KINH THÁNH - TỰ DO VÀ LỀ LUẬT Tác giả: Nhiều tác giả Vào thế kỷ XIX, một tạp chí Anh Quốc hỏi "100 người được…
Tác giả: Nhiều tác giả
<strong>#danhgiasacht7</strong>
Vào thế kỷ XIX, một tạp chí Anh Quốc hỏi "100 người được mệnh danh là vĩ đại nhứt ở Anh" một câu như sau: "<em>Nếu vì lí do nào đó, bạn phải dành 1 năm hoàn toàn cô độc, trong tù chẳng hạn, và có thể chọn từ trong thư viện 3 quyển sách đồng hành với bạn, hãy cho chúng tôi biết 3 quyển sách đó là gì</em>."
Câu hỏi được gửi đến những người xuất chúng hàng đầu trong các lĩnh vực chính trị, tư pháp, sáng tác, sản xuất, thương mại, thậm chí những người quý ông không cần phải bươn trải kiếm tiền, những người đại diện muôn vàn khía cạnh của một đời sống sung túc. Trong những câu trả lời, có tới 98/100 câu trả lời gọi tên "Kinh thánh" đầu tiên trong danh sách 3 quyển. Trong tầng lớp trung lưu lúc bấy giờ, con số ấy vô cùng lớn.
Bên cạnh việc là quyển sách bán chạy nhất thế giới trong lịch sử, <em>Kinh thánh</em> là nguồn tài liệu tham khảo, kim chỉ nam, lẫn chủ đề được nhiều người bàn luận nhất. Nó không chỉ là cuốn sách đi cùng thời gian, mà còn ghi lại sự kiện lịch sử về sự tồn tại của Chúa Ki-tô. Nói theo Mircea Eliade thì thời gian được thánh hóa vì sự kiện ấy. Thời gian phàm tục thì mờ dần còn thời gian thánh thì "trường tồn vĩnh hằng". Ta có thể nói như vậy với <em>Kinh thánh</em>.
Mình xin phép chia sẻ một suy tư ngắn về cách mình đọc và rút ra được từ <em>Kinh thánh,</em> thông qua <em>Thư gửi tín hữu Rô-ma</em>, một đoạn nhỏ trong quyển sách có phần đồ sộ và vĩ đại. Mình liên hệ nó với một số quyển sách khác.
---TỰ DO VÀ LỀ LUẬT
Trong <em>Thư gửi tín hữu Rô-ma</em>, thánh Phao-lô có câu: “Ví thử dân ngoại không có Luật, nhưng theo lương năng mà làm những điều Luật dạy, thì họ, những kẻ không có Luật, là Luật cho chính mình họ.”
Luật được mặc khải thì ta gọi là Thần luật, hay Luật của Thiên Chúa. Trong khi ấy, Luật cho chính mình lại là Luật tự nhiên. Luật tự nhiên trong truyền thống triết học phương Tây có hai nghĩa chính, một là luật tự nhiên được xem là quy luật vật lí quy định cách vạn vật vận hành, hai là luật tự nhiên được xem là luật luân lý.
Giống như luật vật lý, luật luân lý cần lý tính để nhận biết. Khi không biết dùng lý tính đúng cách, con người suy diễn động đất, núi lửa phun trào, dịch bệnh là do thần linh nổi giận. Khi biết dùng lý tính đúng cách, họ phát hiện ra luật vật lý. Từ cách suy nghĩ đó, họ tin rằng luật luân lý giống như luật vật lý, có thể dùng lý tính để phát hiện ra. Luật tự nhiên phải phổ quát và khách quan, ai có lý tính đều không thể chối bỏ nó.
Như giáo lý Hội thánh Công giáo (s 1958) đã nói: "Luật tự nhiên bất biến và trường tồn qua mọi biến thiên của lịch sử. Giữa những trào lưu ý tưởng và tập tục, luật tự nhiên vẫn tồn tại và còn giúp chúng phát triển nữa. Về cơ bản, những luật diễn tả luật tự nhiên vẫn luôn có giá trị. Dù có chối bỏ đến những lý của luật tự nhiên, người ta cũng không thể hủy diệt được nó, không thể gạt nó ra khỏi lòng người; nó luôn tái xuất hiện trong đời sống của cá nhân và của các xã hội".
"Theo đó, luật tự nhiên cũng là luật của tự do, diễn tả phẩm giá con người". Thiên Chúa thương yêu con người, Thiên Chúa tạo dựng con người bình đẳng và vì thế Thiên Chúa trao cho con người quyền tự do lựa chọn. Họ có thể lựa chọn tin vào luật tự nhiên hay luật mặc khải. Nhưng luật không thể cứu rỗi con người khỏi tội lỗi.
"Luật đối với Do Thái(Luật Mô-sê, mặc khải) và cả dân ngoại(luật lương tâm, tự nhiên) là tiêu chuẩn Thiên Chúa đã đặt ra cho đời sống luân lý con người. Nhưng thực tế ra, luật chỉ đem lại những hiệu quả tai hại. Đứng trước vai trò tiêu cực đó của Lề luật( 7 1-6), ơn cứu rỗi là một sự giải thoát khỏi Lề luật( 7 7-13). Luật do bởi Thiên Chúa sao lại là tai hại được? Ấy là vì do có một quyền lực hắc ám cai quản con người xác thịt: sự Tội(7 14-25). Con người dằng co giữa thiện ác, một sự rạn vỡ nơi con người ta, Lề luật không thể nào hàn gắn lại được, trừ phi là có sự can thiệp cứu thoát của Thiên Chúa".
Ngày nay, tính chất tiêu cực của Lề luật thậm chí vượt xa hơn thế nữa. Người ta không còn tin vào Luật tự nhiên mà tin vào luật con người(luật thực chứng). Người ta không tin vào sự can thiệp cứu thoát của Thiên Chúa, mà tin vào sự can thiệp của nhà nước. Chính các cha lập quốc Hoa Kỳ đã nhận thức điều tai hại của việc đưa đức hạnh, giáo dục và tôn giáo vào Hiến pháp.
"Đức hạnh và tôn giáo không được đề cập trong Hiến pháp vì cùng một lý do: bởi vì chúng được xem là đã bén rễ sâu trong bản tính con người và như thế được phản ánh trong những lề lối/moeurs của dân tộc, trong các truyền thống và các định chế bất thành văn của xã hội. Làm cho đức hạnh hay tôn giáo trở thành những mục tiêu trực tiếp của chính quyền - nhất là chính quyền của toàn quốc gia - sẽ gây tác dụng ngược lại, làm hủy hoạt những thôi thúc tự nhiên đã sản sinh và duy trì chúng... Nền tảng duy nhất cho sự giáo dục hữu hiệu trong một nền cộng hòa phải được đặt vào trong tôn giáo. Không có nó sẽ không thể có đức hạnh, tự do là mục tiêu và sự sống của mọi chính quyền công hòa."
Thánh Phao-lô kêu ta không chỉ giữ Luật mà còn nghe lấy Luật. Ngài nói:
"<em>Anh em đừng mắc nợ gì ai, trừ phi là yêu mến nhau.. Vì kẻ yêu người, tất đã làm trọn Lề luật. Vì các điều(như): Chớ ngoại tình, chớ giết ngườ, chớ trộm cắp, chớ ham muốn, và nếu có lịnh truyền nào khác, thì đều tóm lại nơi một lời này:"Ngươi hãy yêu mến đồng loại, như chính mình". Yêu mến hẳn không làm hại người đồng loại. Vậy yêu mến là chu toàn cả Lề luật".
</em>
Và thật tình cờ, điều mà thánh Phao-lô tóm gọn trong một nguyên lý của tự do nơi con người thì chính Khổng Tử cũng đã ngộ ra: "Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân"
---
Tài liệu tham khảo:
[1]. Kinh Thánh, bản dịch theo các cố bản Hi Lạp của Linh Mục Nguyễn Thế Thuấn - Dòng Chúa Cứu thế
[2]. Tự do và lề luật, Linh mục Vĩnh Sơn Đỗ Hoàng
[3]. Những con đường đến Tính hiện đại, Gertrude Himmelfarb
Cr: Nyxar