TỔNG LUẬN THẦN HỌC - THOMAS AQUINAS_Một dẫn nhập BỐI CẢNH GIAI ĐOẠN TRƯỚC THỜI KỲ CỦA THÁNH AQUINAS---Với sự…
BỐI CẢNH GIAI ĐOẠN TRƯỚC THỜI KỲ CỦA THÁNH AQUINAS---Với sự thống trị của chủ nghĩa Plato trong tư tưởng Ki-tô giáo, Aristotle với triết học tự nhiên của ông phải đối mặt với sự cấm đoán của Giáo hội. Ông là một ngoại nhân(pagan) vốn có thể đe dọa thẩm quyền của Giáo hội về một số vấn đề triết học cũng như những hiểu lầm về phiên bản Aristotle của Ả-rập, Hồi giáo. Vì thế, vào năm 1210 một lệnh cấm đã được áp dụng, họ cấm việc đọc và giảng dạy về Aristotle về chủ đề triết học tự nhiên. Lệnh cấm khác tiếp tục được ban hành vào năm 1215 và bởi giáo hoàng Gregory vào năm 1231. Tuy nhiên mối quan tâm chung về Aristotle thúc ép Gregory thành lập một ủy ban để xem xét các công trình của Aristotle và dẹp sạch các yếu tố có vấn đề về mặt lý luận thần học.--Trớ trêu thay, lệnh cấm triết học tự nhiên của Aristotle thực tế lại khuyến khích việc nghiên cứu về nó, biến nó trở thành một trái cấm triết học. Lệnh cấm chỉ áp dụng với Viện đại học Paris, vì thế các viện đại học khác tự do cung cấp các bài giảng về Aristotle, và điều này được dùng như một chiêu trò buôn bán để lôi kéo sinh viên. Hơn thế nữa, lệnh cấm chỉ áp dụng lên mỗi triết học tự nhiên vậy nên logic học của Aristotle mặc cho gắn kết mật thiết với hệ thống triết học tự nhiên, vẫn được nghiên cứu. Nhu cầu nghiên cứu về Aristotle ngày càng lớn khiến số lượng văn bản và học giả cũng tăng gấp đôi. Cuối cùng, vào năm 1255, phòng ban Nghệ thuật Paris thông qua các quy chế mới trong đó việc giảng dạy Aristotle không chỉ được chấp nhận mà còn mang tính bắt buộc trong giáo dục khai phóng. Các công trình của Aristotle từ ngoài vòng pháp luật nay đã trở thành kiến thức bắt buộc chỉ trong vòng 45 năm.---TRIẾT HỌC KINH VIỆN, CHỦ NGHĨA DUY DANH VÀ CHỦ NGHĨA DUY THỰC---Thuyết duy thực thời Trung đại là một trường phái triết học khẳng định rằng những cái phổ quát (universalia) - những khái niệm chung như "con người", "loài", "màu sắc", v.v. - có một sự tồn tại thực tế và độc lập với các cá thể cụ thể. Các nhà duy thực thời Trung đại tin rằng những cái phổ quát này là những thực thể tinh thần hoặc hình thức được tạo ra bởi Chúa Trời.Có hai loại thuyết duy thực thời Trung đại chính:Thuyết duy thực cực đoan (extreme realism): Cho rằng những cái phổ quát tồn tại độc lập với các cá thể cụ thể và có trước chúng. Ví dụ: con người được tạo ra theo hình ảnh của một ý tưởng phổ quát về "con người" đã tồn tại từ trước khi con người đầu tiên được sinh ra.Thuyết duy thực ôn hòa (moderate realism): Cho rằng những cái phổ quát tồn tại trong các cá thể cụ thể, nhưng không giống hệt với chúng. Ví dụ: con người cá biệt có một bản chất phổ quát là "con người", nhưng bản chất này được thể hiện theo những cách khác nhau ở mỗi cá nhân.Thuyết duy danh là một trường phái triết học khẳng định rằng những cái phổ quát chỉ đơn giản là những cái tên hoặc nhãn hiệu mà chúng ta sử dụng để phân loại các cá thể cụ thể. Các nhà duy danh tin rằng không có những thực thể tinh thần hoặc hình thức nào tồn tại độc lập với các cá thể cụ thể.Có hai loại thuyết duy danh chính:Thuyết duy danh (nominalism): Cho rằng những cái phổ quát chỉ đơn giản là những cái tên mà chúng ta sử dụng để phân loại các cá thể cụ thể. Ví dụ: từ "con người" chỉ đơn giản là một nhãn hiệu mà chúng ta sử dụng để nhóm các cá thể có những đặc điểm nhất định lại với nhau.Thuyết duy niệm (conceptualism): Cho rằng những cái phổ quát là những khái niệm mà chúng ta sử dụng để hiểu thế giới xung quanh. Tuy nhiên, các khái niệm này không có một sự tồn tại thực tế độc lập với các cá thể cụ thể. Ví dụ: khái niệm "con người" là một cách suy nghĩ về những cá thể có những đặc điểm nhất định, nhưng khái niệm này không có một sự tồn tại thực tế độc lập với những cá thể cụ thể này.---
NGŨ ĐẠO/NĂM CON ĐƯỜNG CHỨNG MINH THIÊN CHÚA HIỆN HỮU---Đối với Aquinas, lý tính tự nhiên(triết học) không xung đột với đức tin(Thánh Kinh). Phương pháp thứ nhất cung cấp cho ta những công cụ để biết thêm về Thiên Chúa trong khi đức tin thông qua mặc khải giúp ta biết rằng Ngài thực sự tồn tại. Sau đây là trích dịch lập luận đã được tóm gọn của thánh Thomas Aquinas đã triển khai trong Tổng luận thần học để chứng minh Thiên Chúa tồn tại:
1. Đối với bất kỳ thứ gì chúng ta biết từ kinh nghiệm(đá, cây, chó, con người,v.v..), cần có một sự phân biệt giữa yếu tính(essence) và tồn tại(existence) của nó.2. Nếu đây không phải là một sự phân biệt thực sự(real)-sự phân biệt giữa các khía cạnh của thực tại chứ không chỉ đơn thuần là giữa các tư tưởng và cách nói về thực tại-vậy thì ta có thể biết rằng liệu một thứ(a thing) có tồn tại hay không chỉ bằng cách nhận biết yếu tính của nó.3. Nhưng chúng ta không thể biết liệu rằng một thứ có tồn tại hay không chỉ bằng cách nhận biết yếu tính của nó.4. Nếu không có một sự phân biệt thực sự, vậy thì các sự vật(things) chúng ta biết từ kinh nghiệm phải tồn tại một cách tất yếu thay vì chỉ tồn tại một cách có thể có(contigent, tức là tồn tại lệ thuộc, ngẫu nhiên dựa vào một tồn tại tất yếu)5. Nhưng trên thực tế, chúng chỉ tồn tại một cách có thể có chứ không phải theo một cách tất yếu.6. Về nguyên tắc, nếu có thể có nhiều hơn một thứ mà yếu tính của nó đồng nhất(identical) với tồn tại của nó, vậy thì hai hoặc nhiều vật như vậy có thể được phân biệt tương tự như các loài(species) của cùng chủng(genus) được phân biệt, hoặc phân biệt theo một cách nào đó khác.7. Nhưng chúng không thể được phân biệt theo bất kỳ cách nào trong số này.8. Vì thế, về nguyên tắc, không thể có nhiều hơn một vật(>1) mà yếu tính của nó đồng nhất với tồn tại của nó.9. Vì thế, đối với bất kỳ thứ gì chúng ta biết từ kinh nghiệm, nếu sự phân biệt giữa yếu tính và tồn tại của nó không phải là sự phân biệt thực sự, vậy thì về nguyên tắc không thể có nhiều hơn một vật10. Nhưng trên thực tế, đối với mỗi thứ mà chúng ta biết từ kinh nghiệm, đều có hoặc có thể có nhiều hơn một trong thứ đó.11. Vì thế, đối với mỗi thứ chúng ta biết từ kinh nghiệm,, sự phân biệt giữa yếu tính và tồn tại của nó là sự phân biệt thực sự.12. Đối với bất kỳ thứ gì mà yếu tính của nó thực sự phân biệt với tồn tại của nó, tồn tại của nó phải được truyền cho nó bởi chính nó hoặc bởi một nguyên nhân nào đó khác biệt với nó.13. Nhưng nếu nó truyền đạt sự tồn tại cho chính nó, nó sẽ là nguyên nhân của chính nó.14. Không có gì có thể là nguyên nhân của chính nó.15. Vì thế, nó không thể truyền đi sự tồn tại cho chính nó16. Vì thế, đối với bất kỳ thứ gì mà yếu tính của nó thực sự phân biệt với tồn tại của nó, tồn tại của nó phải được truyền cho nó từ một vài nguyên nhân khác biệt với nó17. Bởi vì yếu tính và tồn tại của nó vẫn thực sự phân biệt tại mọi thời điểm mà nó tồn tại, bao gồm thời điểm tại đây và ngay lúc này, tồn tại của nó phải được truyền cho nó bởi một vài nguyên nhân khác biệt với nó tại mọi thời điểm mà nó tồn tại, bao gồm cả thời điểm tại đây và ngay bây giờ.18. Vì thế, đối với mỗi thứ ta biết từ kinh nghiệm, tồn tại của nó phải được truyền cho nó từ một nguyên nhân khác biệt với nó vào mọi thời điểm nó tồn tại, bao gồm thời điểm tại đây và ngay bây giờ.19. Hoặc nguyên nhân này tự nó là thứ gì đó mà yếu tính của nó phân biệt với tồn tại của nó, hoặc nó là thứ gì đó mà yếu tính và tồn tại của nó đồng nhất, thứ gì đó tồn tại tự tồn(subsistent existence itself)20. Nếu nguyên nhân này là một cái gì đó mà yếu tính của nó phân biệt với tồn tại của nó, vậy thì sự tồn tại của chính nó cũng phải được truyền cho nó bởi một nguyên nhân nào đó khác biệt với nó tại mọi thời điểm nó tồn tại, bao gồm thời điểm tại đây và ngay bây giờ.21. Chuỗi nhân quả(casual series) mà điều này tạo ra sẽ là một chuỗi có thứ bậc(hierachial), không thể hồi quy vô hạn nhưng phải có thành viên đầu tiên(first member).22. Thành viên đầu tiên này chỉ có thể là một thứ gì đó có yếu tính và tồn tại đồng nhất, một cái gì đó chính là tồn tại tự tồn.23. Vì thế, cho dù trực tiếp hay gián tiếp, mỗi thứ chúng ta biết từ kinh nghiệm đều có sự tồn tại của nó truyền cho chính nó tại mọi thời điểm mà nó tồn tại, bao gồm thời điểm tại đây và ngay bây giờ, bởi một nguyên nhân nào đó mà yếu tính và sự tồn tại của nó đồng nhất, một điều gì đó chính là sự tồn tại tự tồn.24. Về nguyên tắc, vì không thể có nhiều hơn một thứ mà yếu tính của nó đồng nhất với sự tồn tại của nó, nên nguyên nhân vốn là sự tồn tại tự tồn này là duy nhất(unique).25. Bởi vì nó là duy nhât nên bất kỳ thứ gì khác ngoài nó tồn tại đều phải là tứ gì đó mà yếu tính của nó phân biệt với tồn tại của nó.26. Bất cứ thứ gì mà yếu tính của nó phân biệt với tồn tại của nó sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp được truyền cho nó sự tồn tại bởi một nguyên nhân chính là sự tồn tại tự tồn.27. Vì thế, nguyên nhân duy nhất này, bản thân sự tồn tại tự tồn , là nguyên nhân của mọi thứ khác ngoài chính nó.28. Vì bất kỳ thứ gì thiếu sự phân biệt thực sự giữa yếu tính của nó và sự tồn tại của nó sẽ tồn tại tất yếu(necessary) chứ không phải có thể có(contingent), nên nguyên nhân duy nhất này là sự tồn tại tự tồn tồn tại tất yếu.29. Bất kỳ thứ gì tồn tại tự thân tự tồn không cần và không thể có nguyên nhân của riêng nó.30. Vì thế, nguyên nhân duy nhất vốn là tồn tại tự tồn là không có nguyên nhân.31. Nếu tồn tại tự tồn đó có một tiềm thể(potentiality) nào đó cần được hiện thực hóa(actualized) để tồn tại, vậy thì sự tồn tại sẽ phải được truyền cho nó bởi một nguyên nhân nào đó32. Vì thế, sự tồn tại tự tồn đó không có tiềm thể cần phải hiện thực hóa để tồn tại, mà nó tồn tại theo cách thuần túy có thực/hiện thực(purely actual way).33. Bất kỳ thứ gì thuần túy hiện thức phải bất biến, vĩnh cửu, phi vật chất, vô hình, hoàn hảo, toàn năng, toàn thiện, thông minh và toàn tri.34. Vì thế, mỗi sự vật trong kinh nghiệm của chúng ta có tồn tại của chính nó được truyền cho chính nó tại mỗi thời điểm bởi một nguyên nhân đó là Tồn tại Tự tồn, một nguyên nhân không có nguyên nhân(uncaused cause) tồn tại tất yếu của tất cả mọi thứ trừ chính nó, thuần túy hiện thực, bất biến, vĩnh hằng, phi vật chất, vô hình, hoàn hảo, toàn năng, toàn thiện, thông minh và toàn tri.35. Nhưng để có một nguyên nhân như vậy thì Thiên Chúa phải tồn tại.36. Vì thế, Thiên Chúa tồn tại.---TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ VÀ “TRẬT TỰ TỒN TẠI VĨ ĐẠI”(THE GREAT CHAIN OF BEING)---Vị tiến sĩ thiên thần của chúng ta ngoài việc đem học thuyết của Aristotle để làm nền tảng cho tác phẩm Tổng luận của mình. Ông còn chịu ảnh hưởng của Plato, Aristotle và thánh Augustine về triết học chính trị. Học thuyết “Trật tự tồn tại vĩ đại” cho rằng có một trật tự có thứ bậc đã được THIẾT KẾ hoàn hảo bởi bàn tay của Chúa. Việc của mọi người là an phận thủ thường trong các vị trí đã được chỉ định. Người nào làm vua thì làm vua thật tốt, người nào làm nô lệ thì làm nô lệ thật tốt. Ta có thể thấy thoáng qua các ý tưởng của CN khắc kỷ lẫn hệ thống giai cấp vàng, bạc và đồng của Plato. Quan điểm này rất nguy hiểm bởi lẽ nó sẽ được mở rộng phát triển thành học thuyết “Các quyền thiêng liêng của vua chúa” theo cách nói của phương Đông tức chân mệnh thiên tử. Từ đó biện minh cho chủ nghĩa tuyệt đối quyền lực Ki-tô giáo sau này hình thành nên các xã hội phong kiến phương Tây.---LUẬT TỰ NHIÊN CHO ĐẾN LUẬT QUỐC TẾ---Thánh Thomas liệt kê 4 loại luật: Luật vĩnh hằng(Eternal law), Luật tự nhiên(natural law), Nhân luật/Luật con người(Human law) và cuối cùng là Thần luật/Luật thiêng(Divine Law). Tại sao con người tạo ra luật pháp? Ông suy ngẫm về vấn đề này như sau: Trong bản tính con người có rất nhiều sức mạnh tiềm tàng. Điều này cần được hướng theo các kênh đúng đắn và nó cần có thêm một KỶ LUẬT nhất định; vì con người rất dễ hành động một cách tùy tiện hoặc vì sự ham muốn vô độ. Có luật pháp, ở đây thánh Thomas trích dẫn từ Aristotle, con người sẽ là một tồn tại cao cả đích thực, không có luật pháp thì chỉ là loài thú mà thôi.Kể từ thời cổ đại, lý tính, nếu được ân phú với sự lành mạnh, đúng mực, sẽ dẫn con người đến với luật vũ trụ và trật tự tự nhiên. Mọi nhân luật, nếu nó thực sự công chính và không đơn thuần là một biện pháp cưỡng chế, thì nó buộc phải rút ra từ luật tự nhiên-qua đó dẫn đến luận điểm của thánh Thomas-vì Luật tự nhiên là luật thứ nhất của Lý tính. Nhân luật thực định(positive human law), theo thánh Thomas, là một diễn giải về Luật tự nhiên. Những luật vĩnh cữu dành cho con người, vốn lồng trong trật tự mang tính siêu hình của thế giới, nên được thể hiện phù hợp và nên được khai triển trọn vẹn. Theo cách này, con người sẽ có thể khám phá ra tồn tại và bản chất đích thực của mình, cũng như sẽ được lãnh đạo trong hành xử đúng đắn của đời sống. Ta đã cho thấy luật tự nhiên là cốt ở điều gì.Chính Luật tự nhiên đặt cương lĩnh cho Luật quốc tế. Vì thế thánh Thomas cho rằng luật pháp không chỉ là vấn đề của quyền lực mà xét về bản chất, là một mệnh lệnh của lý tính, nên một mặt, ông có thể thành công trong việc bác bỏ sự phản đối thường được đưa ra là phía sau luật quốc tế, không có bất kỳ lực lượng nào có thể thực thi các điều khoản của nó, và như vậy, nó không phải là luật pháp dù hiểu theo bất kỳ nghĩa nào, đồng thời, mặt khác, nó vô hình.Và để kết thúc phần tóm tắt sau đây, hãy xem qua định nghĩa của thánh Thomas về luật pháp: “Luật pháp không gì khác hơn là sắc lệnh của Lý tính đối với lợi ích toàn thể(common good) được tạo ra bởi kẻ chăm lo cho cộng đồng, được công bố chính thức”---LỜI KẾT---Trong Lịch sử triết học phương Tây, Bertrand Russell mặc dù ngưỡng mộ về khả năng tổng hợp, đưa ra các luận cứ vô cùng chặt chẽ và sắc bén của thánh Thomas. Nhưng ông không cho rằng Thomas Aquinas phải là một triết gia hàng đầu. Điều ông làm tựa như một nhà bình chú(Commentator) hơn là một hoạt động tư duy sáng tạo. Nhưng dù sau hoạt động trí tuệ của ông vẫn để lại một di sản phong phú cho Ki-tô giáo cũng như là một nỗ lực hòa giải giữa Lý tính và Đức tin.Nguồn:
[1]. Lịch sử triết học phương Tây-Johannes Hirschberger[2]. Năm luận chứng về sự tồn tại của Thượng Đế-Edward Feser[3].Lịch sử triết học phương Tây-Bertrand RussellTỔNG LUẬN THẦN HỌC, Thomas Aquinas
Cr: Nyxar