TÍNH XÃ HỘI PHI XÃ HỘI CỦA KANT Trích từ Tính độc nhất của nền văn minh phương Tây -- Ý TƯỞNG VỀ TÍNH XÃ…
Trích từ Tính độc nhất của nền văn minh phương Tây
--
Ý TƯỞNG VỀ TÍNH XÃ HỘI-PHI XÃ HỘI VÀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI
--Trong quyển sách nổi tiếng của Robert Wright, Khác-Không, Logic của định mệnh nhân loại (2000) đưa ra những kết quả nghiên cứu của các nhà tâm lý học tiến hóa, những người đã tiếp thu những phát hiện của các nhà sinh học xã hội để lập luận rằng “con người theo đuổi địa vị xã hội một cách tự nhiên với mức độ ác liệt nhất định". Tất cả chúng ta đều không ngừng cố gắng nâng cao vị thế của mình bằng cách gây ấn tượng với đồng nghiệp, thường là vô thức. Nỗ lực giành lấy uy tín này là “động lực đằng sau sự phát triển văn hóa.” Nỗ lực giành lấy uy tín này là “động lực dằng sau sự phát triển văn hóa”. Do đó Wright thách thức ý tưởng các các nhà Rousseauite-Marxist cho rằng sự phân tầng, cạnh tranh và theo đuổi địa vị cao chỉ xuất hiện với sự gia tăng của thặng dư kinh tế và quyền tư hữu đối với tài nguyên. Ông ấy cũng thách thức cái mà ông gọi là “ngụy biện cân bằng”( equilibrium fallacy), đó là tuyên bố cho rằng các xã hội thay đổi-như Harris và Sanderson lập luận-chỉ khi các lực lượng ngoại tại(external forces) buộc cư dân của nó phải thay đổi. Trong khi Wright thừa nhận những tác động rõ ràng của hoàn cảnh môi trường và áp lực nhân khẩu học đối với tốc độ thay đổi xã hội, ông tuyên bố khá thẳng thắn rằng “mũi tên của lịch sử nhân loại bắt đầu với sinh học của bản chất con người” (18–53). Cuộc đấu tranh giành địa vị trong các xã hội, chiến tranh giữa các bộ lạc và cuộc đấu tranh chống lại sự khan hiếm là đặc điểm chung của mọi xã hội. Do đó, trong khi Wright thừa nhận rằng các điều kiện địa lý giải thích tại sao nông nghiệp, chế độ tộc trưởng và nền văn minh phát sinh ở một số khu vực trước những khu vực khác, thì ông khẳng định rằng lý do cuối cùng của sự tiến hóa xã hội và sự tiến bộ “sáng tạo” của lịch sử là “tính xã hội-phi xã hội” của bản chất con người(68-77).
--Thuật ngữ “tính xã hội phi xã hội” xuất phát từ Immanuel Kant, và Wright sử dụng nó để hỗ trợ cho luận điểm của mình rằng “có một bản chất con người phổ quát” trên “mọi lục địa” trên thế giới. Wright nhấn mạnh ý nghĩa “nghịch lý” của thuật ngữ của Kant theo cách nó nói về lòng tham và tính tự phụ của con người khi chịu trách nhiệm về sự đau khổ và sự tồi tệ của sự thay đổi lịch sử cũng như sự sáng tạo của nó. Ông trích dẫn quan sát nổi tiếng của Kant trong “Ý tưởng về một lịch sử phổ quát với mục đích toàn cầu” cho rằng nếu không có “các phẩm chất phi xã hội”(asocial qualities), tức là không có ham muốn về danh dự, tài sản và địa vị, con người có lẽ sẽ sống như người Arcadian, sự tồn tại mục vụ của sự hòa hợp hoàn hảo, tự cung tự cấp và yêu thương lẫn nhau. Nhưng tất cả những tài năng của con người sẽ mãi mãi bị giấu kín trong “giấc ngủ ngàn thu”-a dormant state và con người, bản chất tốt bụng như những con cừu mà họ chăm sóc, sẽ hiếm khi làm cho sự tồn tại của họ có giá trị hơn đông vật của họ. [M]ục đích mà họ được sáng tạo ra, bản chất hợp lẽ của họ, rồi sẽ là “khoảng trống không được lấp đầy”(an unfulfilled void). Do đó, nên cảm ơn thiên nhiên vì đã nuôi dưỡng sự không tương thích về mặt xã hội, tính tự phụ ganh đua đố kỵ và những ham muốn vô độ về sở hữu hoặc thậm chí là quyền lực (27–8).
--Tôi muốn nói thêm rằng, Kant đang nói lên một ý tưởng đã có từ lâu trong kinh điển phương Tây¬31. Vài thập kỷ trước Kant, Turgot đã viết một bản phác thảo ngắn về lịch sử thế giới vào năm 1750, trong đó chỉ ra “tư lợi, tham vọng và hư vinh” là “những cơ chế” thúc đẩy sự tiến bộ. Trước Turgot, Giambattista Vico đã cân nhắc về những cách mà Thượng đế dường như đã sử dụng những đam mê hám lợi của con người trong việc tạo ra các thể chế dân sự rất cần thiết cho sự tiến bộ của đời sống văn minh.32 Chúng ta thực sự có thể đi sâu vào quá khứ phương Tây để tìm thấy các nhà tư tưởng Cơ đốc giáo như Tertullian, Eusebius và Origen đều viết về lòng tham, lòng kiêu hãnh và sự hiếu chiến của con người như những thành phần không thể tránh khỏi của quá trình cải thiện lịch sử. Với con mắt trang nghiêm, những triết gia này đã xem việc tạo ra “hòa bình vĩnh viễn” bằng bạo lực của Rome như một thực tế không thể thiếu để có thể truyền bá thông điệp Cơ đốc về “sự hợp nhất của nhân loại” (Dawson 1935).
--Sau đây, tôi sẽ lập luận rằng khái niệm “con người phi xã hội” được các triết gia phương Tây đưa ra từ kinh nghiệm lịch sử về sự trình hiện hiếm gặp của phương Tây về một khung mẫu tiến bộ giữa nhiều xung đột và xâm lăng. Về phương diện này, thuật ngữ này, kể cả khi nó được trình bày rõ ràng như một nguyên lý phổ quát, cũng không nên được coi là một nguyên lý phổ quát tách rời khỏi kinh nghiệm độc nhất của phương Tây. Tôi cũng sẽ lập luận rằng hành vi phi xã hội của nam giới quyền lực(big men) không thể được hiểu đầy đủ trong phạm vi lý thuyết của tâm lý học tiến hóa hoặc sinh học xã hội. Niềm khát khao tự khẳng định về “uy tín”, “sự tôn trọng” và “danh tiếng” chắc chắn là những đặc điểm dựa trên di truyền đã phát triển để đáp ứng với áp lực chọn lọc thích nghi trong thời gian dài. Nhưng tôi sẽ lập luận rằng việc theo đuổi uy tín cần được tham cứu như một thiên hướng(disposition) tâm lý hoặc tâm thần của con người để đạt được sự xác nhận và công nhận từ những người khác. Tôi cũng sẽ lập luận rằng thiên hướng này giả định một biểu hiện sâu sắc và vượt trội hơn trong nền văn hóa quý tộc của những người nói tiếng Ấn-Âu, những người dần dần thâm nhập vào châu Âu sau năm 4000 TCN. Lý tưởng “cao quý nhất” của các chiến binh Ấn-Âu là theo đuổi uy tín thông qua việc thực hiện các hành động anh hùng(heroic acts) với thái độ khinh miệt đầy kiêu hãnh đối với sự sống còn về mặt sinh học của bản thân.
--Điều tôi muốn nhấn mạnh tại đây là ý tưởng của phương Tây về sự tiến bộ là không tương thích với niềm tin cho rằng bản chất con người là “thiện” và cho rằng mọi sự thay đổi đều là vì điều tốt đẹp nhất trên thế gian này. Như chúng ta đã biết thông qua cuốn sách đầy khiêu khích Ngụ ngôn loài ong(1723) của Bernard Mandeville, sự ngây ngô trong phong cách ứng xử của những người sống ở vùng Arcadian(vùng đất không tưởng-utopia) không thể hòa hợp được với “sự vĩ đại trần thế” của các nền văn minh. Một xã hội loài người sống yên bình theo kiểu cách dễ dãi và thân thiện có lẽ là nơi an toàn và “hạnh phúc” nhất, nhưng cũng sẽ ù lì [không phát triển nhất]. Sự giáo huấn của nền văn minh phương Tây, nhìn từ viễn cảnh này, không đòi hỏi chúng ta từ bỏ những khía cạnh đáng trách của nó, những cũng không yêu cầu chúng ta làm ngơ những cách thức mà nền văn hóa “xung đột”(agonistic) biệt lệ này đã nuôi dưỡng lòng khoan dung tôn giáo, nhân quyền, và khoa học. Sức mạnh tạo nên sự tiến bộ trong lịch sử, như các nhà tư tưởng phương Tây từ lâu đã nhận ra, không phải là một trạng thái yên bình và tốt đẹp ban mai nào đó, mà là “những đam mê rộn ràng và nguy hiểm” của nhân loại. Đây là những đam mê(passions) mà các nhà thần học Thiên Chúa giáo tin rằng đã dẫn đến sự cáo chung cho thế giới thần thoại của Adam và Eva. Loài người thì không lý tính và tự do vào thuở hồng hoang của lịch sử. Như Hegel thích gợi lại cho độc giả của mình, [rằng] Chúa đã phê chuẩn lời tiên tri của Satan sau khi Adam ăn trái cấm: “Nhìn kìa, Adam đã trở nên giống như một vị trong chúng ta, và biết điều gì là thiện và điều gì là ác” (trong Rosen 1974: 8 ). Adam và Eva hạnh phúc trên thiên đường nhưng họ vẫn chưa hỏi lý do tại sao họ hạnh phúc, cuộc sống tốt đẹp là gì. Họ [đã từng] không phải là con người, vì họ chưa gặt hái được bất cứ điều gì, không làm việc và không kiểm soát bản năng sơ đẳng của mình. Thiên đường tồn tại dành cho loài dã thú.
--HUYỀN THOẠI VỀ THỜI KỲ VÀNG SON
--Nisbet cho rằng huyền thoại về một “Thời kỳ vàng son”(Golden Age) đã qua được đặc tả bởi sự hòa bình và hạnh phúc là không nhất quán với ý tưởng về sự tiến bộ vì huyền thoại này buộc người ta phải nhìn nhận tất cả tiến trình lịch sử kế tiếp dưới nhãn quan của sự suy tàn và thoái bộ. Do đó, trong nỗ lực đưa ra luận điểm rằng người cổ đại cũng như những người theo Thiên Chúa giáo đều đã có quan điểm về sự tiến bộ trên trái đất-chống lại tuyên bổ kinh điển của J.B. Bury(1982) cho rằng toàn bộ khái niệm về sự tiến bộ là hoàn toàn hiện đại- Nisbet đã hạ thấp niềm tin cổ xưa về thời kỳ vàng son. Ông lập luận rằng nhìn chung, người xưa coi tình trạng ban đầu của loài người là xấu xa, ngu dốt và thiếu thốn. Nisbet cố gắng chứng tỏ (một phần) rằng một số người cổ đại đã hình dung tình trạng ban đầu của con người là “tàn bạo” và “man rợ”. Ông cũng cho thấy rằng người xưa đôi khi viết về những giai đoạn lịch sử được đánh dấu bởi thời kỳ trước đó là “đơn sơ” và nghèo nàn so với những thời kỳ sau này ổn định và tiến bộ hơn về kiến thức. Tuy nhiên, tôi không bị thuyết phục rằng, đối với người Hy Lạp và La Mã, lịch sử trình diễn một khung mẫu tiến bộ có ý nghĩa dẫn đến mục tiêu tương lai dựa trên những sự kiện trong quá khứ có thể được nhìn thấy. Điều mà Nisbet cho thấy là một số người Hy Lạp đương thời có ý thức về tính ưu việt của nền văn hóa Athen của họ so với những dân tộc “man rợ” khác đang sống trong cảnh thiếu thốn nguyên thủy. Tôi đồng ý với Bury, R.G. Collingwood (1975), và Karl Löwith (1949) cho rằng quan niệm lịch sử của người Hy Lạp xét cho cùng là có tính chu kỳ và lặp đi lặp lại. Họ - Herodotus, Thucydides và Polybius - không lường trước được điều gì thực sự mới trong tương lai; họ thường cho rằng “bản chất của vạn vật là tăng trưởng và suy tàn”.
--
"Huyền thoại kể rằng đã từng có một thời vàng son, nhường chỗ lại cho sự xung đột và khó khăn, thể hiện sự nhận thức rằng các thành tựu cao quý nhất của nhân loại đều có mối liên hệ định mệnh với tình trạng loạn lạc, đau khổ và phù phiếm"
--Huyền thoại về thời kỳ vàng son khá phù hợp với ý tưởng về sự tiến bộ. Huyền thoại kể rằng đã từng có một thời vàng son, nhường chỗ lại cho sự xung đột và khó khăn, thể hiện sự nhận thức rằng các thành tựu cao quý nhất của nhân loại đều có mối liên hệ định mệnh với tình trạng loạn lạc, đau khổ và phù phiếm. Điều thú vị là trường hợp đầu tiên mà Nisbet (6-18) phát hiện ra ý tưởng về sự tiến bộ trong thời Hy Lạp lại có liên quan đến truyền thuyết về Chiếc hộp Pandora, truyền thuyết cho rằng tất cả những tệ nạn trên thế giới đều bắt nguồn từ khao khát của Pandora muốn biết được bí mật trong chiếc hộp mà cô đã bị cấm mở ra. Khi cô ấy mở chiếc hộp, như huyền thoại đã kể cho chúng ta, những con côn trùng hám lợi, tham lam, độc ác và xung đột đã bay ra. Pandora thuộc về nhóm người phàm đầu tiên trên trái đất sống trong trạng thái vô tội và hạnh phúc hoàn hảo. Đói và chết không được biết đến; các vị thần đã cấm cô mở chiếc hộp, nhưng cô từ chối tuân theo điều đó “cô phải biết bên trong chiếc hộp có gì” (Hamilton 1969: 70). Không đi sâu vào một số cách giải thích mâu thuẫn nhau về huyền thoại này, có thể nói một cách hợp lý rằng một ý nghĩa gợi ý của huyền thoại này là việc theo đuổi kiến thức cấu thành một hành động thách thức báo hiệu sự mất đi sự hồn nhiên và sự vẹn đầy của tuổi thơ. Vượt ra khỏi trạng thái yên bình vĩnh cửu(eternal tranquility) và trau dồi các năng lực của bản thân, nhất thiết phải đòi hỏi một số tính cách nhất định của con người: nổi loạn, táo bạo, chấp nhận rủi ro, hay điều mà Kant gọi là “tính xã hội phi xã hội” của bản chất con người.
Còn tiếp-Nyx
Cr: Nyxar