"Tin vào" và "tin rằng"("Belief in" and Belief-That) H.H.Price viết một chuyên đề(article) quan trọng làm rõ…

Catholic Net · · Đối luận Triết học
"Tin vào" và "tin rằng"("Belief in" and Belief-That)

H.H.Price viết một chuyên đề(article) quan trọng làm rõ ý nghĩa của việc thế nào là "tin"(what it means to believe). Price phân biệt giữa "tin rằng"(believe that) có nghĩa tương đương với một niềm tin dạng mệnh đề(propositional belief) hoặc niềm tin thực tế(factual, có dữ kiện, có căn cứ) và "tin vào"(believe in). Ông cho rằng "tin vào" có hai dạng:---+Dạng quy giản(reducible) của "tin vào": nghĩa là "tin vào" bị quy giản thành "tin rằng". Ví dụ: Tôi tin [vào] các nàng tiên ở trong khu vườn" có thể bị quy giản thành "Tôi tin rằng các nàng tiên ở trong khu vườn". Price quan điểm rằng các "niềm tin" đa số đều duy trì ở dạng này. Ví dụ khác là: Tôi tin vào bánh mì nguyên hạt thành "Tôi tin rằng bánh mì nguyên hạt tốt cho bạn". "Niềm tin Vào Thượng Đế" cũng có bị quy giản thành "Tôi tin rằng Thiên Chúa tồn tại"+Dạng không thể quy giản(irreducible) của "tin vào": tức là "tin vào" không thể bị quy giản thành "tin rằng". Lúc này ta có thể áp dụng một nghĩa có thể đánh giá(evaluative sense) vào các trường hợp như "tin vào một người bạn" có nghĩa là tin chắc(trust) vào người bạn ấy(trust in a friend). Trong lĩnh vực tôn giáo, theo quan điểm này, "Tin vào Thiên Chúa" tương đương với "Tin chắc vào Thiên Chúa" và cách dùng này hoạt động khác với các mệnh đề "tin rằng".---Price cho rằng "Niềm tin vào Thiên Chúa" không thể đơn giản quy giản thành các mệnh đề chấp nhận sự tồn tại của Thiên Chúa. Price tuyên bố rằng niềm tin tôn giáo bao gồm sự tin chắc(trust) và cam kết(commitment) có cấu trúc khác với niềm tin thực tế. Niềm tin thực tế có thể là một phần của niềm tin tôn giáo nhưng nó không đóng vai trò duy nhất hay thậm chí là vai trò quan trọng.--St.James(Gia 2:19) mô tả đúng quan điểm của Price:"You believe in God? You do well, The devils also believe and tremble",Tạm dịch:" Các vị tin [vào] Thiên Chúa ư? Tốt lắm. Quỷ cũng tin và run sợ đấy!"--Nói cách khác quỷ dữ tin [RẰNG] Thiên Chúa tồn tại, nhưng chúng chắc chắn không tin [VÀO] Thiên Chúa theo nghĩa chúng không phó thác sinh mệnh của mình cho Thiên Chúa(trust their lives to God). Để khiến một người tin rằng Thiên Chúa không tồn tại cũng giống như giúp họ tin vào hay tin chắc Thiên Chúa tồn tại. Tin chắc và cam kết với Thiên Chúa có thể được thể hiện qua những người có đầu óc đơn giản, những người có ít kiến thức về tuyên bố(claim,) dạng mệnh đề (VD: Tuyên bố "tin rằng") về bản chất của Thiên Chúa.---Có điểm tương đồng trong triết học của Soren Kiekergaard trong việc phân biệt giữa các tuyên bố khách quan và các tuyên bố chủ quan về chân lý. Phần lớn triết học quan tâm tới việc liệu rằng các mệnh đề là đúng(true) một cách khách quan hay không. Đa số các trường/trường đại học quan tâm tới sự thay đổi về nghĩa(transition) của các tuyên bố thực tế(factual) hay khách quan về tri thức-có một số dạng tuyên bố có thể được truyền đạt trong sách giáo khoa hoặc trong một loạt bài giảng. Một người có thể cho thấy họ biết về các tuyên bố chân lý(truth claims) bằng cách đọc thuộc hoặc áp dụng vào thực tiễn(ví dụ họ có thể chứng minh họ biết cách lái một chiếc máy bay bằng cách lái cho mọi người xem!). Tuy nhiên, vấn đề thực sự quan trọng về các tuyên bố chân lý mang màu sắc tôn giáo, theo Kierkagaard, là chúng không phát triển các bằng chứng hợp lý(rational proofs) rằng Thiên Chúa tồn tại-thực tế ông cho rằng điều này là bất khả thi. Điều tối quan trọng là giúp con người nhận ra rằng cuộc sống tôn giáo là như thế nào và sau đó là dấn thân vào nó. Đọc thuộc lào các tín điều hay giáo lý của Giáo hội không thể hiện người ấy theo đạo-điều này chỉ xảy ra khi các tuyên bố chân lý đã được nội tâm hóa(internalized) và cá nhân chịu ảnh hưởng một cách chủ quan bởi các tuyên bố sẵn có.---Con người đặt cược đời mình vào các tuyên bố tôn giáo thường nghe có vẻ không hợp lý(unreasonable).. Nhưng điều này không có nghĩa họ là những người kẻ ngốc. Một số người trong số các người thông minh nhất đã đặt Thiên Chúa ở trung tâm đời sống của họ và đã cố hết mình sống vâng phục lời Chúa. Nói rằng mấy người như thế thật dễ gạt chỉ vì họ không thể chứng minh được niềm tin của mình là cực kỳ ngây thơ. Kierkagaard đáp trả:-Triết gia có thể là một chuyên gia về các lý thuyết sống còn nhưng ý tưởng về sự sống sau cái chết không ảnh hưởng một cách cá nhân một chút nào.-Chẳng hạn như Socrates đã nói rằng ông không thể chứng minh về tính bất tử của linh hồn nhưng sẵn lòng đánh cược cả cuộc đời mình lên từ "Nếu"(If) mà tuyên bố thoát khỏi cái chết là sự thật.--Một người đánh cược đời mình như thế có thể gần với chân lý hơn những người quan sát vô tư(disinterested observer)- mặc dù, dĩ nhiên điều này có thể là sai lầm. Đây là lí do tại sao những người đánh cược đời mình một cách nghiêm túc với tôn giáo có thể sẽ "ở sâu 70 ngàn dặm dưới lòng biển"-tức là đánh cược đời mình vào các tuyên bố chân lý mà họ biết chúng có thể sai lầm nhưng họ vẫn một lòng tin vào chúng. St. Paul nhận ra điều này khi ngài nói:"Lại nếu Ðấng Christ đã chẳng sống lại, thì sự giảng dạy(teaching) của chúng tôi ra luống công(empty), và đức tin anh em cũng vô ích.(empty, too, your faith)"---St, Paul thừa nhận rằng có khả năng các tuyên bố có thể sai mặc dù ông tin tưởng tuyệt đối rằng chúng là sự thật và sẵn lòng liều chết để bảo vệ đức tin của mình. Có lẽ các tuyên bố tôn giáo chỉ có thể được nhận biết bởi những người dám liều mình thực hiện sứ mệnh tôn giáo, trong khi đó những người quan sát vô tư tất yếu sẽ luôn luôn duy trì góc nhìn đơn thuần mà không có sự hiểu biết sâu sắc.*Nguồn: The thinker's guide to GodNote: Các bản dịch Kinh thánh sẽ khác nhau nên đừng quá chú trọng về câu chữ mà nên tìm hiểu thêm về mặt ngữ nghĩa nằm sau các bản dịch đó.

Cr: Nyxar