Lược dịch: Tiểu sử Hegel và tóm tắt một vài luận điểm trong cuốn Hiện tượng học Tinh thần Trong thập niên…
Trong thập niên 1790, thị trấn nhỏ Jena, thuộc vùng Saxony, trở nên sôi động với các hoạt động đầy màu sắc. Với sự hỗ trợ tích cực từ Goethe, vị bộ trưởng công tước ở Weimar gần đó, trường đại học cổ kính đã dập tắt tiếng xấu về sự xô bồ bia rượu và trạng thái trì trệ về trí tuệ. Schiller được bổ nhiệm một vị trí tại đây vào năm 1789, và Fichte vào năm 1794. Những bài giảng đầy nhiệt huyết của họ – được trình bày bằng tiếng Đức thay vì tiếng Latin như thường lệ – nhanh chóng thu hút khán giả từ khắp nước Đức, cũng như từ Pháp và Anh.Điều mọi người khao khát nhất chính là triết học. Cụ thể, họ muốn tham gia vào "cuộc cách mạng phê phán" do Kant khởi xướng khoảng một thập kỷ trước đó. Họ tin chắc rằng không thể quay lưng lại với học thuyết của Kant, rằng các hình thức cơ bản của trải nghiệm được tạo ra bởi chính hoạt động tâm trí của chúng ta, chứ không phải bị áp đặt từ bên ngoài. Nhưng trong khi Kant đã khởi động "triết học phê phán" của mình với tinh thần giác ngộ tỉnh táo, thì các nhà lãng mạn mới lại quyết tâm thúc đẩy nó tiến xa hơn đến kết luận rằng con người chúng ta không chỉ là những sinh vật của thế giới này mà còn là những người sáng tạo ra thế giới ấy – những nhà thơ tự sáng tạo nên bản thân mình cả ở cấp độ cá nhân lẫn dân tộc. Khi Kant ngày càng già yếu và hay quên tại Königsberg xa xôi, những người trẻ tuổi ở Jena tin rằng tương lai hậu Kant, với sự tự do sáng tạo và tự chủ, thuộc về họ.
Chẳng bao lâu, August và Caroline Schlegel cũng định cư tại Jena, sau đó là Friedrich và Dorothea Schlegel. Rồi Hölderlin xuất hiện, và vào năm 1798, người bạn trẻ tài năng của ông, Schelling, cũng đến – một giáo sư 23 tuổi với vẻ mặt cau có đầy cuốn hút. Họ cùng nhau tạo nên một "hòa nhạc của sự dí dỏm, thơ ca, nghệ thuật và khoa học," như lời của Dorothea Schlegel; hoặc, theo cách nói của chồng bà, "một bản giao hưởng của các giáo sư.”Chưa đầy mười năm, tất cả đã kết thúc. Đến năm 1800, một nhóm nhỏ các giáo sư lớn tuổi đã tái khẳng định những truyền thống tiền lãng mạn của trường đại học, cáo buộc những người mới đến đã biến Jena thành một "nhà thổ mờ ám". Fichte bị cách chức vì bị nghi ngờ vô thần, và những giáo viên có sức hút hơn bắt đầu rời đi, kéo theo cả những sinh viên xuất sắc nhất.
Rồi chính trị lại chen vào. Quân đội của Napoleon đánh bại người Áo tại Austerlitz vào năm 1805, và những sợi dây cuối cùng buộc các bang Đức vào Đế chế La Mã Thần thánh bắt đầu đứt gãy. Vào tháng 9 năm 1806, quân đội Phổ tiến vào Saxony với hy vọng chặn đứng bước tiến của quân Pháp, nhưng Napoleon đã đáp trả vào ngày 13 tháng 10 bằng cách chiếm lấy Jena. Quân đội của ông cướp phá thị trấn, và chiều hôm sau, họ đánh bại quân đội Phổ trong một trận chiến trên cánh đồng gần đó.
Đó là những ngày u ám đối với cư dân của Jena, đặc biệt là những người có cuộc sống phụ thuộc vào trường đại học. Điều này đặc biệt ảm đạm đối với một triết gia trung niên đầy tâm trạng có tên Georg Wilhelm Friedrich Hegel. Ông thất nghiệp, độc thân và không được yêu thương (dù người quản gia nóng tính của ông đang mang thai đứa con của họ được năm tháng); và kể từ khi quân đội Pháp đến, ông cũng trở thành kẻ vô gia cư. Dù gần đây ông được phong làm "giáo sư triết học", chức danh này không đi kèm với bất kỳ khoản lương nào. Lúc đó, Hegel đã 36 tuổi, và có vẻ như sự ngạo mạn trí tuệ và vụng về trong giao tiếp xã hội, cùng với sự khô khan trong viết lách, sự bất tài trong diễn thuyết và giọng Swabian khó ưa của ông, sẽ mãi là những rào cản ngăn cách ông với thành công học thuật mà ông khao khát.
Vấn đề cơ bản của Hegel, theo cách ông nhìn nhận, là một dạng thụ động ủ ê mà ông gọi là "bệnh u sầu" (hypochondria). Ông định nghĩa căn bệnh của mình là "sự bất lực trong việc thoát ra khỏi bản thân," nhưng ở góc độ khác, đó lại là một sự thôi thúc phải lang thang trong trí tưởng tượng và tìm nơi ẩn náu ở chốn khác. Cảm giác về bản thân của ông thường mơ hồ và phân tán, khiến ông có xu hướng đồng nhất với hầu như bất cứ thứ gì ngoại trừ tình cảnh trước mắt của chính mình. Thói quen nhìn sự việc từ những góc nhìn khác ngoài góc nhìn của bản thân này có lẽ bắt nguồn từ thời thơ ấu của ông ở Stuttgart, cùng những cú sốc không bao giờ được diễn đạt thành lời mà ông phải chịu đựng ở tuổi 11 khi người mẹ hết mực yêu thương qua đời. Vài năm sau, khi là sinh viên tại chủng viện Tin Lành ở Tübingen, ông đã quen với việc ước mình là ai đó khác – chẳng hạn, một nhà tư tưởng ngoại giáo ở Hy Lạp cổ đại, hoặc một nhà cách mạng triết học ở Paris đương thời.
Hegel cũng thích gắn bó với những con người táo bạo và xuất chúng, những người chắc chắn vượt trội hơn ông, đặc biệt là Hölderlin và Schelling, hai người mà ông từng ở chung phòng khi họ cùng học tại Tübingen. Những người bạn này viết và nói tốt hơn ông; họ tán tỉnh giỏi hơn, học giỏi hơn, và không nghi ngờ gì, ngủ cũng ngon hơn. Điều duy nhất ông xuất sắc là uống rượu và dành hàng giờ đọc báo chí chính trị nhất thời. (“Đọc báo buổi sáng là lời cầu nguyện buổi sáng của người theo chủ nghĩa hiện thực,” ông từng nói). Hegel cũng cố gắng tạo phong cách riêng bằng cách để tóc ngắn, phẳng theo kiểu cách mạng, nhưng khi ở bên cạnh Hölderlin và Schelling – nhà thơ Hy Lạp cổ đẹp đẽ và thần đồng triết học đầy quyến rũ – ông, ở tuổi 20, đã sớm nhận biệt danh "ông già Hegel".
Khi rời Tübingen vào năm 1793, các giáo sư của Hegel nhận xét rằng ông có "một chút năng lực về ngữ văn," nhưng không có tài năng lớn trong triết học. Không thể tìm được một vị trí tại trường đại học, ông đã trải qua năm năm tiếp theo làm gia sư riêng tại Berne và Frankfurt, cố gắng kiềm chế những giấc mơ đầy hào hứng của mình về việc kết hợp triết học Kant với chính trị quần chúng để tạo ra một sự kế thừa thế tục cho cuộc Cải cách. "Những nhà triết học đang chứng minh phẩm giá của con người," ông viết, "và quần chúng sẽ học cách cảm nhận điều đó." Sự lan tỏa của triết học phê phán sẽ dẫn đến "một cuộc cách mạng ở Đức," và chính với hy vọng đóng vai trò tích cực trong cuộc cách mạng ấy, ông đã chuyển đến Jena vào năm 1801.
Hegel đã đến quá muộn. Trường đại học lúc đó đang suy thoái; có rất ít sinh viên đến nghe các bài giảng tư của ông, và học phí không đủ để trang trải chi phí. Tuy nhiên, giọng nói kỳ lạ, những câu nói chưa hoàn chỉnh và những chu kỳ của việc hít thuốc lá, hắt hơi, ho và lầm bầm lại có sức hấp dẫn riêng, và dần dần Hegel thu hút được một nhóm tín đồ: một nhóm nhỏ các thanh niên nghiêm túc, tin rằng ông sẽ là người dẫn dắt triết học Đức đến vinh quang trong tương lai. Những người khác lại không đồng ý, và từ sớm như năm 1804, August Schlegel đã phàn nàn về các nhóm thanh niên trẻ lầm lỳ gọi là Hegeleien đi dạo khắp các con đường ở Jena. Nhưng Goethe vẫn giữ niềm tin vào triết gia khốn khổ này: mặc dù Hegel có nhiều hạn chế về "kỹ thuật diễn thuyết" (và chắc chắn nên có một người bạn nào đó khuyên nhủ ông về điều này), Goethe cho rằng Hegel sở hữu một trefflicher Kopf – "một trí tuệ sắc bén đặc biệt".
Nhưng khi Hegel van nài Goethe giúp ông tìm một vị trí có lương tại trường đại học (“Tôi là Privatdozent lớn tuổi nhất trong ngành triết học”), vị đại văn hào cũng không thể giúp được gì. Một phần của vấn đề là Hegel vẫn chưa có một cuốn sách chính thức nào mang tên mình. Các nhà xuất bản của Goethe đã công bố vào năm 1802 rằng họ sẽ phát hành các bài giảng của Hegel về "Lô-gic và Siêu hình học", nhưng quan niệm của ông về triết học liên tục thay đổi khi ông viết, và ông không thể hoàn thành cuốn sách. Tuy nhiên, đến năm 1806, Hegel đã đạt được một thỏa thuận với một nhà xuất bản ở Bamberg, sẵn sàng phát hành một tác phẩm lớn với tựa đề "Dẫn nhập vào Hệ thống Khoa học". Hợp đồng quy định rằng ông sẽ nhận được một khoản thanh toán khi nửa cuốn sách đã được giao, nhưng do không ai – ngay cả Hegel – có thể xác định rõ độ dài của cuốn sách, việc biết khi nào đạt đến nửa chừng trở nên bất khả thi. Sau đó, hai bên đồng ý rằng khoản thanh toán sẽ được thực hiện khi bản thảo hoàn chỉnh đến tay nhà xuất bản, miễn là nó đến Bamberg trước ngày 18 tháng 10. Vào ngày 13 tháng 10, hầu hết chương cuối cùng đã được gửi đi bằng đường chuyển phát nhanh, chỉ còn lại phần kết luận mà Hegel phải hoàn thiện trước hạn chót.
Nhưng đó chính là ngày quân đội Pháp tiến vào Jena, và Hegel quan tâm nhiều hơn đến vị chỉ huy anh hùng của họ hơn là tình cảnh khó khăn của chính mình. Đối với ông, Napoleon dường như là hiện thân của sự kết hợp những phẩm chất mà ông đã mơ ước từ khi còn là một sinh viên: lý tính triết học kết hợp với lòng nhiệt huyết cách mạng và sức mạnh quần chúng. Ôm chặt bản thảo chưa hoàn thành của những đoạn kết thúc, ông lên đường để chiêm ngưỡng hiện tượng mang tính lịch sử thế giới. "Tôi đã nhìn thấy Hoàng đế," ông viết: "linh hồn thế giới này, cưỡi ngựa tiến ra khỏi thành phố để trinh sát; quả thực là một cảm giác tuyệt vời khi được nhìn thấy một cá nhân, tập trung tại một điểm duy nhất, cưỡi ngựa mà vươn tầm ra thế giới và chế ngự nó." Cuối cùng, ông quay lại với việc viết, nhưng phải một tháng nữa ông mới có thể đến Bamberg và đích thân giao những đoạn cuối cùng cho nhà xuất bản của mình. Lời bào chữa được chấp nhận, tiền thù lao được thanh toán, và cuốn sách đầu tiên của Hegel cuối cùng cũng được đưa vào sản xuất.
Ông ở lại Bamberg để đọc và chỉnh sửa bản in thử, đồng thời nhận được một công việc dường như được thiết kế riêng cho ông: làm biên tập viên được trả lương hậu hĩnh của một tờ báo hàng ngày ủng hộ Napoleon. Lần đầu tiên trong đời, ông có được một khoản lương cố định, độc lập. Và khi cuốn sách của ông, nay mang tựa đề "Hiện tượng học Tinh thần" (Phenomenology of Spirit), được xuất bản vào tháng 4 năm 1807, ông bắt đầu xây dựng danh tiếng văn chương cho mình. Một nhà phê bình – người từng là một trong những sinh viên đầu tiên của Hegel ở Jena – đã viết rằng việc đọc Hegel có thể thay đổi cuộc đời bạn, khiến bạn muốn dành toàn bộ sự tồn tại của mình để hiện thực hóa “những chân lý chứa đựng trong hệ thống của ông.”
Những chân lý vĩ đại của Hegel có thể khó nắm bắt chi tiết, nhưng hướng đi tổng thể của chúng lại khá dễ nhận ra: mang lại lý thuyết Kant về sự sáng tạo tinh thần tự chủ, một cảm giác về sự thay đổi lịch sử. Một phụ chú của cuốn Hiện tượng học mô tả tác phẩm như là "Khoa học về Trải nghiệm của Ý thức," và trọng tâm lập luận của Hegel là ý thức vốn dĩ không thể đứng yên. Nó luôn sở hữu một khối lượng lớn các nhận thức xuất sắc, nhưng không bao giờ cảm thấy thỏa mãn với chúng. Ý thức khao khát điều gì đó lớn lao hơn, nó có một tầm nhìn lang thang và một tham vọng vượt quá khả năng của mình: một khao khát quá mức đối với sự chắc chắn khiến nó rơi vào trạng thái bất an đầy ngờ vực. Bị quyến rũ bởi ảo ảnh của sự sung mãn về tri thức hoàn hảo, ý thức chối bỏ những gì mình biết, từ bỏ nó và lên đường đầy lạc quan cho một hành trình mà cuối cùng sẽ trở thành "cuộc hành trình của tuyệt vọng."
Hành trình của ý thức có thể được đọc từ các tiêu đề chương trong "Hiện tượng học". Ý thức bắt đầu bằng việc đặt niềm tin vào những điều chắc chắn quen thuộc của cảm giác tức thì, nhưng chẳng bao lâu, những điều này cong vênh và sụp đổ như cây sồi trong câu chuyện dân gian cũ, để lại ý thức trong trạng thái bối rối và buồn bã. Nó tự vực dậy và hy vọng tiến tới nhận thức, nhưng rồi niềm tin lại bị phản bội một lần nữa; sau đó, nó loạng choạng bước qua các giai đoạn tự ý thức, lý trí, đạo đức và tôn giáo, lặp lại chu kỳ ám ảnh của hy vọng thoáng qua và sự nhục nhã kéo dài hết lần này đến lần khác.
Nhưng câu chuyện có một kết thúc hạnh phúc. Ý thức sẽ là kẻ cuối cùng nhận ra điều đó, nhưng mỗi bước trong hành trình khổ sở của nó thực ra đều đưa nó đến gần hơn nơi mà nó luôn khao khát. Hegel nói, "Chuỗi các cấu hình mà ý thức trải qua trong hành trình của nó thực chất là lịch sử cụ thể hóa của sự giáo dục của nó, sự Bildung (*) của nó." Cuối cùng, ý thức trở nên thông suốt với chính sự ngu muội của mình, và lịch sử của đau khổ, phủ nhận, cùng hoài nghi bản thân được chuyển hóa thành niềm hạnh phúc của "tri thức tuyệt đối."Ý thức từng tưởng rằng sự chắc chắn là một điều huyền bí thiêng liêng, cao xa; giờ đây, cuối cùng nó nhận ra rằng sự chắc chắn chẳng qua chỉ là một tổng hợp của tất cả những khái niệm thoáng qua hằng ngày mà nó tự xây dựng trong quá trình trải nghiệm trần thế của mình. Mỗi giai đoạn trong hành trình gian khổ của nó đều là cần thiết, và không thể có đường tắt: rốt cuộc, nếu không có sai lầm, sẽ không có trải nghiệm; và nếu không có trải nghiệm, sẽ không có chân lý. Trong thế giới của "Hiện tượng học", chân lý không phải là điều gì đó cao cả, siêu việt, mà chỉ là một sai lầm đã được sửa chữa. Toà nhà tri thức được xây dựng không phải bằng những sự thật thiêng liêng, mà bằng những sai lầm tầm thường, được phơi bày và sửa chữa, được đặt tên và chịu trách nhiệm. Ý thức đạt đến chân lý tuyệt đối hoàn toàn nhờ vào những nỗ lực tưởng chừng hoang tưởng của chính nó.
Theo một cách nào đó, Hegel đang kể một câu chuyện hành trình cổ điển theo truyền thống của Homer, Virgil, Malory hay Bunyan. Nhưng đây là một câu chuyện mang tính triết học: nhân vật chính không phải là một cá nhân cụ thể, mà là ý thức nói chung, và hành trình được mô tả là hành trình mà tất cả chúng ta phải thực hiện nếu muốn học được sự thật về bản thân và thế giới. Vì vậy, thật vô lý nếu kể câu chuyện này theo lối kể chuyện ngôi thứ ba truyền thống, như thể người kể chuyện có thể được miễn trừ khỏi việc đi cùng con đường đó. Và ý tưởng độc đáo của Hegel là kể câu chuyện nền tảng của "Hiện tượng học" không bằng ngôi thứ ba, mà bằng ngôi thứ nhất. Quan điểm kể chuyện do đó xuất phát từ bên trong chính câu chuyện, và hành trình được theo dõi từ góc nhìn lang thang của chính ý thức. Hơn thế nữa, Hegel còn làm cho người kể chuyện trở thành số nhiều, nhằm đặt tất cả chúng ta, những độc giả, vào cùng tình cảnh như ý thức đang trên hành trình. Người lữ khách bối rối không ai khác ngoài chính chúng ta, hoặc đúng hơn – bởi vì câu chuyện được kể ở thì quá khứ – là phiên bản trước đây của chính chúng ta, những kẻ ngu ngốc và đau khổ mà giờ đây chúng ta hồi tưởng lại trong sự bình thản khoa học. "Hiện tượng học" không phải là tiểu sử của tri thức tuyệt đối, mà là tự truyện tập thể của nó: những lời thú nhận của một kẻ giáo điều ăn năn, kẻ sống trong tất cả chúng ta.
Sự thử nghiệm của Hegel với các góc nhìn kể chuyện một phần được truyền cảm hứng từ Kant, nhưng cũng một phần là phản ứng chống lại ông. Kant nổi tiếng khi so sánh mình với Copernicus, người đã “khi không đạt được tiến bộ trong việc giải thích chuyển động của các thiên thể với giả thuyết rằng tất cả chúng đều quay quanh người quan sát, đã thử xem liệu ông có thể thành công hơn nếu làm cho người quan sát quay quanh trong khi các ngôi sao đứng yên”. Theo cách nhìn của Kant, Copernicus nhận ra rằng các chuyển động thiên thể dường như khiến các nhà quan sát trước đó bối rối không phải là những thực tại khách quan độc lập, mà chỉ là những sự phản chiếu của các chuyển động từ góc nhìn của con người trên Trái đất. Và giả thuyết lớn của Kant – cơ sở cho điều mà ông lạc quan gọi là “cuộc cách mạng Copernicus” của mình – là điều tương tự cũng có thể áp dụng cho các khái niệm siêu hình đã làm các triết gia trước đó bối rối: ông cho rằng chúng cũng có thể chẳng qua chỉ là những quan điểm sai lệch của chính chúng ta, được chúng ta chiếu lên thế giới và sau đó nhầm tưởng là những thực tại độc lập.
Nhưng Hegel nhận ra rằng phép so sánh của Kant không hoàn toàn chính xác. Các nhà vũ trụ học có thể gạt sang một bên sự tồn tại trên Trái Đất của mình và hình dung hệ mặt trời từ góc nhìn của mặt trời, trong khi chính họ quay quanh nó trên bề mặt của một hành tinh đang xoay; nhưng một triết gia thì không bao giờ có thể loại bỏ các hình thức cơ bản của trải nghiệm con người để cố gắng tưởng tượng thế giới sẽ như thế nào nếu không có chúng. Trong triết học, không tồn tại điểm quan sát bên ngoài – không có những ngôi sao cố định – mà chỉ có những chuyển động giữa các góc nhìn khác nhau. "Hiện tượng học" là một nỗ lực nhằm bao quát mọi loại trải nghiệm trong một cái nhìn ngược kéo dài. Nếu Hegel là một đạo diễn phim, ông sẽ là bậc thầy của những cảnh quay liền mạch, như cảnh quay trong bộ phim "Young and Innocent" của Hitchcock, khi máy quay di chuyển qua toàn bộ phòng khiêu vũ trước khi dừng lại, sau hai hoặc ba phút, ở đôi mắt giật giật của kẻ sát nhân.
Theo Hegel, “nhà triết học phải sở hữu sức mạnh thẩm mỹ không kém gì nhà thơ.” Nhưng nếu "Hiện tượng học" là một tác phẩm văn học vĩ đại, thì nó không phải là một tác phẩm viết lách tinh tế. Hegel là một bậc thầy trong việc xây dựng các mô hình trình bày văn học quy mô lớn, nhưng ông thiếu kỹ năng tương xứng trong nghệ thuật viết đoạn văn hoặc câu văn. Những cụm từ hay mà ông thỉnh thoảng tạo ra – như “lao động khổng lồ của lịch sử thế giới,” “sức mạnh khủng khiếp của cái phủ định,” hay hình ảnh về chân lý như một “cuộc say sưa Bacchanal nơi không ai không say” – chỉ làm nổi bật sự lạc lõng và sự vụng về của phần còn lại.
Tuy nhiên, Hegel đáp lại những lời phê bình về văn phong của mình một cách thách thức. Ông cho rằng nếu đôi khi ông gạt sang một bên các quy tắc của các nhà ngữ pháp thông thường, đó là vì chúng mâu thuẫn với lý tưởng cao nhất của triết học: cụ thể là "suy tư biện chứng," hay nỗ lực để nắm bắt thực tại trong toàn bộ sự tương tác toàn diện của nó. Hegel cho rằng sự ám ảnh ngữ pháp với việc chia mỗi câu thành "chủ ngữ" và "vị ngữ" là kẻ thù chết người của suy tư biện chứng: sự phân chia vụng về này phá vỡ tính thống nhất của "mệnh đề biện chứng" và làm hỏng "biến tấu của trung tâm ngữ."
Lấy ví dụ câu nói rằng "lý trí là tinh thần". Theo cách hiểu ngữ pháp thông thường, người ta có thể nghĩ rằng câu này chỉ ra một mối liên hệ giữa hai thuật ngữ riêng biệt, được định nghĩa rõ ràng. Nhưng thực ra, theo Hegel, nó hoạt động theo cách biện chứng, đặt "lý trí" và "tinh thần" cạnh nhau và cho phép ý nghĩa của chúng hòa quyện một cách tinh tế vào nhau. Có thể nói, triết học vẽ nên bức tranh của mình bằng màu nước thay vì sơn dầu. Nó tạo ra những không gian ngôn ngữ nhẹ nhàng, nơi các từ không bị ràng buộc bởi những quy tắc cứng nhắc quá mức, mà được thả lỏng và tự do trôi dạt một chút, để tìm thấy mức độ phù hợp của chính chúng và tái định nghĩa lẫn nhau một cách tương hỗ, phù hợp với điều mà Hegel gọi là "nhịp điệu của tổng thể hữu cơ".
Với Hegel, điều này là bất khả thi nếu bị ràng buộc bởi "trang phục và phong cách của Locke hoặc triết học Pháp thông thường". Để đạt được sự tự do trong suy tư biện chứng, cần thoát khỏi những khuôn khổ gò bó đó. Như Hegel đã nói trong Lời tựa của "Hiện tượng học", văn phong triết học cần được "đọc đi đọc lại nhiều lần mới có thể hiểu được".
Cr: cheshire