ARISTOTLE VÀ MỘT QUỐC GIA MỚI RA ĐỜI CUỘC TÁI NGỘ GIỮA TÂY-ĐÔNG VÀ SỰ SỤP ĐỔ CỦA THIÊN TRIỀU ĐẠI THANH---Các…

Catholic Net · · Đối luận Triết học
ARISTOTLE VÀ MỘT QUỐC GIA MỚI RA ĐỜI

CUỘC TÁI NGỘ GIỮA TÂY-ĐÔNG VÀ SỰ SỤP ĐỔ CỦA THIÊN TRIỀU ĐẠI THANH---Các tu sĩ Dòng Tên đã không trở lại Trung Quốc với số lượng đáng kể cho đến năm 1842. Trong khi đó, người Trung ở Trung Quốc(Middle Kingdom) tiếp tục coi mình là một nền văn hóa vượt trội hơn so với các quốc gia khác[đó là lí do họ đặt tên nước mình là Trung Quốc]. Như hoàng đế Càn Long đã viết cho vua George III một cách cay nghiệt vào năm 1792:--Thiên triều của bọn ta sở hữu tất cả mọi thứ một cách dồi dào và không thiếu thứ gì bên trong biên giới cả. Do đó, không cần thiết phải nhập khẩu hàng hóa của đám man rợ (barbarians) ở ngoài để đối lấy sản phẩm của nước ta. Hơn nữa, triều đại ta, đang thống trị vô số dân tộc trên thế giới, cũng mở rộng lòng nhân từ như nhau đối với tất cả. Nước Anh của ngài không phải là quốc gia duy nhất buôn bán ở Quảng Châu… Ta không bỏ qua sự thiếu hiểu biết [có thể bào chữa] của ngài về việc lợi dụng Thiên triều của bọn ta.[47]---Nói vắn tắt là “bọn ta không cần hàng hóa hay hệ thống niềm tin của các người”. Như đã lưu ý ở đầu chương này, phải đến khi có kết quả tàn khốc của các cuộc Chiến tranh nha phiến năm 1839-42 và 1856-60, người Trung Quốc mới có được sự hiểu biết mới về hoàn cảnh của họ so với phương Tây. Thất bại của Trung Quốc dưới tay người Anh và người Pháp đã buộc họ phải nhượng Hồng Kông cho Anh, hợp pháp hóa việc buôn bán thuốc phiện và mở cửa các cảng cụ thể ở phía tây – phá vỡ huyền thoại về chủ nghĩa biệt lệ(exceptionalism) của Trung Quốc. Nó còn trở nên tồi tệ hơn với việc thất bại của Trung Quốc trong Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ nhất năm 1895. Giữa cuộc nổi dậy Thái Bình [Thiên Quốc] và các cuộc nổi dậy ở đất nước Duy Ngô Nhĩ. Triều đại Mãn Thanh cầm quyền có rất ít tính hợp pháp được lòng người Hán và đất nước đang dần tan vỡ.--Trong bối cảnh biến động xã hội, những lời kêu gọi ngày càng nhiều về các chính sách mới—nhiều chính sách đến từ các trí thức Trung Quốc được đào tạo ở nước ngoài nay đã trở về Trung Quốc—cuối cùng đã thúc đẩy nỗ lực xoa dịu của Hoàng đế Quang Tự thông qua Cải cách Trăm ngày năm 1898.[48] Khi nỗ lực cải cách sụp đổ do các hành động gây kinh hãi của Từ Hi Thái hậu (người đã quản thúc tại gia chính hoàng đế), nhiều người phản đối dữ d nhất đã buộc phải chạy trốn sang Nhật Bản sống lưu vong—nơi họ chờ đợi và viết. Năm 1908, hạ mình trước áp lực ngày càng tăng, chính Từ Hi đã hứa rằng triều đình sẽ áp dụng chế độ quân chủ lập hiến. Để đáp lại, hơn 5.000 hội đồng địa phương đã được thành lập trên khắp Trung Quốc nhằm tạo ra mối liên kết mà trước đây còn thiếu vắng giữa dân thường và triều đình.[49] Nhưng những biện pháp này đã không xoa dịu được những nhà cách mạng muốn lật đổ hoàn toàn vương triều. Trong số đó có Tôn Trung Sơn, người đã lãnh đạo một số cuộc nổi dậy thất bại và cuối cùng đã thành công trong Cách mạng Tân Hợi năm 1911.[50] Hoàng đế trẻ tuổi Phổ Nghi bị lật đổ, và hệ thống vương triều chấm dứt vào năm 1912[51]--Các trí thức và nhà cải cách trẻ của Trung Quốc kêu gọi xây dựng một nước Trung Quốc mới theo thể chế cộng hòa với những giá trị hoàn toàn khác biệt. Họ hoàn toàn không đồng ý với nhau - hàng ngũ của họ bao gồm những người theo chủ nghĩa truyền thống cũng như những người cấp tiến, những người vô chính phủ và những người theo xã hội chủ nghĩa, những người kêu gọi thỏa hiệp với các giá trị văn hóa và chính trị hiện tại cũng như những người kêu gọi những khởi đầu mới. Tất cả mọi người đều cảm nhận được sự cần thiết phải có một sự thay đổi nào đó. Nhưng bản chất các yêu cầu của họ về cơ bản đã được định hình bởi các lý thuyết chính trị phương Tây. Những trí thức này nghiên cứu Montesquieu, Rousseau, Dewey và những người khác để tìm ý tưởng.[52] Họ cũng nghiên cứu Chính trị luận của Aristotle và các tác phẩm triết học và chính trị Hy Lạp khác.[53] Không phải tất cả các văn bản này đều có bản dịch tiếng Trung Quốc—một số văn bản chỉ có thể tiếp cập được thông qua các phiên bản tiếng Nhật—nhưng chúng đã thu hút sự chú ý của nhiều người quan tâm đến các giải pháp thay thế cho hệ thống vương triều. Như Alexander Beecroft viết, “Các nhà cải cách… đã tìm cách giải thích sự sụt giảm uy danh của Trung Quốc so với phương Tây do sự thất bại của các giá trị cổ truyền Trung Quốc và khám phá truyền thống Hy-La như là nguồn gốc của các giá trị (có lẽ là hiệu quả hơn) của phương Tây.”[54]---ĐÓNG GÓP CỦA LƯƠNG KHẢI SIÊU QUA VIỆC GIỚI THIỆU TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA ARISTOTLE. THẦN DÂN GIỜ ĐÂY CHÍNH LÀ CÔNG DÂN!!!---Nhiều trí thức cuối thời nhà Thanh đã gặp những văn bản này khi đi du học ở Mỹ, Anh, Pháp, Đức và đặc biệt là Nhật Bản, quốc gia có nền văn hóa tương tự như Trung Quốc nhưng phát triển xa hơn trên con đường công nghiệp hóa. Ẩn mình trong nơi trú ẩn an toàn của Nhật Bản và cách xa quê hương, một số trí thức nước ngoài danh tiếng nhất đã công khai các tư tưởng của họ về sự cần thiết phải cải cách trước khi nhà Thanh sụp đổ, thường chỉ ra sự yếu kém về công nghệ của Trung Quốc như một dấu hiệu cho thấy những ý tưởng cũ ( và truyền thống) là một trở ngại cho tiến bộ khoa học. Trong số đó có nhà tiểu luận và trí thức có ảnh hưởng lớn Lương Khởi Siêu(Liang Qichao 梁啓超) (1873–1929), người đã chạy trốn khỏi Trung Quốc đến Nhật Bản (cùng với thầy của ông, Khang Hữu Vi-Kang Youwei) sau khi vai trò của ông trong cuộc Cải cách Trăm Ngày thất bại.[55] Ở Nhật Bản, Lương được tự do suy nghĩ và viết. Kết quả là một lượng đáng kinh ngạc các bài viết về thời cổ đại Hy Lạp-La Mã: từ tháng 12 năm 1898 đến năm 1903, Liang đã xuất bản khoảng 30 bài viết về lịch sử và chính trị Hy Lạp và La Mã.[56] Các bài tiểu luận này không hề kén đọc ở Nhật Bản. Tầm ảnh hưởng của Liang đã được mở rộng nhờ việc sử dụng phương tiện truyền thông in ấn và ý tưởng của ông đã đến được với nhiều người ở Trung Quốc đại lục. Tạp chí của ông có tựa đề Tân dân Tùng báo (新民丛报 Xinmin Congbao), xuất bản lần đầu năm 1902, có số lượng phát hành gần 10.000.[57]--Qua nhiều năm bắt đầu từ việc ông là tác giả của bài báo tiếng Trung đầu tiên về Chính trị luận của Aristotle, “Lý thuyết chính trị của Aristotle” (亚里士多德之政治学说 Yalishiduode Zhi Zhengzhi Xueshuo), đăng trên tờ Tân Dân năm 1898, Lương đã dũng cảm giới thiệu các khái niệm từ triết học chính trị cổ điển tới khán giả gồm những nhà cải cách mong muốn suy nghĩ lại về di sản triều đại của Trung Quốc. Lương tin chắc rằng Aristotle là đại diện tốt nhất cho tư tưởng Hy Lạp và do đó đáng mang đến cho người Trung Quốc: Người Athen là đại diện tốt nhất của tư tưởng Hy Lạp; và kiến thức của người Athen tập trung vào các tác phẩm của Aristotle. Vì vậy, bậc thầy Aristotle[58] thực sự là đại diện duy nhất của nền văn minh cổ đại. Thực tế là “chính trị”[59] có thể trở thành môn học riêng của nó và phát triển như vậy để đạt được những đỉnh cao vút trời như ngày nay, cũng phải được ghi nhận là công lao của Aristotle.[60]--Lương đặc biệt ấn tượng với thuật ngữ mà Aristotle sử dụng trong Chính trị luận để mô tả bản chất của công dân và mối quan hệ của họ với thành bang. Quyền công dân và sự tham dự vào thành bang (polis) là điều khiến chúng ta trở thành con người trọn vẹn: về bản chất, con người là “động vật chính trị” (a politikon Zoon), và chỉ khi thỏa lấp bản chất này thì anh ta mới có thể (và tôi dùng từ “anh ta” một cách thận trọng) phát huy hết tiềm năng của mình, bao gồm việc hiểu và áp dụng các khái niệm đạo đức như công lý.[61] Theo nghĩa này, cá nhân con người chỉ là thứ yếu so với thành bang, vì anh ta không thể trở thành con người toàn vẹn nếu không có nó. Như Aristotle đã viết:-- Hơn thế nữa, nhà nước [tức là thành bang] về bản chất rõ ràng có trước gia đình và cá nhân, vì tổng thể tất yếu có trước bộ phận; ví dụ như toàn thân bị hủy hoại thì không có chân tay… Bằng chứng cho thấy nhà nước là sản phẩm của tự nhiên và có trước cá nhân, rằng là khi cá nhân bị cô lập thì không thể tự cung tự cấp được; và do đó anh ta giống như một bộ phận trong mối quan hệ với tổng thể. Nhưng kẻ không thể sống trong xã hội, hoặc không có nhu cầu cho sự sung túc của bản thân, thì phải là một con thú hoặc một vị thần: anh ta không phải là thành viên của một nhà nước.[62]--Những ý tưởng - về công dân tự nhiên và nhà nước tự nhiên - quen thuộc ở phương Tây; chúng đứng gần điểm khởi đầu của truyền thống tư tưởng chính trị của chúng ta. Trung Quốc không có điểm chung với những ý tưởng như vậy. Ảnh hưởng mang tính biến chuyển của những ý tưởng Aristotle này là nền tảng cho phần lớn những gì Lương sẽ viết, và tác động của chúng rất ấn tượng. Cả trong tiểu luận về Aristotle lẫn trong một trong những tiểu luận nổi tiếng nhất của ông trong tuyển tập Xinmin Shuo—Thuyết Tân Dân, 新民说—Lương đã áp dụng ý nghĩa của từ tiếng Trung còn sót tại 国民 (guomin-quốc dân) có nghĩa là, không phải là “nhân dân[hoặc thần dân, ám chỉ nhân dân dưới quyền vua] của một đất nước”(subjects of a country) như đã được hiểu trước đó, mà đúng hơn là “công dân của một đất nước”(citizens of a nation), tạo ra sự tương đồng với “công dân” trong Chính trị luận của Aristotle.[63]--Đối với nhiều người Trung Quốc, “công dân” là một ý tưởng hoàn toàn mới. Mặc dù các nhà lý thuyết chính trị phương Tây từ Aristotle và Cicero đến Machiavelli đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tham gia chính trị, nhưng những người theo Nho giáo truyền thống (những người chưa từng đọc những văn bản này) coi sự phát triển đạo đức cá nhân và nghĩa vụ gia đình là những trách nhiệm quan trọng hơn nhiều của con người. Khi ca ngợi ý tưởng của Aristotle về công dân, Lương đã đi ngược lại cốt lõi của truyền thống hàng ngàn năm, cả với ý tưởng về công dân lẫn với lời giải thích sâu hơn rằng công dân có quyền và thậm chí có nghĩa vụ tham gia vào các quy trình lập pháp, hành pháp, tư pháp của nhà nước và đảm nhiệm bất kỳ vị trí nhà nước nào mà không bị hạn chế.[64]Còn tiếpTrích Plato đến chơi Trung Hoa

Cr: Nyxar