Cái thật và Thực tại dưới góc nhìn của Tâm lý học về Ý chí Chúng ta thường truy tầm “sự thật khách quan”, nên…
Chúng ta thường truy tầm “sự thật khách quan”, nên một cách vô thức, luôn gán cho “ảo tưởng” là thứ gì đó không thực tế và phải hết sức giữ cho mình tỉnh táo để tránh rơi vào ảo tưởng. Trớ trêu thay, điều thực tế nhất lại chính là việc con người luôn ảo tưởng, hay nói đúng hơn, con người là động vật duy nhất tin vào ảo tưởng, và những ảo tưởng rực rỡ chính là Cái - thật duy nhất của nội tâm.
Trong Cái thật và Thực tại (Truth and Reality), Otto Rank đưa ra triết lý về nền tảng thực sự của tâm lý học, đấy là địa hạt của ý chí và đạo đức theo nghĩa hoàn toàn tinh thần, chứ không phải theo nghĩa sinh lý học hay luân lý, tức là không phải ở phương diện sức mạnh siêu - cá nhân, mà ở phương diện tự do (hiểu từ góc độ siêu hình học của Kant), nghĩa là vượt trên các ảnh hưởng bên ngoài.
Thực tại thẩm thấu vào ý thức thông qua các giác quan của chúng ta, tuy nhiên con người không thể chỉ đơn thuần là tiếp thu thuần tuý mà vẫn bị ý chí điều hướng và hạn chế. Nghĩa là, tôi vẫn nhìn, vẫn nghe, nhưng tôi chỉ thấy điều tôi muốn thấy, và nghe những điều tôi muốn nghe, thực tại chỉ có thể tác động đến chúng ta thông qua con đường của đời sống cảm xúc, và theo đó, hoặc trở thành “cái thật”, hoặc trở thành điều giả dối; tức là cái thực tại đấy tuỳ theo mà sẽ được đóng dấu là một “thực tại tinh thần” hay là một “điều không có thực”. “Cái thật” đại diện cho ý chí về mặt trí năng, và nó hoàn toàn chẳng đếm xỉa gì đến thực tại, chúng đối lập với thực tại. Như vậy, thế giới nội tại tiếp thu từ thế giới ngoại tại bằng cách “đồng nhất hoá”, theo thời gian, nó đã trở thành một lực lượng độc lập.
Đến lượt mình, thế giới nội tại nhờ vào “phóng chiếu”, tác động ngược trở lại và cố thay đổi thế giới ngoại tại sao cho cái bên ngoài tương ứng vừa vặn với cái bên trong mình. Mối liên hệ với thực tại bên ngoài này, Otto Rank gọi là “sáng tạo”, theo nghĩa đối ngược với sự “thích nghi” và ông coi nó là hiện tượng ý chí. Đây không phải là ý chí của Neitzche, cũng không phải cái ý chí như của Schopenhauer. Về bản chất, đây là ý chí hướng đến sự thấu biết có - ý - thức. Quan niệm “cá nhân gây ảnh hưởng và biến đổi hoàn cảnh” này, bản thân nó đã tính đến cả mẫu hình nghệ sĩ, kiểu người sáng tạo mà trong bức tranh nhân gian của Freud không có chỗ nào cho kiểu người đấy. Triết gia, cũng giống như nghệ sĩ hay tín đồ tôn giáo, sáng tạo một cách đơn thuần từ cá tính của riêng mình. Dù dưới các hình thức khác nhau, song biểu hiện ở tất cả bọn họ đều là thứ gì đó siêu - cá nhân, tự nhiên nhi nhiên và rộng lớn như vũ trụ, vì thế giá trị mà nó mang đến là phổ quát với nhân loại. Sự “sáng tạo” này có lẽ là dạng thức cao nhất mà con người có thể đạt tới, tuy nhiên, đây cũng chắc chắn là dạng thức nguy hiểm nhất, bởi sau cùng nó có thể dẫn tới đau khổ nếu nó chống lại chính nó bằng việc sống một cách kiềm chế thay vì khẳng định một cách vui vẻ. Rank phân ra ba cách đối xử với thực tại của ba kiểu người khác nhau:
(i) Một con người bình thường giỏi thích nghi có thể lấy cái thực tại mà đại đa số chấp nhận là sự thật làm cái - thật của chính mình. Ý thức về thực tại của kiểu người này phát triển mạnh hơn và đến từ sự thích nghi và phục tùng của ý chí. Anh ta phụ thuộc vào thực tại. Lý tưởng của những người này: Là người như những người - khác - là. Trong trường hợp này, ý chí tự nó được biện minh cả về mặt phổ quát lẫn về mặt xã hội.
(ii) Người loạn thần kinh tìm thấy sự thật chủ quan của mình, nhưng anh ta không thể chấp nhận nổi nó, không sẵn sàng biến thực tại đấy thành cái - thật của riêng mình, cũng không dám đem cái - thật của mình chuyển biến thành hiện thực. Trong trường hợp này, ý chí hoàn toàn bị khước từ, chối bỏ. Họ phòng vệ bản thân trước những cưỡng chế của thực tại vả cả sức ép từ bên trong. Anh ta mắc kẹt giữa cái - thật và thực tại. Lý tưởng của người loạn thần kinh: Là - chính - mình, nghĩa là sống như con người anh ta vốn - là. Anh ta cảm thấy mình rất khác biệt với những người khác, song cũng không thể chấp nhận các giới luật và biện minh của riêng mình, bởi chúng sẽ là một biểu hiện cho ý chí của anh ta - thứ mà anh phải thừa nhận nhưng không muốn thừa nhận. Anh ta tan vỡ, suy nhược không chỉ vì bản thân không có khả năng chịu đựng các áp lực bên ngoài, mà còn phải chịu đựng tình trạng bất lực của chính mình trong việc chống đỡ trước bất kỳ áp lực nào, dù là bên trong, bên ngoài hay từ quá trình hình thành lý tưởng của bản thân. Điều kẻ loạn thần kinh phải chịu đựng không phải là bản thân các cơ chế bệnh lý, mà chính là việc anh ta đã đánh mất những ảo tưởng cần thiết cho việc sống.
(iii) Con người mang ý chí sáng tạo, từ thực tại mà tìm kiếm và khám phá ra cái - thật của riêng mình, và một khi đã tìm ra thì sẽ muốn đem cái - thật đấy biến thành cái chung phổ quát - thành hiện thực. Đấy là kiểu người tạo ra thực tại cho chính mình từ cái - thật của riêng mình. Họ vượt qua sự cưỡng chế của thực tại nhờ tự do nội tâm, trở nên độc lập, đồng thời có thể sống trong thực tại mà không rơi vào xung đột với nó. Lý tưởng của con người sáng tạo là trở thành người mà bản thân anh ta muốn - trở - thành. Ở đây, ý chí được biện minh về mặt cá nhân và về mặt đạo đức. Ở kiểu người này, luân lý - xử thế không còn là những cưỡng chế, chuẩn tắc hay đòi hỏi thuần tuý từ bên ngoài nữa, mà là những lý tưởng tự hình thành bên trong, và được tìm cách điều chỉnh môi trường đồng loại sao cho phù hợp với mình. Việc điều chỉnh này có thể diễn ra rất dữ dội bởi những người hành động thiếu suy nghĩ, hoặc những người có một hệ tư tưởng cải cách - bất kể mang tính giáo dục hay trị liệu, theo nghĩa khoa học hay theo nghĩa tôn giáo. Tuy nhiên, nó cũng có thể mang chiều kích sáng tạo và đạt đến mức cao nhất khi cá nhân tự tạo ra một thế giới cho riêng mình từ chính bản thân và sức mạnh ý chí, mà không áp đặt nó lên người khác - như nghệ sĩ hay triết gia thường làm. Chắc chắn kiểu người sáng tạo dị thường này cũng cố gắng để những sáng tạo của mình được công nhận, nhưng không thông qua cưỡng chế hay bạo lực giống như kiểu cải cách hay trị liệu. Sự thừa nhận này phải tự phát xuất từ cá nhân khi người khác tìm thấy ở người sáng tạo một cái gì đó đồng thanh tương ứng với mình. Kiểu người sáng tạo này tìm thấy sự công nhận trong chính mình, cũng như tìm thấy trong chính mình sự mãn nguyện với nó.
Rốt cùng, bản chất của toàn bộ vấn đề đều tuỳ thuộc vào thái độ của cá nhân với chính mình: Một người có thể chấp nhận mình đến đâu thì sẽ đối xử với thực tại đến đó. Từ vấn đề ý chí này, chúng ta quay lại vấn đề ý thức và hiểu biết có ý thức. Tác giả lại đưa ra ba kiểu tương ứng với 3 loại người kể trên:
(i) Đầu tiên là kiểu “Apollo”: Công thức này dựa trên cái - giống với người khác. Nó ám chỉ phần đạo đức - phẩm hạnh
- hướng mà Socrates theo đuổi, và cho đến nay vẫn là nền tảng của liệu pháp phân tâm học: biết bản thân mình để cải thiện mình (theo các chuẩn mực phổ quát). Do đó, cái tri thức, cái sự - biết mà nó hướng tới không phải vì bản thân, mà vì lẽ thích nghi.
(ii) Nguyên lý thứ hai - “Dionysus”. Trái với sự thích nghi, nó dẫn đến sự huỷ diệt mê loạn. Cái gọi là thật - là - mình, cái con người đấy thật, nếu được tháo cũi sổ lổng, nó không chỉ chống lại xã hội mà còn phi đạo đức, bất tuân chuẩn mực.
(ii)Thứ ba là kiểu Phê phán Lý tính: “Định đoạt bản thân từ chính mình” (Kant), theo nghĩa biết - mình - thực - sự và đồng thời sáng tạo một bản thân đích thật. Ở đây có thể thấy vai trò lịch sử của Kant với tư cách một nhà nhận thức luận và nhà đạo đức học.
Triết lý về sự gắn kết sáng tạo của Rank có thể được coi là hiện sinh và đã vượt ra ngoài Freud. Lý thuyết tâm lý học mang tính nhận thức luận không sai lệch, tức là không mang hơi hướm đạo đức - phẩm hạnh hay tôn giáo như hệ thống lý thuyết của Freud, mà nó phải bắt đầu từ cái điểm Kant đặt vấn đề: Làm thế nào mà cá nhân có thể tự định đoạt bản thân từ chính mình? “Cái tôi sáng tạo” mà Rank đề cập mở ra một lối đi chênh vênh giữa tự ngã và siêu ngã, nhưng cũng là lối khả dĩ đưa con người ra khỏi sự mắc kẹt giữa những bản năng và ước chế xã hội, khỏi căng thẳng giữa trái tim và lý trí. Rốt cục thì lựa chọn đi thẳng vào thực tại áp lực như việc hướng mũi thuyền trực diện con sóng, chính là cách duy nhất để vượt qua. Chúng ta phải học cách sống giữa những trương lực, với sự chia rẽ, xung đột trong chính mình, để đằng sau thực tại bên ngoài là một sự thật nội tâm lấp lánh.
Cr: méo