cùng một thời điểm, mà chỉ có thể vào những thời điểm khác nhau.
Nhìn chung, những gì ta thấy ở Heraclitus không phải là sự hòa làm một của các mặt đối lập, mà là một loạt phân tích tinh tế bộc lộ tính liên kết mật thiết giữa các trạng thái tương phản trong đời sống và trong thế giới. Không cần phải quy kết cho ông bất cứ lỗi lô-gíc nào. Các mặt đối lập là có thực, và mối liên hệ qua lại giữa chúng cũng là có thực nhưng những cặp đối lập đó suy cho cùng vẫn là hai, không phải một, chúng không đồng nhất với nhau.
3.3.


Bản Thể Luận
Theo cách hiểu kinh điển từ thời Aristotle, Heraclitus là một nhà nhất nguyên luận duy vật, người cho rằng lửa là thực tại tối hậu – mọi sự vật chẳng qua chỉ là những biểu hiện khác nhau của lửa mà thôi. Aristotle kể rằng các triết gia phái Miletus nhìn chung đều chủ trương thuyết nhất nguyên duy vật, chỉ khác nhau ở chỗ mỗi người đề xuất một vật chất nền tảng khác: Thales cho là nước, Anaximander cho là sự vô hạn (apeiron), Anaximenes cho là không khí (Metaphysics 983b6–984a8). Do đó, lý thuyết của Heraclitus thường bị xem chỉ là một biến thể khác của một học thuyết nền tảng phổ biến cùng thời.
Tuy nhiên, có một số vấn đề trong cách Aristotle hiểu về các triết gia Miletus. Trước hết, Aristotle không có bằng chứng văn bản trực tiếp nào về quan điểm của Thales và buộc phải tự dựng nên quan điểm ấy từ hầu như con số không. Ông đôi khi còn hiểu Anaximander như một nhà đa nguyên (tương tự Anaxagoras) khi cho rằng “vô hạn” của Anaximander là một hỗn hợp của mọi phẩm chất; và ngay cả Anaximenes nếu có thể được xem là nhất nguyên luận duy vật đi nữa, thì Plato lại diễn giải ông như một nhà đa nguyên (Timaios 39; xem Graham 2003b, Graham 2003a). Trong trường hợp của Heraclitus, chính những phát ngôn của ông khiến cách diễn giải theo nhất nguyên duy vật trở nên đáng ngờ.
Theo thuyết nhất nguyên duy vật, một loại vật chất nhất định là thực tại tối hậu, và mọi biến đổi trong thế giới chỉ đơn thuần là sự biến thiên về phẩm chất (hoặc có thể về lượng) của chính vật chất đó. Bởi lẽ, chỉ có một thực tại duy nhất – chẳng hạn như lửa – và thực tại ấy không bao giờ thật sự sinh ra hoặc mất đi, mà chỉ biến đổi về bề ngoài. Thế nhưng Heraclitus lại chủ trương một kiểu biến đổi mang tính triệt để:“Đối với linh hồn, trở thành nước là chết; đối với nước, trở thành đất là chết, nhưng từ đất nước lại sinh ra, và từ nước linh hồn lại sinh ra.” (B36)
(Ở đây, có vẻ Heraclitus dùng “linh hồn” để thế chỗ cho lửa.) Ngôn ngữ “sinh” và “tử” trong thế giới ở đoạn trên cũng chính là ngôn ngữ mà triết học Hy Lạp dùng để nói về sinh thành và hoại diệt. Cách nói này ngụ ý một sự chuyển hóa tận gốc rễ, loại trừ việc thực thể có thể duy trì đồng nhất tính của nó (xem thêm B76, B62). Thật vậy, các học giả không thể cùng lúc gán cho Heraclitus cả hai quan điểm mâu thuẫn: ông không thể vừa tin vào sự lưu chuyển biến đổi cực đoan (mọi thứ đều chuyển hóa thành mọi thứ khác – lửa thành nước, nước thành đất, v.v...), lại vừa chủ trương thuyết nhất nguyên. Hoặc là ông phải cho rằng mọi biến đổi chỉ là ảo ảnh, hoặc ít ra chỉ là sự thay đổi có giới hạn; hoặc ông phải là một triết gia theo thuyết đa nguyên.
Vẫn còn một khó khăn nữa đối với lối đọc Heraclitus như một nhà nhất nguyên luận. Trong phiên bản “nhất nguyên” quy cho ông, lửa là thực tại cơ bản tối hậu. Tuy nhiên, (như người thời cổ đã nhận thấy) lửa là yếu tố kém bền vững nhất và thoáng qua nhất trong số các yếu tố vật chất cơ bản. Lửa làm biểu tượng cho sự biến đổi thì thích hợp hơn làm biểu tượng cho sự trường tồn. Những trường hợp nhất nguyên vật chất khác đều chọn một dạng vật chất nền tảng có thể được xem là ổn định lâu dài; còn lửa thì biểu hiện trạng thái “cần và đủ” (need and satiety, B65) – một quá trình tiêu thụ liên tục, chỉ tồn tại được bằng cách thiêu đốt chính nhiên liệu của mình. Việc Heraclitus chọn lửa làm thực thể nền tảng chẳng phải tự thân nó đã là một nghịch lý hay sao? Rốt cuộc, có vẻ như việc ông viện dẫn đến lửa chỉ nhằm dựa vào thuyết nhất nguyên theo một cách thức vượt ra ngoài chính thuyết đó – hướng tới một quan niệm trong đó chính quá trình biến đổi mới là hiện thực và chân thật hơn cả những chất liệu vật chất phải trải qua sự biến đổi.
--4. Vũ trụ luận
Dù Heraclitus không thuần túy là một nhà vũ trụ học, ông vẫn đưa ra một hệ hình tư tưởng đáng chú ý về vũ trụ. Phát biểu cốt lõi nhất của Heraclitus về bản thể vũ trụ được tìm thấy trong đoạn B30:"Trật tự thế giới (kosmos), vốn đồng nhất đối với tất cả, không do thần linh hay con người tạo thành, mà nó vốn có, đang có và sẽ mãi có : lửa vĩnh hằng, bốc cháy và lụi tàn theo những chừng mực nhất định."
Trong phát biểu này, Heraclitus là người đầu tiên trong văn học Hy Lạp cổ đại sử dụng từ kosmos – vốn mang nghĩa “trật tự” – để chỉ thế giới như một chỉnh thể. Ông xác lập bản chất của thế giới là lửa – một thực thể sống động, bất tận và biến dịch. Mặc dù theo các triết gia cổ đại, bao gồm Aristotle (Về Bầu Trời 279b12–17) và cả các nhà Khắc Kỷ, cho rằng Heraclitus tin vào một thế giới tuần hoàn bị thiêu hủy định kỳ bởi lửa rồi được tái sinh, phát biểu hiện tại của ông dường như mâu thuẫn với quan điểm đó – như Hegel đã từng chỉ ra. Nếu thế giới “đã luôn, đang và sẽ còn tồn tại,” thì nó không thể bị hủy diệt và tái sinh, mặc dù các phần của nó (các mức độ của lửa) liên tục biến đổi.
Heraclitus trình bày một tiến trình chuyển hóa tuần hoàn giữa các yếu tố sơ nguyên:
"Sự luân chuyển của lửa: đầu tiên là biển; từ biển, một nửa trở thành đất, một nửa trở thành bùng cháy." (B31a)
"Đất tan ra thành biển, và được phân chia theo tỷ lệ như trước khi trở thành đất." (B31b)
Trong chu trình này, lửa hóa thành nước (biển); từ nước, một nửa lượng chuyển thành đất, nửa còn lại trở thành một hiện tượng khí nóng và dữ dội (prêstêr). Phần trở thành đất lại tan vào nước, bảo toàn lượng ban đầu. Như vậy, Heraclitus hình dung một quá trình biến hóa tuần hoàn giữa lửa – nước – đất, trong đó các tỷ lệ vật chất được duy trì ổn định. Dù hình thức vật chất có thể thay đổi, bản thân lượng vật chất – hay ít nhất là tổng thể của nó – vẫn được bảo toàn. Khi một phần lửa biến thành nước, thì một phần nước tương đương lại biến thành lửa; do đó, thế giới được duy trì trong trạng thái cân bằng động, giống như hình ảnh dòng sông: tuy vật chất liên tục biến đổi, nhưng bản thân dòng sông vẫn là một thực thể thống nhất.
Theo Heraclitus, sự biến đổi không phải là đặc điểm phụ thuộc của thế giới, mà là nguyên lý thiết yếu cấu thành nó. Nếu không có biến đổi, thế giới không thể hiện hữu. Ông thể hiện điều này rõ rệt trong việc ca ngợi chiến tranh và xung đột như nguyên lý điều hành vũ trụ:
"Phải hiểu rằng chiến tranh là phổ quát, xung đột là công lý, và mọi sự đều xảy ra bởi xung đột và tất yếu." (B80)
"Chiến tranh là cha và là vua của vạn vật; kẻ thì hiện ra là thần, kẻ thì là người; kẻ trở thành nô lệ, kẻ được tự do." (B53)
Sự đối kháng giữa các lực đối cực, bao gồm cả những yếu tố vật chất cơ bản, tạo nên thế giới và mọi sự đa dạng của nó; nếu không có sự đối kháng đó, ta chỉ có một sự đồng nhất vô hồn. Ở đây, Heraclitus nhấn mạnh vai trò của xung đột như một hình thức công lý vũ trụ, tương phản với quan điểm của Anaximander – người xem công lý là sự trừng phạt cho những yếu tố vượt quá giới hạn (Anaximander B1). Đối với Heraclitus, công lý không phải là sự chỉnh lý cái thái quá, mà là trật tự tổng thể của sự thống trị luân phiên giữa các thế lực đối lập. Sự đa dạng và động lực của thế giới nảy sinh từ chính sự căng thẳng và va chạm của các cặp đối cực.
Tuy nhiên, vũ trụ không vận hành một cách hỗn loạn, mà theo
một nguyên lý điều hướng thế giới:
“Tia sét điều khiển vạn vật.” (B64)
Tia sét – biểu tượng của thần Zeus – là hình ảnh mang tính biểu trưng cho quyền lực điều hành vũ trụ. Cũng như Anaximander từng ví vũ trụ như một con thuyền do người lái tàu điều khiển, Heraclitus nhìn nhận quyền lực ấy thông qua biểu tượng của lửa – sức mạnh vừa sáng tạo vừa hủy diệt. Tuy nhiên, quyền lực ấy không mang hình thái của một vị thần theo nghĩa truyền thống:
“Thực thể duy nhất, trí tuệ duy nhất, muốn và không muốn được gọi bằng cái tên Zeus” (B32).
Và ở đây, từ “Zeus” được hiểu là “Sự sống.” Tương tự như các nhà Miletus, Heraclitus cũng đồng nhất quyền lực tối cao với thần linh, nhưng không theo nghĩa truyền thống.
Heraclitus có đề cập đến các hiện tượng khí tượng và thiên văn. Ông nghiên cứu hiện tượng biến mất và tái xuất hiện của mặt trăng vào cuối và đầu tháng (Oxyrhynchus Papyri LIII 3710 ii. 43–47 và iii. 7–11 – bằng chứng rõ ràng nhất cho thấy Heraclitus quan tâm đến thiên văn học theo hướng khoa học). Ông lý giải mặt trời và mặt trăng như những bát chứa đầy lửa. Khi chiếc bát của mặt trăng quay, nó tạo ra các pha của mặt trăng. Hiện tượng nhật thực và nguyệt thực là kết quả của việc mặt lồi của chiếc bát quay về phía trái đất. Không có tư liệu cụ thể về hình dạng trái đất, nhưng có thể ông cũng cho rằng trái đất phẳng như các nhà triết học trước ông. Hơi bốc lên từ đất và biển được cho là nguồn nhiên liệu cho các thiên thể, vốn cháy giống như đèn dầu. Hơi bốc lên từ mặt đất và biển có vẻ đã cung cấp nhiên liệu cho các thiên thể, vốn cháy như những ngọn đèn dầu.
Sức mạnh thần thánh hiện diện trong mọi hiện tượng:
"Thần là ngày đêm, đông hè, chiến tranh hòa bình, no đói, và thần biến đổi giống như khi trộn với gia vị thì được gọi theo mùi thơm của từng loại." (B67)
Một lần nữa, Heraclitus nhấn mạnh sự thống nhất của quyền lực thần linh, dù con người đặt cho nó những cái tên và thuộc tính khác nhau. Mọi điều xảy ra đều tốt lành, nhưng con người không nhận ra điều đó:
"Với Thần, mọi sự đều đẹp đẽ, tốt lành và công bằng, nhưng con người lại cho rằng có cái bất công, có cái công bằng." (B102)
Heraclitus không tìm cách xây dựng một thuyết thần học biện hộ (theodicy) chi tiết, mà thay vào đó là cái nhìn mọi sự vật dưới góc nhìn vĩnh cửu (sub specie aeternitatis), trong đó xung đột (bao gồm cả xung đột của con người) là động lực giữ cho thế giới vận hành (B80, đã trích ở trên).
---5. Tri thức
Plato cho rằng đối với Heraclitus, cảnh giới tri thức trở nên bất khả do thế giới cảm giác luôn luôn biến đổi. Tuy nhiên, Heraclitus không bác bỏ tri thức, cũng không phủ nhận sự khôn ngoan có thể đạt được thông qua việc hiểu đúng về thế giới. Ông tin rằng phần lớn con người không đủ khả năng để đạt tới sự khôn ngoan; hiểu biết là điều quý hiếm, mà ngay cả những người được coi là bậc hiền triết cũng chưa chắc đã có được (B28[a]). Dù vậy, ông vẫn cho rằng sự khôn ngoan là khả thi, và chính tư tưởng của ông là hình thức thể hiện của sự khôn ngoan đó – dành cho những ai đủ sáng suốt để hiểu được.
Heraclitus dường như không bác bỏ hoàn toàn giá trị của cảm giác. Ông từng nói: “Tôi đề cao những gì thuộc về thị giác, thính giác và kinh nghiệm” (B55). Trong đó, ông xem thị giác là giác quan đáng tin cậy hơn cả: “Mắt là nhân chứng chính xác hơn tai” (B101a). Tuy nhiên, ông phê phán lối học thuần túy tích lũy thông tin mà không thực sự hiểu bản chất. Ông
cũng cho rằng chỉ dựa vào cảm giác và ký ức là không đủ, khôn ngoan đòi hỏi nhiều hơn thế:“Biết nhiều không có nghĩa là hiểu biết. Nếu vậy thì Hesiod, Pythagoras, Xenophanes và Hecataeus đã hiểu rồi.” (B40)
Heraclitus liệt kê một loạt các nhà trí thức – cả về tôn giáo lẫn thế tục, cả còn sống lẫn đã mất – để cho thấy rằng ngay cả họ cũng không đạt tới hiểu biết thực sự. Họ quá chú trọng vào việc thu thập thông tin mà không hiểu ý nghĩa sâu xa của chúng. “Họ [con người] có hiểu biết hay trí tuệ gì chăng?” – Heraclitus hỏi – “Họ chạy theo các thi sĩ phổ thông, và coi đám đông làm thầy, mà không hiểu rằng số đông là hèn kém, chỉ số ít mới là cao quý” (B104).
Ông phê bình Hesiod – một nhà thơ lớn thời đó: “Hesiod, người thầy của quần chúng – họ tin rằng ông thông tuệ nhất – thế nhưng lại không nhận ra ngày và đêm là một” (B57). Heraclitus cho rằng cách hiểu này là sai, vì ngày và đêm là hai mặt gắn bó không thể tách rời của một thực tại duy nhất. Ông cũng chỉ trích Homer, Pythagoras và Archilochus vì những quan điểm hời hợt hoặc sai lầm trong tri thức của họ. Nói chung, Heraclitus cho rằng con người không biết cách học từ những gì họ trải nghiệm:
“Nhiều người không hiểu những điều họ gặp, cũng không học được từ trải nghiệm – nhưng họ tưởng là mình đã hiểu” (B17).
“Nghe mà không hiểu – họ chẳng khác gì người điếc. Hiện hữu, nhưng cũng như vắng mặt” (B34).
Ông giải thích rằng:“Đối với những người có tâm hồn như man di (barbarian), mắt và tai là nhân chứng tệ hại” (B107).
Ở đây, “man di” mang nghĩa biểu tượng – chỉ những người tuy có tiếp xúc với thế giới nhưng không hiểu được nó, giống như người ngoại quốc nghe tiếng Hy Lạp nhưng không hiểu nội dung. Tức là: cảm giác là cần thiết cho tri thức, nhưng không đủ; nếu không có khả năng hiểu và phân tích những gì giác quan mang lại, con người sẽ không thể nắm bắt được bản chất thế giới.
Vậy còn cơ hội nào để khám phá những bí mật của thế giới? Heraclitus không hoàn toàn bi quan về khả năng nhận thức của con người: “Tất cả mọi người đều có phần trong tri thức bản thân và tư duy đúng đắn” (B116). Điều quan trọng, theo ông, không phải là trải nghiệm nhiều hơn hay biết thêm thông tin, mà là hiểu được logos – tức là nguyên lý, lẽ phải, hay thông điệp mà thế giới đang thể hiện. Trong bối cảnh đó, phương pháp biểu đạt đặc biệt của ông mới trở nên có ý nghĩa. Heraclitus trình bày các phát ngôn của mình dưới dạng câu đố, nghịch lý, và những nhận định sắc sảo. Nhiều câu trong số đó có thể đọc theo hai hay nhiều nghĩa, và chứa đựng những tầng ý ẩn sâu. Để hiểu được chúng, người đọc phải nắm bắt được sự phức tạp và rồi khám phá ra tính thống nhất. Đọc Heraclitus một cách đúng đắn là trải qua một kinh nghiệm nhận thức phong phú, như triết gia gợi ý trong lời mở đầu (B1).
Phương pháp triết học của Heraclitus thường bắt đầu từ một hình ảnh cụ thể giàu tính biểu tượng – như dòng sông, cây cung, hay con đường – để gợi mở một chân lý phổ quát. Ông hiếm khi đưa ra các khái quát rồi suy diễn các hệ quả. Phương pháp của ông giống kiểu quy nạp hơn là suy diễn: đưa ra ví dụ, từ đó gợi mở nguyên lý chung. Nếu đa số triết gia đánh thức lý trí phân tích (bán cầu não trái), thì Heraclitus lại thách thức trực giác tổng hợp (bán cầu não phải). Ông không “dạy học” theo nghĩa truyền thống, mà trao cho độc giả những mảnh vỡ của chân lý và để họ tự giáo dục mình qua quá trình khám phá.
Ông từng nói về cách truyền đạt của thần Apollo tại đền Delphi rằng:“Vị thần ngự ở Delphi không nói rõ ràng, cũng không giấu kín – mà chỉ đưa ra dấu hiệu” (B93).
Các tuyên ngôn bí ẩn của thần Apollo tại đền Delphi không đưa ra lời giải đáp rõ ràng, mà buộc con người phải giải mã chúng. Tri thức, đối với Heraclitus, đến với người đọc chăm chú như là thành quả của một hành trình tự khai sáng, trong nỗ lực giải mã những bí ẩn mà thế giới đặt ra.
---6. Giá trị
Heraclitus có một cách tiếp cận khác thường là vì ông muốn tạo ra những độc giả có sự nắm bắt đúng đắn về thế giới và vị trí của họ trong đó. "Tư duy đúng đắn là đức hạnh và minh triết vĩ đại nhất: nói lên chân lý và hành động dựa trên sự hiểu biết về bản chất của sự vật" (B112). Một sự hiểu biết như vậy chỉ có thể đến từ khả năng diễn giải ngôn ngữ của tự nhiên. Sự hiểu biết đúng đắn cho phép một người hành động một cách hài hòa.
Heraclitus sử dụng lối tư duy phổ biến và truyền thống để khuyên răn sự điều độ và tự chủ (B85, B43). Ông cũng đề cao mục tiêu trong truyền thống Hy Lạp cũ là mưu cầu danh tiếng: "Những người ưu tú nhất chọn một thứ trên hết tất cả, đó là danh tiếng để đời trong giới phàm phu; còn số đông thì tự nhồi nhét mình như gia súc" (B29). Chết trong chiến trận là một cái chết cao quý hơn cả (B24). Việc chè chén quá độ sẽ làm cho linh hồn trở nên ẩm ướt, từ đó mà nó ngày càng hao mòn (B117), và một linh hồn khỏe mạnh là một linh hồn khô ráo (B118). Những người trải qua những cái chết cao thượng hơn sẽ đạt được những phần thưởng tốt đẹp hơn (B25). Những kẻ nói dối sẽ bị trừng phạt (B28[b]). "Có những điều vượt ngoài sức tưởng tượng và mong đợi của con người ở phía bên kia cái chết" (B27). Một vài trong số những nhận xét này có xu hướng gợi ý về một hậu kiếp với sự thưởng phạt, mặc dù niềm tin của ông vào một sự tồn tại tiếp diễn vẫn còn gây tranh cãi (xem Nussbaum 1972). Trong mọi trường hợp, Heraclitus xem linh hồn là trung tâm đạo đức và nhận thức của trải nghiệm làm người.
Trong lý thuyết chính trị, ông cho rằng một con người ưu tú đáng giá bằng cả vạn con người bình thường (B49). Ông chỉ trích những đồng hương của mình vì đã trục xuất một nhà lãnh đạo lỗi lạc:Các công dân trưởng thành của Ephesus nên tự giảo hết cả đi, và để lại thành phố cho lũ trẻ, bởi vì họ đã trục xuất Hermodorus, một con người người xuất chúng, với lý do rằng: Đừng để ai nổi bật giữa chúng ta; hoặc nếu có, hãy để kẻ đó nổi bật ở nơi khác, giữa đám người khác. (B121)
Rõ ràng là ông tin tưởng vào số ít và không tin tưởng vào số đông. Ông xem những luật lệ tốt là sự phản ánh của các nguyên tắc phổ quát:Để nói một cách có ý thức, chúng ta phải đắm mình trong cái ý thức phổ quát, giống như một thành quốc được ổn định bởi luật pháp của nó, ý thức phổ quát này thậm chí còn mạnh mẽ hơn vậy nữa. Vì tất cả luật lệ của con người đều được nuôi dưỡng bởi một tôn chỉ thiêng liêng. Nó mạnh mẽ, và vô cùng dồi dào, đến mức có thể ban bố sự thịnh vượng cho tất cả. (B114)
Dưới góc nhìn của Heraclitus, tôn chỉ thiêng liêng này có lẽ gắn với các quy luật chi phối vũ trụ, những quy luật duy trì công lý thông qua sự đối lập (B80).
---7. Ảnh hưởng
Mặc dù Heraclitus được biết là không có học trò nào, các triết phẩm của ông dường như đã có ảnh hưởng từ rất sớm. Ông có thể đã khơi gợi cho Parmenides phát triển một triết lý đối nghịch (Patin 1899; Graham 2002), mặc dù quan điểm của họ có nhiều điểm chung hơn những gì thường được công nhận (Nehamas 2002). Empedocles dường như đã viện dẫn các chủ đề của Heraclitus, và một số luận thuyết Hippocrates đã bắt chước ngôn ngữ của Heraclitus và trình bày các ứng dụng từ những chủ đề của ông. Democritus đã lặp lại nhiều tuyên bố đạo đức của Heraclitus trong học thuyết đạo đức của chính mình. Từ rất sớm, Heraclitus được xem là đại diện của sự thường biến phổ quát, đối lập với Parmenides, đại diện của sự bất biến phổ quát. Cratylus đã mang triết thuyết của Heraclitus đến Athens, nơi Plato đã nghe về nó. Plato dường như đã sử dụng lý thuyết của Heraclitus (dưới sự diễn giải của Cratylus) làm hình mẫu cho thế giới khả giác, cũng như ông đã sử dụng lý thuyết của Parmenides cho thế giới khả niệm. Như đã đề cập, cả Plato và Aristotle đều xem Heraclitus là người mắc lỗi phi-mâu thuẫn (non-contradiction), và đề xuất một lý thuyết tri thức không nhất quán dựa trên một sự biến đổi cấp tiến. Tuy nhiên, Aristotle cũng xem ông như một nhà nhất nguyên vật chất (material monist) có tính nhất quán, người đã đặt lửa làm nguyên tố tối hậu. Các nhà Khắc kỷ đã dùng lý thuyết vật lý của Heraclitus làm nguồn cảm hứng cho học thuyết của riêng họ, họ cũng học từ ông việc ủng hộ sử dụng lửa để thiêu rụi thế giới định kỳ và để nó tự tái sinh; Cleanthes đã đặc biệt bình luận về Heraclitus. Aenesidemus diễn giải Heraclitus như một triết gia tiền-hoài nghi (proto-skeptic) (xem Polito 2004).
Kể từ thời Plato, Heraclitus đã được xem là một triết gia của sự thông biến. Khó khăn trong việc diễn giải triết gia thành Ephesus này là cố gắng tìm ra một lý thuyết nhất quán trong những phát biểu nghịch lý của ông. Kể từ thời Hegel, ông được xem như một triết gia điển hình của triết học diễn trình (process philosophy) – có lẽ với một số lý do chính đáng.
---8. Phụ lục
Dựa trên một nghiên cứu công bố gần đây, giấy cói Derveni được phát hiện trong một ngôi mộ ở miền bắc Hy Lạp, có chứa một lời bình về một bài thơ Orphic. Người bình thơ thảo luận một số đoạn được viết bởi Heraclitus có liên quan đến bài thơ, cụ thể là đoạn B3 + B94 (có thể đã được tổng hợp như vậy trong sách của Heraclitus) (cột 4). Xem Betegh 2004. Các giấy cói Oxyrhynchus (tập 53, số 3710) cũng cho thấy Heraclitus quan tâm đến việc xác định các ngày trong tháng âm lịch và do đó quan tâm đến các vấn đề khoa học. Xem Burkert 1993. Về tài liệu giấy cói Derveni, xem Betegh & Piano 2019, 2022; Ranocchia 2019; và Hladky 2022.
Trong các công trình gần đây, các học giả đã đặc biệt chú ý đến lý thuyết đạo đức và chính trị của Heraclitus (Fattal 2011, Sider 2013, Robitzsch 2018), các vấn đề về logos và tính hợp lý (Hülsz 2013, Long 2013), tính chất vật lý của linh hồn (Betegh 2007), và lý thuyết về sự thay đổi của các nguyên tố (Neels 2018).
Gần đây tác phẩm Presocratics (Các triết gia tiền-Socrates) có một tái bản quan trọng, trong đó có một chương chủ yếu dành cho Heraclitus, bao gồm một tuyển tập phong phú các văn bản do ông viết và cả những văn bản hướng dẫn đọc chúng (Laks và Most 2016). Có một nghiên cứu mới rất quan trọng về Heraclitus, nó cố gắng bảo vệ phương pháp diễn giải các nguồn tài liệu theo lối truyền thống (Finkelberg 2017).
Ảnh hưởng của Heraclitus đối với văn hóa dường như không hề suy giảm, ta có thể thấy triết lý của ông xuất hiện rất nhiều trong đa dạng các lĩnh vực hoàn toàn khác nhau, như quản trị kinh doanh lẫn thú y. Heraclitus, người thường được trích dẫn như là triết gia của sự thông biến, giờ đây dường như đang nổi lên như người đặt tiêu chuẩn cho triết học diễn trình, ông đã thay thế các biểu tượng hiện đại như Henri Bergson và Alfred North Whitehead. Xem, ví dụ, van Geert và de Ruiter 2022, một đóng góp lớn cho ngành tâm lý học. (Về Heraclitus với tư cách là một triết gia quy trình, xem Graham 2011.)

Cr: Doxa Book Club

Đọc toàn bài tại plato.stanford.edu