VAI TRÒ GIỚI: BẢN CHẤT TỰ NHIÊN HAY DO ĐƯỢC NUÔI DẠY? - Camille Paglia V. Janes Flax Nguồn: [Janus Forum…
Nguồn: [Janus Forum Debate, Political Theory Institute, American University, Washington, D.C., October 8, 2013]--Camille Paglia, phát biểu mở màn: Bản chất tự nhiên(nature) hay được nuôi dạy? Câu hỏi đưa ra nhiều vấn đề cấp bách của thời đại chúng ta—từ nguồn gốc của tội phạm đến tính hợp pháp của các bài kiểm tra trí thông minh cho đến các định nghĩa về giới tính. Cuộc tranh cãi về bản chất tự nhiên và nuôi dạy có thể được truy nguồn từ Chủ nghĩa Lãng mạn(Romanticism) vào cuối thế kỷ 18, khi Jean-Jacques Rousseau và môn đồ của ông, nhà thơ William Wordsworth, định nghĩa "tự nhiên" là "tốt" và "xã hội" là "xấu", gốc rễ của những viễn tượng áp bức làm lu mờ tư duy của chúng ta và bóp méo hành vi của chúng ta. Rousseau chịu trách nhiệm trên hết về cách tiếp cận vẫn còn phổ biến trong số những người theo CN hậu hiện đại(post-modernism) và hậu cấu trúc(post-constructivism) ngày nay, những người tin rằng chúng ta được sinh ra là "những cái bảng trắng"(blank slates) và những định kiến, bao gồm cả những giả định về giới chuẩn tắc(normative gender assumption), được “ghi khắc” lên chúng ta bởi những áp lực xã hội được chuyển tải thông qua những cấu trúc ngôn từ tùy tiện và trơn trượt.-Suy nghĩ của riêng tôi về vấn đề giữa "những đặc điểm bẩm sinh"(innate) đối đầu với "những đặc điểm được học hỏi"(learned traits) này mang ơn rất nhiều từ CN lãng mạn. Nhưng tôi có quan điểm Hậu-Lãng mạn(Post-Romanticism), gắn liền với những Người suy đồi(Decadents) từ giữa đến cuối thế kỷ 19 như Charles Baudelaire và Oscar Wilde, những người coi "thiên nhiên" là một thế lực cơ khí tuy đẹp đẽ nhưng tàn bạo mà chúng ta buộc phải chống lại và thách thức thông qua những hoán vị không ngừng phát triển của văn hoá. Tiền thân của dòng CN lãng mạn đồi bại này không phải là Rousseau mà là Hầu tước de Sade[ND: Ổng được đặt tên cho chứng ác dâm hay bạo dâm, Sadism, từ S trong BDSM là từ ông này ra), người có những tác phẩm đồ sộ có ảnh hưởng rộng lớn, bao gồm cả Nietzsche, người mà Michel Foucault, vị thần của chủ nghĩa hậu cấu trúc(Post-Structuralism), tuyên bố là hình mẫu của ông.-Tôi đã lập luận trong quyển sách đầu tay của tôi, Sexual Personae-quyển sách là một phần mở rộng luận án tiến sĩ của tôi, rằng "sự đồng nhất lịch sử và huyền thoại"(historical and mythological identification) của phụ nữ với tự nhiên là đúng-dựa trên các dữ kiện sinh học mà mà chúng ta có thể thấy khó chấp nhận trong thời kỳ giải phóng này nhưng điều đó cho đến nay khoa học vẫn chưa thể gạt bỏ hoặc sửa đổi nó. Nhưng đạt được vị trí gây nhiều tranh cãi đó là kết quả của một quá trình quan sát, tìm sâu và phản bác lâu dài. Thật vậy, trong thời niên thiếu của tôi ở ngoại ô New York, tôi đã giận dữ giữ một quan điểm hoàn toàn trái ngược, mà cuối cùng tôi buộc phải từ bỏ sau quá trình nghiên cứu sâu rộng mà tôi đã thực hiện về cả sinh học và nhân chủng học cho luận án của mình.-Tôi đã lớn lên như một " baby-boomer" trong những năm 1950 theo conformist(tạm thời ko biết dịch), khi vai trò giới tính bị phân cực rõ ràng. Đàn ông là đàn ông và phụ nữ là phụ nữ, với quy định về trang phục hà khắc và các quy tắc ứng xử cho từng giới. Mãi về sau, tôi mới trở nên thông cảm hơn với khao khát về một sự ổn định dễ chịu của thế hệ cha mẹ chúng tôi, những người đã phải chịu đựng những căng thẳng và hy sinh đau thương của cuộc Đại suy thoái và Thế chiến thứ hai. Nhưng các lựa chọn cho các cô gái trong những năm 1950 rất hạn chế. Họ được cho là sẽ hẹn hò và trở thành vợ và mẹ, và có rất ít nghề nghiệp thích hợp cho phụ nữ ngoài nghề thư ký, giáo viên trường công hoặc nữ tu sĩ Công giáo La Mã. Bầu không khí ngột ngạt đối với bất kỳ cô gái nào có tham vọng hoặc tinh thần cạnh tranh, điều này được coi là "không nữ tính".-Một "khung lề sinh học"(biological paradigm) chắc chắn đã định hình những thái độ đó. Ví dụ, các bé gái liên tục được tặng búp bê - với giả định rằng các bé gái cần những thứ này và hoan nghênh việc thực hiện bản năng nuôi dưỡng bẩm sinh của mình. Bản thân tôi coi trận mưa búp bê này như một bệnh dịch hoặc sự phá hoại. Tôi muốn kiếm, giáo và hiệp sĩ mặc áo giáp! Và tôi đã báo hiệu sự nổi loạn của mình bằng một loạt trang phục Halloween của người chuyển giới rất lập dị dành cho trẻ em vào những năm 1950.-Các giả định sinh học đã được thực thi(enforced) ở trường. Các cô gái không được khuyến khích tham gia các bài học đánh trống trong lớp âm nhạc vì cho rằng họ không đủ sức để cầm gậy hoặc mang trống lẫy qua sân bóng. (Vì vậy, tôi bị mắc kẹt với kèn clarinet, thứ mà tôi đã chơi rất tệ trong tám năm trong ban nhạc của trường cho đến khi tốt nghiệp.) Trong lớp thể dục, các cô gái được cho là quá mỏng manh để tập thể dục cường độ cao. Do đó, chúng tôi không được phép chơi bóng rổ toàn sân mà phải dừng lại (rất khó khăn) ở vạch giữa sân và chuyền bóng cho một cầu thủ khác ở phía bên kia. Vì vậy, nếu với tư cách là một người bảo vệ, tôi cướp bóng ở một đầu sân, tôi không thể ném bom xuống đầu kia để ném rổ. Những biện pháp bảo vệ mang tính gia trưởng(paternalistic) này đã gây phẫn nộ.-Học thuyết sinh học được thể hiện rõ ràng trong một sự cố ở trường tiểu học của tôi, khi bọn con gái lớp năm chúng tôi gây gổ với các bạn gái lớp sáu vào giờ ra chơi (từ vụ đó, tôi bị đánh bại với một chiếc răng sứt mẻ). Khi cấm túc tôi trong hai tuần, giáo viên chủ nhiệm đã nghiêm khắc khiển trách tôi vì đã đấm vào bụng một cô gái khác, một hành vi xúc phạm nghiêm trọng và nguy hiểm bởi vì, tôi được cho biết, tôi có thể đã làm tổn thương cơ quan sinh sản mỏng manh của cô ấy—một yêu sách mà theo thời gian dường như nghi vấn về mặt y học.-Sự giải cứu khỏi địa ngục giới tính này đến từ nghiên cứu—câu thần chú của tôi(my mantra)! Năm 1961, ngay trước khi bước vào trường trung học, tôi thấy một bài viết về Amelia Earhart trên tờ báo địa phương, bài báo này đã thôi thúc tôi thực hiện một dự án mang tính ám ảnh kéo dài ba năm về cuộc đời và thời đại của cô ấy. Khám phá những tập báo và tạp chí cũ nát trong tầng hầm đầy bồ hóng của thư viện công cộng Syracuse, tôi phát hiện ra một thời đại hoàn toàn khác, những năm 1920 và 1930, khi làn sóng nữ quyền đầu tiên đã truyền cảm hứng cho một loạt phụ nữ thành công phi thường trong lĩnh vực công cộng— từ chính Earhart đến Dorothy Parker, Dorothy Thompson, Lillian Hellman, Margaret Bourke-White, Clare Boothe Luce và Katharine Hepburn, những người mà tôi đã bắt gặp trên những bộ phim cũ đã bị bỏ quên trên TV đêm khuya. Đó là một sự mặc khải. Nó dường như chứng minh rằng các tiêu chuẩn về giới tính có thể thay đổi và phụ thuộc vào các điều kiện xã hội. Sau này, tôi sẽ hiểu thêm về các lực lượng lớn hơn đang hoạt động trong thời kỳ đó, trên hết là cuộc nổi dậy chống lại chính quyền đã tiếp sức cho Thời đại nhạc Jazz trơ trẽn sau những thất bại về thể chế dẫn đến thảm họa của Thế chiến thứ nhất. CN trọng nghề(careerism) mạo hiểm của những người phụ nữ độc thân đó trong nhiều trường hợp là sự đảo ngược có tính toán các quy ước thời Victoria, vốn đề cao sự thận trọng, khuôn phép và tôn vinh thiên chức làm mẹ.-Tuy nhiên, trong suốt từ đầu đến giữa những năm 1960, tôi đã đồng thời quan sát quá trình dậy thì phức tạp của bản thân và bạn bè của tôi, cả nam và nữ, cũng như các hoạt động mang thai, sinh nở và chăm sóc trẻ sơ sinh giữa đại gia đình của tôi và những người khác. Đối với tôi, dường như có những vấn đề quan trọng, rắc rối và thậm chí khó giải quyết trong sinh lý con người mà chúng ta có rất ít hoặc không kiểm soát được. Do đó, mối quan hệ giữa "bản chất tự nhiên" và "được nuôi dạy" ngày càng trở nên có vấn đề đối với tôi. Thái độ khước từ trước đây của tôi đối với sinh học đã được chứng minh là không thể giải quyết được.-Các chương trình nghiên cứu về phụ nữ đã vội vã ra đời vào những năm 1970 một phần do áp lực quốc gia phải bổ sung thêm phụ nữ vào các khoa thường chỉ toàn nam giới một cách đáng xấu hổ. Các nhà quản lý chuyển tiền cho các chương trình mới này ít quan tâm đến việc duy trì tính nghiêm ngặt của học thuật hơn là giải quyết một vấn đề hóc búa về quan hệ công chúng. Do đó, các nghiên cứu về phụ nữ ngay từ đầu đã bị đóng băng nhanh chóng ở giai đoạn đầu của ý thức hệ, thứ có thể được mô tả là CN môi trường xã hội hiếu chiến(militant social environmentalism). Theo quan điểm của tôi, môn sinh học và nội tiết nên được xây dựng thành các khóa học bắt buộc trong chương trình giảng dạy của mọi chương trình nghiên cứu về phụ nữ trong nước. Lý thuyết hóa về giới tính phải bắt đầu từ nền tảng đó, ngay cả khi sinh học sau cùng bị giảm thiểu hoặc bị bác bỏ hoàn toàn. Thay vì khuyến khích tìm hiểu học thuật và tư duy tự do, các chương trình nghiên cứu về phụ nữ đã bắt đầu một cách tiên nghiệm từ một chương trình nghị sự đã được kết tinh(crytallized agenda). Không được phép đi chệch khỏi đường lối của đảng, rằng tất cả sự khác biệt về giới tính là do chế độ phụ hệ, với sự nô dịch và lạm dụng phụ nữ của nam giới.-Sự xuất hiện của các cách tiếp cận phức tạp hơn, chẳng hạn như CN nữ quyền Pháp theo CN hậu cấu trúc vào giữa những năm 1970 và CN nữ quyền “khác biệt”(difference feminism) vào đầu những năm 80, đã mang lại rất ít thay đổi, bởi vì cả hai đều lảng tránh các dữ kiện sinh học hoặc bỏ qua chúng hoàn toàn[ND: Nếu đọc các văn bản của nữ quyền thì họ chỉ đơn giản bảo là: "chúng tôi tin rằng có sự khác biệt về sinh học nhưng... xong rồi họ sẽ không hề đề cập nó một lần nào nữa. Hoặc đơn giản hơn là bác bỏ nó ngay từ đầu]. Các học giả nam, cảm nhận được gió thổi theo hướng nào, đã miễn cưỡng thách thức cấu trúc quyền lực mới và thu mình lại vì sợ bị gán cho là "phân biệt giới tính"(sexism) và thụt lùi. Lịch sử sẽ không nhân từ với sự rụt rè và hèn nhát của họ. Có một sự thờ ơ đáng khinh bỉ trong đó - “Hãy để phụ nữ tạo sân chơi(sand box) của riêng họ và chơi trong đó.” Do đó, các nghiên cứu về phụ nữ và chương trình giảng dạy nghiên cứu về giới sau này đã phát triển một cách tự chủ, chiến đấu với chính nó và tạo ra quy chuẩn quốc tế của riêng mình, được bảo vệ khỏi thách thức từ những tiếng nói bên ngoài và thậm chí từ những nhà nữ quyền bất đồng chính kiến như tôi.[ND: ý bà đang chỉ trích việc phụ nữ thống trị ngành nữ quyền với quyền lực tuyệt đối vào tay phụ nữ và chính nam giới đã rụt rè lảng tránh nó từ đầu, cái giá phải trả là sự thống trị không thể lật đổ nữa].-Nhưng những hậu quả thực tế của việc loại trừ hoàn toàn sinh học này khỏi tư duy xã hội đương đại vẫn tiếp tục nhân lên. Ví dụ, CN nữ quyền của làn sóng thứ hai mang tội lỗi về sự vô tâm và đối với tôi, sự chê bai vai trò làm mẹ là phản tác dụng[ND: đoạn này dịch hơi thô nhưng bỏ qua được). Giọng điệu cho điều này được đặt ra bởi cuốn sách bán chạy nhất năm 1963 của Betty Friedan, The Feminine Mystique(Bí ẩn nữ tính), một bức chân dung hơi giật gân và không có nguồn gốc đáng ngờ về cuộc sống khốn khổ của những bà nội trợ ngoại ô giàu có buồn chán. CN nữ quyền của làn sóng thứ hai tôn vinh người phụ nữ có nghề nghiệp và coi người mẹ ở nhà nội trợ là kẻ phản bội chính nghĩa. Điều này cuối cùng khiến bản thân Friedan không thoải mái, và cô ấy đã cố gắng hướng CN nữ quyền trở lại mối quan tâm của phụ nữ dòng chính một cách vô ích. Cô ấy đã phải chịu sự chia rẽ gay gắt từ NOW, một phần là do điều mà cô ấy gọi là “mối đe dọa từ hoa oải hương” — nghĩa là, những người đồng tính nữ trẻ tuổi cấp tiến tiếp quản phong trào phụ nữ và khiến cô ấy xa lánh nó khỏi dân chúng nói chung.-Điều tôi kết luận từ nghiên cứu của riêng mình là mặc dù có sự chuyển đổi vai trò giới tính ở những thời điểm đầy màu sắc nhất định trong lịch sử, chẳng hạn như Luân Đôn của Shakespeare, khi các nhà thuyết giáo Thanh giáo lên án mốt mặc quần áo chéo, cuối cùng và có thể đoán trước được sự quay trở lại một chuẩn mực phân cực . Thử nghiệm giới tính, mặc dù rất hấp dẫn đối với chúng ta ngày nay, nhưng thường vẫn là một thông lệ ngoại lệ không được đa số chấp nhận trong bất kỳ xã hội nào. Cuối cùng, sự không ổn định trong vai trò giới thường là triệu chứng của những căng thẳng và lo lắng về những vấn đề lớn hơn. Nghĩa là, bản sắc giới tính chỉ trở thành trọng tâm chính khi các hình thức nhận dạng và liên kết khác—tôn giáo, quốc gia, bộ lạc, gia đình—bị phá vỡ. Hơn nữa, trong khi tình trạng ái nam ái nữ hoặc tính linh hoạt của người chuyển giới hiện được coi là tiến bộ, thì những hiện tượng như vậy đôi khi đã góp phần gây ra phản ứng ngược nghiêm trọng có thể kéo dài hàng thế kỷ. Ví dụ, sự dễ dãi của đế quốc La Mã, với tôn giáo trống rỗng, mang tính nghi thức, đã tạo ra một khoảng trống đạo đức chẳng bao lâu được lấp đầy bởi một phong trào tâm linh lớn từ phía đông Địa Trung Hải—Thiên chúa giáo, mà hai thiên niên kỷ sau vẫn còn là một sự hiện diện toàn cầu mạnh mẽ. Những người La Mã ưu tú đi nghỉ ở Pompeii hoặc Capri chắc chắn cảm thấy rằng thế giới thoải mái, theo chủ nghĩa khoái lạc của họ sẽ tiếp diễn mãi mãi.-Việc tràn ngập lý thuyết giới tính vào cuộc sống thực có thể che giấu các vấn đề đang phát triển. Ví dụ, hậu quả lâu dài của việc phá vỡ các khung mẫu sinh học khi chúng ta áp đặt lên phụ nữ trẻ một con đường sự nghiệp lấy nam giới làm trung tâm, chiếm những năm sinh nở tối ưu của phụ nữ với một chuỗi giáo dục đại học và sau đại học kéo dài là gì? Vào thời điểm những phụ nữ trẻ thành đạt nhất của chúng ta sẵn sàng kết hôn, họ có thể ở độ tuổi 30, khi việc mang thai mang nhiều rủi ro hơn và khi các đồng nghiệp nam của họ đột nhiên có nhiều lựa chọn hôn nhân với những cô gái trẻ hơn, non nớt hơn ở độ tuổi 20. Bộ phim truyền hình Sex and the City, cũng gây bất ngờ lớn trên toàn thế giới, đã kịch tính hóa hoàn cảnh khó khăn của những phụ nữ trẻ trong sự nghiệp như một sự pha trộn đáng lo ngại giữa hài kịch và bi kịch.-Tôi cho rằng việc các trường công lập cung cấp giáo dục giới tính nhưng không có hướng dẫn có hệ thống cho các cô gái vị thành niên là hoàn toàn vô trách nhiệm, những người nên suy nghĩ về cách họ muốn tổ chức cuộc sống tương lai của mình: họ có muốn có con không, và nếu có thì nên lên lịch khi nào, với ưu nhược điểm của từng phương án đưa ra. Do gánh nặng sinh học dai dẳng của việc mang thai và sinh nở, đây là những vấn đề sẽ luôn ảnh hưởng sâu sắc đến phụ nữ hơn nam giới. Lập gia đình sớm có cái giá của nó đối với một phụ nữ trẻ đầy tham vọng, một sự nghiệp gián đoạn có thể khó vượt qua. Mặt khác, phần thưởng được ở bên con cái trong những năm tháng trưởng thành của chúng, thay vì dành trải nghiệm thoáng qua và không thể thay thế đó cho các trung tâm chăm sóc ban ngày hoặc bảo mẫu, có một giá trị cảm xúc và có lẽ là giá trị tinh thần đã bị nữ quyền làn sóng thứ hai bỏ qua một cách đáng tiếc.-Ngay bây giờ ở Hoa Kỳ, các bà mẹ trẻ mặc nhiên được coi là déclassé; họ đáng thương vì đã “lãng phí” tài năng của mình. Sự dè bỉu này, thể hiện qua điệu bộ của xã hội, phải chấm dứt. Các trường cao đẳng và đại học tuyên bố ủng hộ quyền của phụ nữ phải thích ứng với sự thừa nhận nhân đạo hơn về các nhu cầu và khung mẫu sinh học. Sự hiện diện của các bà mẹ—hoặc các sinh viên đã lập gia đình nói chung—trong lớp học sẽ mang lại lợi ích to lớn trong việc đưa diễn ngôn về giới trở lại thực tế trong khuôn viên trường. Các trường nên cung cấp và thúc đẩy các chương trình học bán thời gian linh hoạt với thời gian nghỉ dài ngày cho phép phụ huynh hoàn thành bằng cấp của họ trong nhiều năm hoặc thậm chí nhiều thập kỷ.-Tương tự như vậy, hệ thống giáo dục tiểu học và trung học hiện tại của chúng ta nên được xem xét nghiêm ngặt vì việc giam cầm các cậu bé trong một môi trường giống như nhà tù, nơi làm hạn chế năng lượng của chúng và đòi hỏi tư tưởng từ bỏ các đặc điểm của nam giới(ND: những thứ bị cho rằng là "tính nam độc hại"-toxic masculinity). Vào thời điểm những người đàn ông trung lưu trẻ tuổi bước ra khỏi trường đại học ngày nay, họ đã bị mài giũa và biến thành những bản sao ngoan ngoãn. Các trường đại học ưu tú đã trở thành các quốc gia cảnh sát, nơi một đội quân gồm các trưởng khoa, phó hiệu trưởng và ủy ban khoa giám sát và xử phạt hành vi và lời nói của nam sinh viên đại học nếu vi phạm quy tắc nữ quyền của cơ sở. Việc giám sát thường xuyên cuộc sống hẹn hò của sinh viên trong các khuôn viên của Mỹ sẽ là điều không tưởng ở Châu Âu. Các nhà lý luận về giới tính trong khuôn viên trường có thể vui vẻ vẫy lá cờ chống nam giới(anti-male) của họ, khi mọi người đàn ông trong vòng mười dặm đã chạy trốn dưới lòng đất.-Tóm lại, tôi tin rằng vai trò của giới có thể uốn nắn và định khuôn linh hoạt bởi văn hóa. Tuy nhiên, tần suất mà các vai trò giới trở lại một chuẩn mực phân cực, cũng như sự giống nhau đáng kinh ngạc của các vai trò giới trong các xã hội bị ngăn cách bởi khoảng cách thời gian và không gian rộng lớn, cho thấy rằng có một điều gì đó về cơ bản bất biến trong giới dựa trên các dữ kiện chắc chắn(concrete facts). . Một nền dân chủ hiện đại, dựa trên các khái niệm về quyền tự do cá nhân, có nghĩa vụ bảo vệ tất cả các loại biểu hiện cá nhân. Nhưng phần lớn người trái đất dường như nhận thấy vai trò giới "rõ ràng"(clear gender roles) là những điểm la bàn hữu ích trong quá trình hình thành bản sắc thường mâu thuẫn. Đặt câu hỏi về giới tính luôn và sẽ vẫn là đặc quyền của các nghệ sĩ và pháp sư(shamans), những thực thể tài năng nhưng bị xa lánh(gifted but alienated being).-Sự phóng đại của thử nghiệm giới tính đôi khi đi trước sự sụp đổ văn hóa, như chúng chắc chắn đã xảy ra ở Weimar Đức. Giống như thời kỳ cuối của La Mã, nước Mỹ cũng là một đế chế bị phân tâm bởi các trò chơi và hoạt động giải trí. Bây giờ cũng như lúc đó, có những lực lượng liên kết bên ngoài biên giới, những nhóm cuồng tín rải rác nơi sự sùng bái nam tính anh hùng vẫn còn sức mạnh to lớn. Tôi xin kết thúc bằng câu hỏi này: liệu một quốc gia có nền giáo dục ưu tú ngày càng được khẳng định dựa trên sự trung hòa về giới có sẵn sàng tự bảo vệ mình trước thách thức ngày càng lớn đó không?
Cr: Nyxar